Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh vẽ "Bố Cục/Composition"
của Võ Công Liêm



CUỘC ĐỜI VÀ THỜI GIAN






    L à hiện tượng dung thông. Là tiếng kêu thức tỉnh của con người trước cuộc đời, là cái nhìn nội giới mà khi phóng tầm nhìn vào hiện tượng thì đó là bản thể con người. Nhưng nếu mọi thứ trong đời đều khác biệt thì ngay cái nhìn vẫn có cái chung, tuy nội dung khác nhau nhưng cái nhìn vẫn là một; đó là tương quan giữa người và vũ trụ. Sự hội ngộ khơi từ ý thức dù ý thức vô niệm nhưng là ý thức hiện hữu, một ý thức thúc đẩy đi từ vực thẳm tuyệt vọng để rồi bừng dậy bằng ý niệm ta thán để vượt thoát ra khỏi những gì bức xúc vốn đã tồn lại mà mỗi khi con người có ý thức và trách nhiệm làm người; đôi khi do từ cá thể hay do từ hoàn cảnh tạo nên. Từ cái chỗ bức xúc là một dự phóng để tâm hồn giải tỏa cuộc đời và thời gian là hai thứ tích lũy và dằn vặt cô đọng trong một tư duy phát tiết qua ngữ ngôn. Phát huy bằng lời ca tiếng hát như trao trút nỗi uất nghẹn, đặc điểm đáng kể phải nói đến là ca dao. Nó đi từ đồng ruộng đến thành thị, từ bình dân đến bác học là hình ảnh chứng thực cho một hiện hữu đối với chúng ta; thoát khỏi một quá khứ đen, một tương lai mịt mờ mà đi vào với hiện tại của sáng tạo, không những thế; thức tỉnh giữa cuộc đời chính là cái mơ trở về. Theo nhãn quang tâm lý học: mơ-về là ý thức trôi chảy của hoài vọng, một ray rứt không đạt tới ‘en suivant la pente de la rêverie’. Cho nên chi cái nhìn triết học tâm lý và cái nhìn của người nghệ sĩ hoàn toàn khác nhau, vì; ý thức thức tỉnh đối lập với ý thức thức tỉnh nghệ thuật. Thức tỉnh của người nghệ sĩ là mơ về để nhận diện cuộc đời là cả một quá trình thời gian đòi hỏi. Mà mỗi khi mơ về (rêver à / dreaming day) là buông thả để tùy thuộc cho sự quay về. Cái nhìn mơ mộng là tác động trôi chảy của tâm sinh lý, mà mơ là để biến mình vào ngôn từ trong ca dao hay thi ca:
                 Trên trời có đám mây xanh
                 Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng
                 Ước gì anh lấy được nàng
                 Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây.
   Thành thử mơ về là cái nhìn sáng tỏ, mộng thành thực nếu lấy được nàng làm vợ, cái mơ của người nghệ sĩ là lướt qua cuộc đời vì đời là chuỗi thời gian ngăn chận và chẳng bao giờ ngoảnh cổ đoái hoài; chính là cái tàn nhẫn nằm ở chỗ đó, mặc thời gian có là gì con người đứng trước cuộc đời chính là một vượt thoát để chống lại thời gian. Nhờ vào sáng tạo của ngữ ngôn con người mới nói lên được những thao thức, tiềm ẩn, là một chận đứng bằng khao khát cho tình yêu, một bằng chứng dù có tan vỡ nhưng vẫn một lòng:
                 Một mai thiếp có xa chàng
                 Đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin.
   Đấy không phải là lối thoát ức chế như khoa phân tâm học quan niệm mà Freud đã có lần phân tích; mà đó là cái đặc để của cuộc đời, đó là thái độ của người phụ nữ biết phận mình phải phụ vào thời gian. Nhưng hoàn cảnh cuộc đời cho họ nói lên cái đẹp nhận diện ‘đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin’ là yêu cầu để được trở về của ‘những ngày xưa thân ái’ mà nay đành cam. Chính sự cớ như vậy là vận mệnh: con người, cuộc đời và thời gian là những phạm trù thuộc luân lý đạo đức của hiện tượng bản thể. Đấy là cái phần nội tại thâm sâu, cái mà không nhận thức được bằng giác quan, trực giác và trực cảm. Rút cuộc chỉ để lại đó một hiện tượng thực thể giữa người và vật mà là ‘dung dịch’ hòa vào đời để đời có thêm mặn ngọt chua cay thì thời gian mới biến ra ‘tang điền’; nhưng những thứ đó dẫu có nói gì đi chăng thì chỉ là hiện tượng dung thông mà thôi, bởi; hiện tượng là phần hiện bày của bản chất sự vật ‘gạch Bát Tràng về xây’ hay ‘đôi bông thiếp trả’ là nhận thức giác quan hay từ tâm thức mà ra. Kant cho đó:’hiện tượng là tất cả cái đối tượng của thực nghiệm’ (est phénomène tout ce qui est objet d’experience possible) là những vật hiện bày trong thời gian hoặc không gian và thể hiện những mối quan hệ do phạm trù làm nên. Một sự kiện (un fait/in fact) là hiện tượng ngưng đọng mà tự nó hàm chứa tính cách cố định và bền vững tương đối, thể hiện được bản chất con người (cuộc đời) và bản chất chung cùng của vạn hữu (thời gian). Do đó; hiện hữu hay sống còn là hiện hữu qua hiện tượng để thể hiện bản chất, trở về với bản chất cố hữu. M. Heidegger không đi tìm bản chất từng vật thể dù là vật thể tự nhiên mà đi tìm cái ‘vật thể như nhiên / la choséité originaire’ một hiện thể đã tư tưởng hóa theo nhiều cách thể khác nhau mà trong cùng một hiện hữu tại thế ‘être dans le monde’. Như vậy trước cuộc đời và trước vũ trụ được đan kết bằng tiếng nói ca dao mà ca dao cũng là phạm trù của thi ca, cùng nhau hòa âm điền dã vào thời gian, bởi thời gian là vô ảnh dù có định chế cho một hạng mức tuyệt đối. Rứa thì thời gian là gì? –Là con quái vật khổng lồ vô ảnh, vô tính; nó ôm đầm ta, thị sát ta, theo dõi ta từ trong quá khứ đến hiện tại mà tương lai thì lặng thinh để rồi ta chết mà thời gian không chết, thời gian là vòng quay của hiện tại quá khứ vị lai luôn luôn hiện hữu bên ta, ta mù lòa nhưng thời gian không mù lòa là nhân chứng của cái tồn lại nhận thế, tồn lưu muôn thuở và tồn loạt, tồn lui đời đời bất tận. Thời làm sao nói hết cuộc đời? –cái nhìn của chúng ta bị giới hạn trong một hạn hữu của nó, phát sinh từ vũ trụ ngoại giới mà phải ý thức rằng đời chỉ còn lại vũ trụ tâm hồn qua cuộc đời và vũ trụ ngoại giới của ta chính là vũ khí chinh phục được vũ trụ thời gian; tất điều đó chứng minh cuộc đời tồn lập là rứa đó. Kiều tồn lại được thì đời tồn lưu được. Nguyễn Du thách đố với thời gian là ở chỗ đó; dù đắng cay mùi đời để rồi cùng nhau đi tới phán quyết cho một nhận định bi đát: thời gian làm tan biến cuộc đời, làm con người mất đi, đưa con người về với cát bụi chẳng để lại gì ngoài tiếng buồn vui. Con đường cuộc đời không phải là con đường thênh thang rộng mở, không chông gai, không giới hạn mà con đường thật của cuộc đời như F. Kafka quan niệm:’parait plus destinée à faire trébucher qu’à être parcourue’ là hiện ra như dặm trường của định mệnh để mỗi phút giây chỉ còn là tiếng âm ỉ trong tim mà thôi:
                 Một mình âm ỉ đêm chầy
                 Điã dầu vơi nước mắt đầy năm canh .(ĐTTT)
    Cái sự cớ ‘âm ỉ đêm chầy’ là một tương quan giữa Nguyễn Du và Tennessee Williams trong vở kịch ‘Orpheus Descending’ là quặn đau, là đau khổ di truyền xuống đời sau, một thể cách trốn chạy đau khổ ’fugitive kind’ là vượt ra khỏi cuộc đời nhưng thời gian thì không vượt. Williams nói: ‘đời là trắc ẩn, thương đau và đồng hành/ life is compassion and companion’ bởi; thời gian đã ngoảnh cổ ra đi /time is gone. Cho nên chi nỗi đau đó không thể xóa mờ theo thời gian. Đau khổ cuộc đời được trải dài, muốn xóa bỏ cho một định mệnh khắc khe nhưng thời gian rì kéo như xác minh cái âm ỉ phi lý tồn lại; do từ con người gây nên để rồi thương vay khóc mướn. Chính sự cớ đó nói lên thân phận làm người giữa đời này. Tuy hai phương trời viễn mộng nhưng cùng mơ-về một cái gì tươi sáng hơn để được thấy những gì làm nên. Nhưng; nhớ cho quá khứ chính là hiện tại và tương lai sẽ trở lại với hiện tại; thời gian đó vẫn chập chùng không bao giờ buông thả, song hành để đi vào vũ trụ vô cực của nó. Nghĩa là không dừng lại.
   Ngần ấy thôi cũng đủ thấy cuộc đời và thời gian luôn kết cấu với đời người; đó là tiến trình đi vào dự phóng tư tưởng của ‘cổ lai tài mệnh lưỡng tương phương’. Biện chứng luận mang tính thời gian, bởi; thời gian của số phận, thời gian 15 năm lưu đày bao gồm giữa hai giòng thời gian: thời gian ngoại tại và thời gian nội tại; khách quan của giòng đời là một đối chấp, chủ quan là giòng tâm lý, là sinh mệnh của con người như biến cố tự tại, là giòng biến chuyển thời gian, Kiều và Từ Hải là thân phận đối thể với thời gian.Valentine Xavier và Lady Torrance là thân phận đối thể với cuộc đời. Vận hành đó đã nhập cuộc với Nguyễn Du và Tennessee Williams; là mối tuơng giao giữa thời gian nội tại và thời gian ngoại tại, Cả hai thứ đó chính là cung đàn bạc mệnh, là một liên trình giữa cuộc đời và thời gian. Nguyễn tiên sinh đưa nỗi đau đứt ruột bằng một sáng tạo phi thường; một vũ trụ âm tính tuyệt vời làm sáng nên qua thể tính thi ca tràng giang đại hải. Đó là thể tính hiện sinh tương quan cùng vũ trụ giới trong một ý thức siêu hình, một thực thể chuyển dịch buộc con người phải cưu mang với số phận dưới mọi góc cạnh khác nhau trong một tuần hoàn của vũ trụ loài người. Đoạn Trường Tân Thanh đã để lại lời trăn trối cuối cùng:
                 Bắt phong trần phải phong trần
                 Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
   Từ chỗ đó cho ta thấy được tính chất thời gian, màu đó không bao giờ phai nhạt, trong một sắc diện vừa tuần hoàn vừa luân hồi là một minh định qua cuộc sống cũng như đời người, một dặm trường con người phải nhận cái ‘terre des l’homme là ‘trăm năm trong cõi người ta’. Cái nguyên lý tồn căn của trăm năm là sự gặp gỡ giữa con người và vũ trụ trong tiết điệu vần xoay, một âm vang báo động, biến chuyển để đi vào trong cuộc sống. Con người đã đi đến một nhận định bi đát về bao nhiêu biến cố của cõi người mà thời gian xã hội là môi trường sinh diệt:’trải qua một cuộc biển dâu’ đó là ‘tang điền’ là cả một bãi đời đau khổ, cả một luống đoạn trường. Xã hội đời chính là bi thảm thời gian. Một phối hợp cuộc đời và thời gian mà con người tuân theo như luật định, luật chuyển dịch để đi tới hủy diệt của ‘phong vu bỉ, sắc vu thử’ nghĩa là sự phối hợp đó đã phát sinh để con người phải dự cuộc cho một nhân sinh chua xót ’lạ gì bỉ sắc tư phong’. Chính cái đó là thói đời! Rút từ kinh nghiệm sống là một kết hợp cuộc đời (xã hội ) và biến thiên cuộc đời (thời gian) từ dự kết ban đầu con người phải chấp nhận như một thực tại, một ‘tự thể’ cần thiết lưu hoàn giữa vũ trụ giới khởi từ khi hình thành là dấu hiệu cố định và bất diệt, bởi; con người không thấy vũ trụ thời gian chuyển vần mà chỉ thấy xã hội chuyển vần. Cho nên chi con người phải biết và vận dụng vào thời gian. Chi rứa? Có chi mô; vì con người đang luân hồi trong cõi-sát-na, nói cách khác đó là tiếng-thời-gian là một tuôn chảy không dứt, cái ta thán, cái vang vọng không bao giờ dứt; đó là thể tính nhân sinh. Ngã hay vô ngã do từ con người sa vào bẫy Vô Minh của cuộc đời. Rứa cho nên cái ‘đoạn trường tân thanh’ là thái độ phản kháng vì nỗi uất. Ai uất? Cuộc đời hay thời gian. ‘đố ai quét sạch lá rừng’(?)…
   Cũng từ cái vi vu tiết điệu vần xoay mà đưa ta về hiện thực; một hiện thực phản kháng của Camus và một phản kháng khác của Nietzsche đều quy vào xã hội đày ải con người, chớ con người không một chối từ, chối từ tức duy trì cái sự phi lý làm người, là một đối thoại tuyệt vọng giữa cái thốt phản kháng và sự lặng lẽ vô biên, ù lì cõi thế. Trong ‘Mythe de Sisyphe’ ngay cả Kierkegăard và Dostoevsky đang lùng kiếm một vũ trụ có đầy đủ ý nghĩa; bởi cảm thức của Camus cho rằng cuộc đời là vô nghĩa vô vị vô lai, đúng nghĩa là khát vọng –because of his sense that the world is ‘unreasonnable’, is thirsty for meaning. Hơn là lẽ sống, cái đau khổ quằn quại đó chính là thời gian chiếm cứ. Cõi đời của Camus là dung dịch hòa tan nằm trong chuỗi thời gian của cuộc đời đang sống, nằm trong cái vốn tự tại ‘life itself’, một thể loại làm thông khí cuộc đời –a kind of aeration of life. Trong Sisyphus; tác động liên hồi, tái tục là lăn tảng đá lên đồi là hành động phản kháng chống lại thời gian. Nhưng hiện hữu của bi thảm là hình ảnh hoặc một đoạn trường thuộc siêu hình. Cho nên chi ta không lạ gì trong The Myth of Sisyphus và L’Étranger hầu như đồng dạng, đồng thể trong nỗi khắc khỏi đó. Camus cũng như Nietzsche đều mô tả thân phận của họ như một thức tỉnh phi lý của cuộc đời, vũ trụ (thời gian) biến đổi con người trở thành những con quái vật ở cõi ngoài -rất xa lạ! Thời cho ta một nhận xét cuộc đời là phi lý do từ tồn loạt, mà tâm thức thì cần phải tồn lại. Có như rứa thì cuộc đời giảm đi đau khổ để hài hòa một cuộc đời tươi đẹp hơn, nhưng hỏi thử thời gian có nhượng bộ, chấp thuận trầm mình tử sinh với Từ Hải hay trên những lầu son gác tiá để hả hê với chàng Thúc cho sướng mùi đời? Chính sự cớ đó là vấn đề. Nhưng cuộc đời đã bị thời gian nhiễm thể để kết tội tru di như Nguyễn Trãi. Rứa là đời đành tâm kết tội để thời gian tuôn chảy qua bao thế kỷ không ngừng; vì lý luận đạo đức chớ lý luận theo phương hướng nhân vị chủ nghĩa là phi lý, không giải phóng mà trở nên tàn tích. Rứa thì làm răng đây? Phi lý rồi lại tồn lưu biết đâu mà mò. Chỉ có việc hỏi thời gian, mà thời gian đâu có dừng mà hỏi, thời gian không màu cho nên dễ biến hóa, để rồi đời hứng chịu bi thương, đoạn trường, uất khí, cuối cùng rồi đi tới con đường phản kháng, toa rập vào đó để hoành hành, để tìm cái phi lý thời gian, phi lý xã hội và phi lý con người. –il faut qu’elle consentle à s’examiner pour apprendre à se conduire mà đành lòng chấp nhận xử lý, trắc nghiệm lại mình để tìm lối mơ-về. Như đã dẫn ở trên; thời gian là con khỉ mốc, nó chỉ nhại theo chớ đâu có thấy chi là sáng tạo cuộc đời. Thứ rặp khuôn là thứ tồn loạt nhân thế mà quên đi nghĩa lý cuộc đời và giá trị thời gian. Hay tại nhân gian đưa đường dẫn lối để đời đi với thời gian?
   Nhưng đứng trên cương vị của con người phản kháng là tại thời gian biến con người thành tha thể, một thứ tha nhân đứng ngoài vòng cương tỏa để chịu trận đắng cay, đau khổ, ức khí và rơi vào tuyệt vọng hố thẳm. Kẻ phản kháng cho rằng cuộc đời đã cướp những gì đã có; cái đó là tiếng nói khước từ hiện hữu chớ hiện hữu cuộc đời chính là thời gian , bởi; cái ‘nhị nguyên’ đó là ‘pour l’un et l’autre’ đều là một bản thể. Cơn dấy động là khát vọng thâm hậu giữa bãi đời lắm cảnh biển dâu. Vì vậy ; phản kháng siêu hình là đòi hỏi cái hiện thực xã hội, còn phản kháng thời gian là thỉnh nguyện một nhất trí hài hòa nhân thế thì mới có cái gọi là ‘vượt thời gian’ là ý thức cho một ý niệm miên viễn. Còn vượt-thời-gian ở đây chỉ là tiếng-thời-gian là thực thể của cuộc đời chớ thời gian thì không vượt được. Răng rứa? Dạ thưa; con người sinh ra cuộc đời chớ cuộc đời không sinh ra con người. Rứa thì ai sinh thời gian? Dạ thưa; cái đó do con người định liệu với vũ trụ tuần hoàn chớ thời gian không yêu cầu mà con người yêu cầu. Cho nên chi những gì trong đời xẩy ra là nghịch lý, phức tạp, hỗn mang, thuồng luồng, một thứ phi lý muôn đời cố hữu. Vì; đời không thấy thời gian mà thời gian thấy cuộc đời; để rồi trở nên đối kháng. Đó là tinh thần phản kháng của Nguyễn Du, Tennessee Williams, Camus, Nietzsche…là tự quyết đoán lấy vị trí của mình bởi hiện hữu siêu nhiên (thời gian) ít nhất cũng có sự mâu thuẩn tự tai (cuộc đời). Cốt tủy còn lại giữa đời và thời gian là con đường đưa tới tồn lưu nhân thế trong cái tồn lại của Chân-Như-Nhiên; ấy là làm nên sự lý để mơ-về cái chân trời tự do thật sự phóng khoáng, không nô lệ ngôn từ mà bôi xóa đời để rồi phủ nhận thời gian mà quên đi nghĩa vụ của thời gian là bảo vệ chân lý tối thượng của tồn lại, tồn lưu, tồn tụ cho cuộc đời; cho dù thời gian, cuộc đời không bao giờ gặp nhau trên một đường rầy nhưng lại dung thông ở cõi vô cực nào đó và hài hòa nhân thế giữa thời gian phiêu bồng và cuộc đời thịnh suy. Cái đó là lý lẽ mà con người phải đương đầu như một đối thể bất tận giữa trần gian. Rứa thì ta không thể nói rằng người xưa không biết tới tinh thần phản kháng cuộc đời hay phản kháng thời gian. Có chơ! nó tồn lập mà mắt thường không thấy chỉ thấy cái tồn loạt nhân gian để rồi đưa đường dẫn lối tới rừng Vô Minh. Tất cả sinh khí đó tồn tụ vào trong một thứ phản kháng siêu hình mà ra. Chắc chắn những thứ đó không bao giờ là tuyệt đối ./.

(ca.ab.yyc. Ngày đưa ông Táo. 11/2/2015)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 14.3.2015.