Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh Kiều của nữ họa sĩ Ngọc Mai (SàiGòn)





ĐỌC “KIỀU” ĐẾM CHỮ "HOA"








Các cụ xưa nói : “Làm trai biết đánh tổ tôm. Uống chè Chính Thái (một loại chè nổi tiếng thời ấy) xem nôm Thúy Kều”. Đời nay lứa tuổi trẻ ít biết đánh tổ tôm, không biết đến chè Chính Thái, và cũng có người chưa nhìn thấy bản Kiều chữ nôm như thế nào- trừ các nhà “Kiều học”. Trong “Mười lệ ngôn Đoạn trường tân thanh” cụ Kiều Mậu Oánh- hiệu Giá Sơn phó bảng khoa Canh Thìn- đã viết ở “lệ ngôn 4” : “Cụ tham tri bộ Lễ Nguyễn hầu, học vấn đã rộng, lịch duyệt lại sâu, truyện này lấy tài liệu trong nước và ngoài nước rất nhiều phải tra cứu tinh tường xuất xứ mới có thể hiểu rõ được…” “Truyện Kiều thật là một thiên “tình sử” tuyệt đỉnh nghìn xưa” (Lời của cụ Đào Nguyên Phổ - Đình nguyên, nhị giáp tiến sĩ khoa Mậu tuất) Ngày nay đọc truyện Kiều người ta còn dễ thấy một điều là Đại Thi hào Nguyến Du thường dùng rất nhiều chữ “hoa” : Khi là hoa hồng, hoa đào, vườn hoa,cánh hoa, nét hoa. Khi là người đàn bà đài các, là “tao nhân mặc khách”: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang” “Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”…nhưng cũng có khi là kẻ hầu người hạ : “ Hoa nô truyền dạy đôi lời”,“ Rằng hoa nô đủ mọi tài”. Khi lại là kiệu hoa, thuyền hoa, tờ hoa, trướng hoa, cũng có khi lại là thềm hoa, sân hoa, có khi lại là tâm trạng, là tâm sự là suy nghĩ riêng tư… chữ hoa thiên biến vạn hóa mọi chỗ mọi nơi, muôn hình muôn vẻ thật kỳ ảo…Mẹ tôi là người “ít chữ” cả cuộc đời “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” nhưng bà là người thuộc rất nhiều câu Kiều. Bà đã dùng Kiều để bói cho thân phận bà và bạn bè của bà, thì thấy linh nghiệm như thần mà xem tựa linh kinh Quỷ Cốc… Thuở thiếu thời tôi cũng thường được nghe bà hát ru trong giấc ngủ chập chờn của mình. Tôi đọc lại truyện Kiều hôm nay là để thể hiện tình cảm của mình đối với người Mẹ và những người ham thích truyện Kiều. Tôi đã tỷ mẩn ghi chép sắp xếp bố cục theo trình tự diễn biến của cuộc đời Kiều để đến với “nội hàm” của một chữ “Hoa”, cũng là để thể hiện tình cảm của cá nhân đối với Truyện Kiều kinh điển. Càng đọc càng thấy Đại thi hào Nguyễn Du dùng chữ “Hoa” thật tài tình quá . Để chữ hoa “Mềm mại, có nhạc điệu, đi vào sâu lắng” tôi đã dùng kỹ sảo trích dẫn cả câu đi kèm chứ không chỉ trích câu Kiều có chữ Hoa ( trước hoặc sau câu có chữ hoa để tăng nhạc điệu có thần thái lọn nghĩa cho vần thơ để người đọc cảm thụ được tính chất lãng mạn trong “ảo” và “thực” của chữ “Hoa” và cũng để nhận biết được chính xác hơn chữ Hoa xuất hiện ở trong môi trường nào, không gian nào, thời gian nào để hiểu thêm luật “Phong thủy” của chữ Hoa:


I - Từ câu 1 đến câu 38 :
    + Mở đầu : Tài mệnh ghét nhau ( câu 1 đến câu 6)
    + Gia thế và tài sắc hai chị em Kiều (câu 7 đến câu 38) có 2 chữ hoa :
 

- Hoa cười ngọc thốt đoan trang
 
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh .

   Cũng là hoa nhưng câu trên hoa là miệng, Hoa ở câu 2 lại nói đến sắc đẹp có một không hai về chị em Kiều

II – Từ câu 39 đến câu 568 : Tiết Thanh minh- Kiều gặp Kim Trọng:
   + Chị em Kiều đi Thanh minh, khóc mả Đạm Tiên ( câu 39 đến câu 132 ) có 4 chữ hoa:
- Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

- Sắm sanh nếp tử xe châu
Bụi hồng một nấm mặc dầu cỏ hoa

- Lại càng ủ dột nét hoa
Sầu tuôn đứt nối châu sa vắn dài

- Kiều rằng: “Những đấng tài hoa
Thác là thể phách còn là tinh anh

    + Kiều gặp Kim Trọng ( câu 133 đến câu 170) có 2 chữ hoa :

- Chàng Vương quen mặt ra chào
Hai kiều e lệ nép vào dưới hoa

- May thay giải cấu tương phùng
Gặp tuần đố lá thỏa lòng tìm hoa.

   + Kiều tương tư – Đạm Tiên báo mộng ( câu 171 đến câu 242) có 6 chữ hoa
 :

- Kiều từ trở gót trướng hoa
Mặt trời gác núi chiêng đà thu không

Người mà đến thế thì thôi
Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi

Này mười bài mới , mời ra
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời

- Thềm hoa khách đã trở hài
Nàng còn cầm lại một hai tư tình

- Hoa trôi bèo giạt đã đành
Biết duyên mình biết phận mình thế thôi!

Cớ sao trằn trọc canh khuya
Mùa hoa lê hãy dầm dề giọt mưa
 

    + Kim Trọng tưởng nhớ Kiều - Tìm đến vườn Thúy (câu 243 đến câu 286) có 1 chữ hoa 

Mấy lần của đóng then cài
Dầy thềm hoa rụng biết người ở đâu?
 

   + Nhặt được kim thoa – Kim Trọng – Thúy Kiều giao ước việc trăm năm
( câu 283 đến câu 368) có 2 chữ hoa :

- Nặng lòng xót liễu vì hoa
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa!

- Vội vàng lá rụng hoa rơi
Chàng về viện sách nàng dời lầu trang

    + Kiều sang phòng Kim Trọng – Đêm thề nguyền (câu 369 đến câu 528) có 12 chữ hoa :

- Cách hoa sẽ dắng tiếng vàng
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông

Những là đắp nhớ đổi sầu
Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm

Sinh rằng : Phác họa vừa rôi
Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa

- Anh hoa phát tiết ra ngoài
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa

Đến nhà vừa thấy tin nhà
Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về
- Tiếng sen dẽ động giấc hòe
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần

- Nàng rằng : Khoảng vắng đêm trường
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa

- Đừng điều nguyệt nọ hoa kia 
Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai

- Vội chi liếu ép hoa nài
Còn thân ắt lại đền bồi có khi

   + Kim Trọng đi Liêu-dương hộ tang chú (câu 529 đến câu 568) có 1 chữ
  hoa : 

- Cửa sài vừa ngỏ then hoa
Gia đồng vào gửi thơ nhà mới sang

III – Từ câu 569 đến câu 776 : Cơn gia biến- Mối tình Kim- Kiều tan vỡ :
   + Họ Vương mắc nạn oan ( câu 569 đến câu 598) có 1 chữ hoa:
 

- Trông chừng khói ngắt song thưa
Hoa trôi giạt thắm liễu xơ xác vàng
 

    + Kiều bán mình chuộc cha (câu 599 đến câu 692) có 5 chữ hoa :
- Nỗi mình thêm tức nỗi nhà
Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng

- Ngại ngùng giợn gió e sương
Nhìn hoa bóng thẹn trông gương mặt dày
 

-Thà rằng liều một thân con
Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây

- Mái ngoài, họ Mã vừa sang
Tờ hoa đã ký cân vàng mới trao

   + Đêm trao duyên (câu 693 đến câu 776) có 3 chữ hoa :
- Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lời thề thôi đã phụ phàng với hoa

Phận sao phận bạc như vôi
- Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
 

IV– Từ câu 777 đến câu 1526 : Kiều bán mình vào lầu xanh Tú Bà- Kiều gặp Thúc Sinh :
   + Mã Giám Sinh đến đón Kiều đến trú phường rồi đưa về Lâm Truy (câu 777 đến câu 918) có 7 chữ hoa :

- Kiệu hoa đâu đã đến ngoài
Quản huyền đâu đã giục người sinh ly

Quá chơi lại gặp hồi đen
- Quen mồi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa

Xót nàng chút phận thuyền quyên
- Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn

- Về đây nước trước bẻ hoa
Vương tôn quý khách ắt là đua nhau

Dưới trân mấy mặt làng chơi
- Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa

Đêm xuân một giấc mơ màng
- Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ

   + Kiều vào lầu xanh – Tú Bà ra oai- Kiều tự tử- Đạm Tiên báo mộng ( Từ câu 919 đến câu 1000) có 3 chữ hoa :
 

- Hương hoa hôm sớm phụng thờ
Cô nào xấu vía có thưa mối hàng

- Đổi hoa lót xuống chiếu nằm
Bướm ong bay lại ầm ầm tứ vi!

- Sợ gan nát ngọc liều hoa
Mụ còn trông mặt nàng đà quá tay

   + Tú Bà dỗ Kiều – Kiều ở lầu Ngưng-bích ( câu 1001 đến câu 1054) có 2 chữ hoa

Một người dễ có mấy thân
- Hoa xuân đương nhụy ngày xuân còn dài

Buồn trông ngọn nước mới sa
- Hoa trôi man mác biết là về đâu

   + Kiều mắc lừa Sở Khanh – Chịu tiếp khách (câu 1055 đến câu 1198) có 4 chữ hoa :

Giá đành trong nguyệt trên mây
- Hoa sao hoa khéo đọa đày bấy hoa

Hung hăng chẳng hỏi chẳng tra
Đang tay vùi liễu dập hoa tơi bời

    + Tú Bà dạy nghề cho Kiều- Tâm sự Kiều ( câu 1199 đến câu 1274) có 6 chữ hoa :

- Chơi cho liễu chán hoa chê
Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời

Khi khóe hạnh khi nét ngài
Khi ngâm ngợi nguyệt khi cười cợt hoa

Khi sao phong gấm rủ là
- Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

- Đòi phen gió tựa hoa kề
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu

Đòi phen nét về câu thơ
- Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa

Tình sâu mong trả nghĩa dày
- Hoa kia đã chắp cánh này cho chưa ?

    + Kiều gặp Thúc Sinh ( câu 1275 đến câu 1384) có 8 chữ hoa

- Hoa khôi mộ tiếng Kiều Nhi
Thiếp hồng tìm đến hương khuê gửi vào

- Trướng tô giáp mặt hoa đào
Vẻ nào chẳng mặn nét nào chẳng ưa?

- Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng!

Buồng the phải buổi thong dong
- Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa

- Thiếp như hoa đã lìa cành
Chàng như con bướm lượn vành mà chơi

Bình khang nấn ná bấy lâu
Yêu hoa yêu được một màu điểm trang

- Sá chi liếu ngõ hoa tường
Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh!

    + Thúc ông cáo quỳ cửa công (câu 1385 đến câu 1472) có 6 chữ hoa :

Cùng nhau theo gót sai nha
- Song song vào trước sân hoa lại quỳ

- Tuồng chi hoa thải hương thừa
Màu son phấn đánh lừa con đen

Cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu
Để ai trăng tủi hoa sầu vì ai?

Rằng : Nhắn có thế thì
- Trăng hoa song cũng thị phi biết điều

Nàng vâng cất bút tay đề
Tiên hoa trình trước án phê xem tường

Kịp truyền sắm sửa lễ công
Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao 

   + Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn thư (câu 1473 đến câu 1526)

V – Từ câu 1527 đến câu 2028 : Hoạn thư ghen- Kiều trốn khỏi Quan Âm các.
   + Hoạn thư ghen lập mưu bắt Kiều- Thúc Sinh về lại Lâm Truy mời thầy đánh đồng thiếp tìm Kiều ( câu 1527 đến câu 1704) có 4 chữ hoa :

- Từ nghe vườn mới thêm hoa
Miệng người đã lắm tin nhà thì không

Lửa tâm càng dập càng nồng
- Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa

Dưới hoa dậy lũ ác nhân
Ầm ầm khốc quỷ kinh thần mọc ra!

- Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân
Thân này dễ lại mấy lần gặp tiên

    + Kiều bị bắt về hầu hạ Hoạn thư (câu 1705 đến câu 1790) có 3 chữ hoa :

- Nước trôi hoa rụng đã yên
Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian!

- Hoa nô truyền dạy đổi tên
Buồng the dạy ép vào phiên thị tỳ

Đã đành túc trái tiền oan
- Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi

    + Thúc Sinh về thăm quê – Hoạn thư bầy tiệc tẩy trần- bắt Kiều hầu rượu    ( câu 1791 đến câu 1884) có 3 chữ hoa:

- Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân

- Tiểu thư vội thét : “Con Hoa …
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn!

- Rằng : “Hoa nô đủ mọi tài
Ban đàn thử dạo một bài chăng nghe?

   + Kiều ra ở Quan Âm các rồi trốn thoat ( câu 1885 đến câu 2026) có 13 chữ hoa :

- Cúi đầu quỳ trước sân hoa
Thân cung nàng mới thảo qua một tờ

Sẵn Quan âm các vườn ta
- Có cây trăm thước có hoa bốn mùa

Tàng tàng trời mới binh minh
- Hương hoa ngũ cúng sắm sanh lễ thường

- Nàng từ lánh gót vườn hoa
Dương gần rừng tía dường xa bụi hồng

Thừa cơ, sinh mới lẻn ra
- Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng


Đã cam chịu bạc với tình
Chúa xuân để tội một mình cho hoa

Mặt trông tay chẳng nỡ rời
- Hoa tì đã động tiếng người nẻo xa

Nhận ngừng nuốt tủi đứng xa
- Tiểu thư đâu đã rẽ hoa bước vào

Dối quanh sinh mới liệu lời
- Tìm hoa quá bước xem người viết kinh

Nàng càng e lệ ủ ê
- Rỉ tai hỏi lại hoa tì trước sau

- Hoa rằng : “Bà đến đã lâu…
Nhón chân đứng nép độ đâu nửa giờ

Ví chăng chắp cánh bay cao
- Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa

- Cất mình qua ngọn tường hoa
Lần đường theo bóng trăng tà về tây

VI – Từ câu 2029 đến câu 2648 : Kiều lại bị bán vào lầu xanh ở châu Thai- Kiều gặp Từ Hải
     + Kiều đến Chiêu ẩn am( từ câu 2029 đến câu 2060)
     + Kiều lại bị bán vào lầu xanh ở châu Thai (từ câu 2061đến câu 2164) có 4 chữ hoa :

Cửa thiền vừa cữ cuối xuân
- Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời

- Kiệu hoa đặt trước thềm hoa
Bên trong thấy một mụ ra vội vàng

- Chém cha cái số hoa đào
Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi

    + Kiều gặp Từ Hải (từ câu 2165 đến câu 2288) có 3 chữ hoa :

- Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau

Sẵn sạng phượng liền loan nghi
- Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng

- Vinh hoa bõ lúc phong trần
Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày

    + Báo ân báo oán (từ câu 2289 đến câu 2450) có 1 chữ hoa :

Dắt tay , mở mặt cho nhìn :
Hoa nô kia với Trạc-Tuyền cũng tôi.

    + Từ Hải đầu hàng, chết đứng, Kiều bị gán lấy thổ quan ( từ câu 2451 đến câu 2602) có 2 chữ hoa :

- Còn chi nữa cánh hoa tàn
Tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân

- Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền
Lá màn rủ thấp ngọn đèn khêu cao

    + Kiều nhẩy xuống sông Tiền-đường tự tử ( từ câu 2603 đến câu 2648) có 1 chữ hoa :

- Dưới đèn sẵn bức tiên hoa
Một thiên tuyệt bút gọi là để sau

VII – Từ câu 2649 đến câu 2738 : Kiều được Giác Duyên cứu vớt .
     + Kiều được Giác Duyên cứu vớt đưa về Thảo Lư bên sông Tiền-đường ( từ câu 2649 đến câu 2738)
VIII- Từ câu 2739 đến câu 3254 : Kim Trọng trở lại vườn Thúy- Đại đoàn viên.
     + Kim Trọng trở lại vườn Thúy, kết duyên với Thúy Vân ( từ câu 2730 đến câu 2856) có 3 chữ hoa :
 

Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

Rằng : tôi chót quá chân ra
- Để cho đến nỗi trôi hoa giạt bèo

Vội về sửa chốn vườn hoa
Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang

   + Chàng Kim – Chàng Vương thi đỗ cùng đi làm quan- làm lễ chiêu hồn Kiều bên sông Tiền-đường (từ câu 2857 đến câu 2972) có 4 chữ hoa :

Cửa trời rộng mở đường mây
- Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần

- Phòng xuân trướng rủ hoa đào
Nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng

Phải tay vợ cả phũ phàng
Bắt về Vô-Tích toan đường bẻ hoa

- Hoa trôi nước chảy suôi dòng
Xót thân chìm nổi đau lòng hợp tan

   + Một nhà đoàn tụ phúc lộc trọn vẹn ( từ câu 2973 đến câu 3240) có 16 chữ hoa :

- Rõ ràng hoa rụng hương bay
Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi

- Bấy chầy dãi nguyệt dầu hoa
Mười phần xuân có gầy ba bốn phần

- Kiệu hoa giục giã tức thì
Vương ông dạy rước cùng về một nơi

- Nàng rằng : “chút phận hoa rơi,
Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay

Một nhà về đến quan nha
- Đoàn viên vội mở tiệc hoa vui vầy

Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng
- Hoa thơm phong nhị trăng vòng tròn gương

Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
- Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa

Bấy chầy gió táp mưa sa
- Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn

Đã hay chàng nặng vì tình
- Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru !

- Hoa tàn mà lại thêm tươi
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa

Nhà vừa mở tiệc đoàn viên
- Hoa soi ngọn đuốc hồng chen bức là

Tình nhân lại gặp tình nhân
Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình

Lại như những thói người ta
- Vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa
 

Còn nhiều ân ái chan chan
- Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi

Bấy lâu đáy bể mò kim
- Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa ?

Khi chén rượu khi cuộc cờ
- Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên.
    Kết thúc :
         Tài mệnh khó dồi dào cả hai- cần có sự “Tu tâm. Tích đức” (từ câu 3241 đến câu 3254).
         Riêng tôi thì coi đây là những điều tổng kết của Đại thi hào Nguyễn Du :

          “Bắt phong trần phải phong trần
          “Cho thanh cao mới được phần thanh cao
          “Có đâu thiên vị người nào
          “Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai
          “ Có tài mà cậy chi Ti
          “Chữ tài liền với chữa tai một vần
          “Đã mang lấy nghiệp vào thân
          “Cũng đừng trách lẫn trời gân trời xa
          “Thiện căn ở tại lòng ta
          “ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài…
    Nếu không có sự nhầm lẫn trong đo đếm chữ Hoa thì tổng số chữ Hoa trong truyện Kiều là 133 chữ…


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Uông Bí ngày 11.3.2015.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN CHÍNH VIỄN TRONG VIỆT VĂN MỚI

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn