Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

GS Nguyễn Đăng Thục (1909 – 1999)





NHÀ NGHIÊN CỨU TRIẾT HỌC

                 NGUYỄN ĐĂNG THỤC                                                              







Nguyễn Đăng Thục  sinh ngày 14 tháng 6 năm 1909  trong một gia đình có truyền thống nho học và khoa bảng tại làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).

Thuở nhỏ, ông học tiểu học ở trường làng, học cấp trung học ở trường Albert Sarraut (Hà Nội). Năm 1927, Nguyễn Đăng Thục sang du học ở Pháp, Bỉ và Thụy Sĩ. Sau khi, đỗ tú tài I và II ban Triết học và Toán học tại Marseilles ở miền Nam nước Pháp, ông theo học kỹ nghệ và khoa học tại L’École Nationale des Arts (Trường Quốc gia Mỹ thuật) và Đại học Lille ở Roubais ở miền Bắc nước Pháp, rồi tốt nghiệp Kỹ sư hóa học.

Năm 1934, ông trở về nước cùng với Bùi Ngọc Ái, Vũ Đình Di. Năm sau (1935), ông cùng với hai bạn này xuất bản tờ báo L’Avenir de la Jeunesse (Tương lai của tuổi trẻ) tại Hà Nội.

Năm 1937, ông làm bỉnh bút (biên tập viên) cho tờ Le Travail (Lao Động). Ít lâu sau tờ báo này bị đình bản, ông quay về với nghề chuyên môn đã học là ngành kỹ nghệ, nhận làm kỹ sư hóa học cho Nhà máy dệt Nam Định (S.F.A.T). Trong thời gian làm việc ở đây, ông đã dành nhiều thì giờ nghiên cứu về văn hóa Á Đông và đã viết hai tác phẩm Bình giải sách Đại học và Tinh thần khoa học và đạo học. Năm 1944, ông đứng ra xuất bản tạp chí Duy Nhất tạiNam Định với chủ trương dung hòa văn hóa Đông-Tây.

Năm 1945, Nguyễn Đăng Thục thôi việc tại Nhà máy dệt Nam Định, về làng Thụy Khê gần hồ Tây (Hà Nội) mở nhà máy riêng và tham gia các hoạt động văn hóa.

Từ năm 1961 đến năm 1964, ông giữ chức Giáo sư Khoa trưởng Khoa Văn học Việt Nam tạiTrường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Trưởng tiểu ban văn hóa của tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) tại Việt Nam.

Trong khoảng năm 1964-1965, ông cùng một số trí thức, nhân sĩ ở Sài Gòn như Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, Bác sĩ Phạm Văn Ngỡi, nhà báo Cao Minh Chiếm, thi sĩ Trần Tuấn Khải, v.v...công khai ký một bản kiến nghị yêu cầu chính quyền Việt Nam Cộng hòa trực tiếp thương thuyết với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam để chấm dứt chiến tranh. Do đó ông bị chính quyền Phan Huy Quát cách chức và buộc thôi dạy ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Năm 1967, ông được Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất mời giữ chức Khoa trưởng phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn kiêm Giáo sư môn Triết học Đông phương tạiViện Đại học Vạn Hạnh cho đến năm 1975. Khi tham gia giảng dạy tại đây, năm 1973, ông được Viện Đại học Vạn Hạnh trao văn bằng Tiến sĩ danh dự nhân kỷ niệm 10 năm thành lập.

Sau năm 1975, ông nghỉ dạy vì tuổi cao sức yếu. Giáo sư Nguyễn Đăng Thục mất ngày 3 tháng 6 năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 90 tuổi.

  Tác phẩm tiêu biểu của GS. Nguyễn Đăng Thục đã xuất bản trước năm 1975: Triết lý nhân sinh Nguyễn Công Trứ (Hà Nội, 1950), Dân tộc tính (Văn hóa vụ Sài Gòn, 1956), Triết học Đông phương nhập môn (Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, lần I: 1958, lần 2: 1960), Văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á (Văn Hóa Á Châu, Sài Gòn, 1961), Lịch sử triết học Đông phương tập I (Linh Sơn, Sài Gòn, 1956. Duy Nhất in lại, Sài Gòn, 1963), Lịch sử triết học Đông phương tập II (Linh Sơn, Sài Gòn, 1956. Khai Trí in lại, Sài Gòn, 1963), Lịch sử triết học Đông phương tập III (Đông Phương, Sài Gòn, 1956), Lịch sử triết học Đông Phương tập IV (Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, lần thứ I: 1962, lần thứ 2: 1968), Lịch sử triết học Đông phương tập V (Bộ Quốc gia giáo dục Sài Gòn, 1964), Tư tưởng Việt Nam (Khai Trí, Sài Gòn, 1964), Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập I (Phủ Quốc Vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1967), Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập II (Phủ Quốc Vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1970),  Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập III, IV, V, VI, in 1973 tại Sài Gòn), Triết học Thiền của Trần Thái Tông (1970),  Khóa hư lục của Trần Thái Tông (dịch và chú thích, in 1972). Ngoài ra, ông còn một số ít tác phẩm chưa xuất bản.

Sau năm 1975, một số tác phẩm của ông đã được chọn in lại, trong đó có hai bộ sách đồ sộ là Lịch sử triết học Đông phương (trọn bộ 5 tập. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1991) vàLịch sử tư tưởng Việt Nam (trọn bộ 6 tập. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992).   

 
                                

     LỊCH  SỬ TRIẾT HỌC  ĐÔNG PHƯƠNG

  

Các triết gia phương Tây đều có chung quan điểm cho rằng mọi suy nghĩ theo truyền thống Châu Á không phải là triết học mà là tôn giáo và chủ nghĩa thần bí, vì  trong khi phương Đông miêu tả mù mờ sự vật thì phương Tây định nghĩa chính xác sự vật. Truyền thống tư duy của Ấn Độ và Trung Quốc hình thành và phát triển với chữ tư tưởng,  trong khi đó triết học  phương Tây với chữ triết học nên khác nhau về chữ, thực ra là đồng sàng. Chữ triết học là từ dịch từ tiếng Latinh Philosophie. Chính vì thế nên có hai đề tựa sách Lịch sử triết học Đông phương, nhưng Lịch. sử tư tưởng Việt Nam.  Lịch sử triết học Đông phương là "công trình đầu tiên" bằng tiếng Việt, là cái nhìn tổng thể về lịch sử tư tưởng phương Đông,  giới thiệu một cách hệ thống các trào lưu tư tưởng phương Đông khởi đầu từ Ấn Độ, Trung Hoa và các nước châu Á. Triết học phương Đông và triết học phương Tây đều có nhiều khía cạnh đa dạng. các loại hình triết học này là sự kết nối quan trọng giữa các quan điểm đạo đức và quan điểm siêu hình. Rào cản đầu tiên các triết gia vấp phải là vấn đề ngôn ngữ ,tiếp theo là vấn đề phong cách viết. Tất nhiên, vấn đề văn hóa cũng liên quan đến phong cách.  Phong cách  mang dấu ấn nền văn hóa sản sinh ra triết lý đó. Nếu bạn không hiểu được những yếu tố liên quan tới văn hóa, bạn có thể hiểu sai ý nghĩa vấn đề. Cách thức mà triết học phương Đông tiếp cận những quy tắc đạo đức hoàn toàn khác với cách thức tiếp cận ở phương Tây  (bản chất của thực tế, sự tồn tại của Thượng đế, bản chất của trí tuệ).

                                

   LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM   

  
  

Nguyễn Đăng Thục sinh trong một gia đình có truyền thống nho học và khoa bảng,  du học Pháp,  đậu bằng kỹ sư hóa học ở Pháp về Việt Nam,  vào làm việc tại Nhà máy  Tơ;  tiếp , Nhà máy dệt Nam Định,  ăn lương  tây,  vào Đảng xã hội tây,  sống đời âu hóa  khá cao.    Nhưng khi  gặp  Á-Nam-Trần-Tuấn-Khải,  thì bỗng mang một cảm gíác hụt hẫng.   Chính cái cảm gáic hụt hẫng này,  đã khiến  ông  học chữ Hán,  đọc lại cổ  thư,  và trở thành một hiền triết.    Đất Nam Định xưa kia chính là nơi xuất phát của triều đình nhà  Trần,  nên còn lưu dấu nhiều huyền thoại về triếu đình có vị vua đã trở thành một tông phái Thiền Phật giáo ở Việtnam; Thiền Yên Tử.   Nguyễn Đăng Thục vốn  có tâm hồn yêu văn chương, nghệ thuật,   thích trầm tư,  nên rất được  văn giới ở Nam Định lúc đó,   mà người đứng đầu là  thi sĩ Á-Nam-Trần-Tuấn-Khải  mến thương,  không câu nệ tuổi tác cho ngồi chung chiếu.  Từ những trang sách  của thiền sư thời nhà Trần Tuệ Trung Thượng Sĩ,   Nguyễn Đăng Thục  bắt đầu lóe trong óc : một ý nghĩ,  là phải nghiên cứu tư tưởng Việt Nam  để xem dân nước ta có đầu óc truyền thống như thế nào - mà nay lại mất nước vào tay người Pháp,   bị người Pháp đè đầu cưỡi cổ.  Nghiên cứu xong tư tưởng Việt Nam ,  ông thấy rõ,  trước khi dân tộc ta' dung hóa' các tư tưởng Ấn  độ  ( Bà la môn Phật giáo) ,  Trung quốc ( Khổng giáo ) -  để chuyển biến  thành' tam giáo đồng nguyên' ,  hầu như thích ứng và tồn tại;  dân tộc Việt đã có tư tưởng của riêng  mình : tư tưởng bánh  dày, bánh chưng,  tư tưởng Tiên rồng .  ( có từ  đời Hùng Vương,  trrước Phậtt, Lão, Khổng cả mấy ngàn năm ). Nguyễn Đăng Thục  thuộc thế hệ “đa văn hóa”, học để làm chuyên môn, nên rất ghét chính trị ,  và chỉ muốn làm văn hóa,  làm một ông thầy giảng triết,  và nghiên cứu quốc học. Giấc mộng này của ông đã đạt,  khi ông là một trong những người khai sáng ra trường Đại học Văn khoa ở miền Nam Việtnam.   Từ bức tranh tổng thể với Lịch sử triết học Đông phương  ông đi vào hiện trạng đất nước với bộ sách Lịch. sử tư tưởng Việt Nam. Vốn học ở cái nôi Ánh sáng phương Tây, nên ông trình bầy tư tưởng Việt Nam theo logic của vấn đề thành một hệ thống từ A đến Z. Ở đây, tác giả giới thiệu lịch sử tư tưởng Việt Nam kể từ khi người Việt xây dựng Nhà nước cổ đại cho đến thời kỳ văn hóa phương Tây du nhập vào nước Việt trong thế kỷ 16. Suốt chiều dài mấy ngàn năm đó, người Việt đã từng bước chắt lọc các nguồn tư tưởng ngoại lai và hòa hợp với tư tưởng bản địa để có một hệ tưởng Việt Nam tam giáo đồng  nguyên  Nho Phật Lão. Con người Nguyễn Đăng Thục cũng rất ' dân tộc ' - vai khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam,  ông đã lên tiếng phản đối và đã từng bị qui chụp là  thân Cộng.   Ông ký tên tham gia phong trào đòi hoà bình - sau được học trò  (cũ) can thiệp ,  nên ông không   bị vô tù, chỉ bị cách chức. 


 

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 10.3.2015.