Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





MỘT THỜI THƠ KHAI SÁNG







Trong Hội nghị Quảng bá Văn học Việt Nam tại thủ đô Hà Nội ngày 2 / 3 / 2015 vừa qua, với sự tham gia của 149 nhà văn đến từ 43 quốc gia và vùng lãnh thổ, đoàn nhà văn Ba Lan do nhà thơ Andrzej Grabowski làm trưởng đoàn, đã mang về “TUYỂN TẬP THƠ VIỆT NAM thời kì Thơ Mới 1932 – 1941” do nhà thơ Lâm Quang Mỹ và nhà thơ Pawel Kubiak dịch, Nhà xuất bản Bydgoszcz ấn hành, năm 2015, với Lời giới thiệu của nhà thơ Trần Nhuận Minh. Nhân dịp này, VVM đăng bài của nhà thơ Trần Nhuận Minh (*) đã được dịch và xuất bản tại Ba Lan .

(*) Giải thưởng Nhà Nước Việt Nam về Văn học Nghệ thuật (đợt 2) năm 2007


Năm 2012, ở Việt Nam, kỉ niệm 80 năm ngày Phong trào Thơ Mới ra đời. Không phải bây giờ, mà từ ngày đó, nhiều người đã nhận ra: đây thực sự là một cuộc cách mạng trong thi ca. Và điều quan trọng hơn, cuộc cách mạng thi ca đó đã thắng lợi rực rỡ, tạo ra một thời thơ khai sáng, ảnh hưởng rất tốt đẹp đến sự phát triển của thơ Việt Nam cho đến tận ngày hôm nay.


   Bạn đọc Ba Lan bây giờ khó có thể hình dung được đời sống xã hội ở Việt Nam thời thuộc Pháp những năm 20 – 30 của thế kỉ trước, khi mà cùng với chế độ đô hộ của Pháp, là hàng hóa Pháp, chữ Pháp, tư tưởng và văn chương Pháp, thậm chí cả lối sống Pháp ùa vào, sản sinh ra những thành phần mới chưa từng có: thương nhân, tư sản, tiểu tư sản và trí thức. Họ đại diện cho những lực lượng mới, đa dạng nhiều chiều, vừa phong phú, vừa phức tạp, với cái tôi – cá nhân chủ nghĩa là trung tâm, nhưng nói chung là tiến bộ. Họ đòi hỏi phải phá bỏ những cái cũ đã trói buộc đất nước này trong nhiều thế kỉ phong kiến, mà trong thi ca là lối thơ khoa cử đã cũ mòn nhập khẩu từ Trung Hoa, với những ràng buộc rất chặt chẽ về số câu, số chữ, kể cả tiết tấu và âm thanh của câu thơ, mà người ta gọi là “niêm luật”. Lối thơ ấy, dù viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm, đã tạo ra những thành tựu lớn của thi ca Việt Nam trong quá khứ, nhưng đến nay, không những không thích hợp, mà còn cản trở những ý tưởng mới, những cảm xúc mới của một lớp tác giả mới, viết bằng chữ Quốc ngữ, đang xuất hiện trong sự chờ đợi của nhiều lớp bạn đọc mới. Và người đầu tiên đưa ra trình làng một loại thơ chưa biết đặt tên là gì, nên tạm gọi là Thơ Mới, bởi nó “ không bó buộc bởi niêm luật gì hết”, nó “đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần”, lại là một người của văn chương khoa cử cũ, từng đỗ tú tài chữ Hán từ năm 19 tuổi. Đó là ông Phan Khôi (1887 – 1959) và bài thơ đầu tiên ông đưa ra làm ví dụ cho loại thơ mới ấy là Tình già, tháng 5 năm 1932. Thơ Mới đã ra đời từ đó.

   Người đầu tiên hưởng ứng bằng những bài thơ mới có sức chinh phục là Lưu Trọng Lư, rồi Nguyễn Nhược Pháp, Huy Thông, Vũ Đình Liên. Đến Thế Lữ thì Thơ Mới đã toàn thắng trên thi đàn trong cuộc tranh chấp với thơ cũ. Tất cả diễn ra rất nhanh, trong có vài ba năm, khiến nhiều người ngơ ngác, sững sờ. Đến khi xuất hiện Xuân Diệu, Huy Cận thì Thơ Mới đã phát triển đến đỉnh cao nhất. Xuân Diệu qua tập Thơ thơ (1938) được coi là mới nhất trong các nhà Thơ Mới. Tập Lưả thiêng (1940) của Huy Cận được coi là tập thơ hay nhất của phong trào Thơ Mới. Đến đó, cạnh dòng chảy lớn Xuân Diệu – Huy Cận, phía bên này là Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, những người đi đến tận cùng cái hiện đại của Tây phương, để đưa cái mới, cái khác lạ vào hồn thơ Việt. Họ càng đi càng xa, trong đó Hàn Mạc Tử ở những vần “thơ điên” của ông, dường như đã bước ra ngoài đường biên của tư duy dân tộc. Đối lập với bên này, phía bên kia là Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, cố gắng tìm đường về với thôn quê, với cội nguồn dân gian. Họ tái hiện cảnh quen, người cũ, nhưng được nhìn với con mắt mới, được viết với cảm xúc mới, trong đó nhiều câu thơ của Nguyễn Bính đã lẫn với ca dao. Tất nhiên ở cả ba dòng chảy ấy của Thơ Mới, còn có nhiều nhà thơ khác nữa, nhưng tôi chỉ kể tên những tác giả nổi tiếng nhất, có cá tính sáng tạo rõ rệt nhất.

   Và như thế, đúng như Hoài Thanh đã viết trong Thi nhân Việt Nam (1932 – 1941), “một thời đại trong thi ca” đã ra đời: “Tôi quyết rằng, trong lịch sử thi ca Việt Nam, chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần, một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.”

   Với 10 năm, Thơ Mới đã hoàn thành công việc của cả một thế kỉ.

   Bây giờ đọc lại Thơ Mới, dù có né tránh những vấn đề sôi bỏng của đất nước những năm ấy, do sự kiểm duyệt của người Pháp, người đọc vẫn nhận ra lòng yêu nước, thương nòi của nhiều tác giả, những mong ước đổi đời, hi vọng nhờ thế mà quyền sống của con người được tự do hơn, cuộc sống hằng ngày được tốt đẹp hơn. Những khát vọng cao cả đó, đôi khi thấp thoáng hiện lên qua các câu thơ, còn thường thì nó chảy ngầm ở dưới các dòng chữ như những con suối nhỏ, những mạch nước nhỏ chảy trong ruột đất. Nỗi bức bối của con hổ bị giam cầm trong cũi sắt, luôn nhớ rừng, nhớ thời oanh liệt cũ với bóng cả, cây già, bờ suối, nắng gội, ánh trăng tan… Cũng tương tự như thế là nỗi nhớ dân Hời, nước non Hời đã mất, trong oán hận, căm hờn, với điện các huy hoàng, đền đài tuyệt mĩ, với bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành, với vua Chiêm, các quan và các nàng Chiêm nữ mơ màng trong tiếng sáo của một thời… là những ví dụ. Đậm đà hơn cả là những cảnh sắc quê hương, cây đa, giếng nước, bến đò, sân đình quen thuộc, những ngày chợ phiên, những đêm hát chèo…Và hình ảnh những người lao động, cuốc cào trên ruộng trong mưa đổ bụi, hay gánh thóc bên sông trong nắng chang chang… Tất cả hiện lên dào dạt, quyến rũ, say mê… Ở một số nhà thơ, do ảnh hưởng của triết học phương Tây, đã bắt đầu đặt ra trong thơ mình, những suy tưởng về triết lí vũ trụ và nhân sinh, những vấn đề về tồn tại hay không tồn tại, với cái sống và cái chết. Nền văn chương Việt Nam từng có hơn một nghìn năm ảnh hưởng các trào lưu triết học cổ điển Trung Hoa, đây cũng là một nét mới đáng chú ý của Thơ Mới. Nó nhè nhẹ tỏa ra từ một số bài thơ, như hương của một số loài hoa lạ, hái về từ phương xa. Đặc biệt là tình yêu với rất nhiều cảnh huống khác nhau, dường như có đủ mọi tâm trạng, được thể hiện tinh tế đầy xúc cảm, rung động lòng người, với những xao xuyến rạo rực lạ thường, trước đó, trong thơ Việt Nam chưa từng có. Thơ Xuân Diệu có thể nói là tiêu biểu cho vẻ đẹp tinh thần này.

   Nếu chỉ nhìn vào thành tựu nghệ thuật thực sự nổi trội, có thể nói Thơ Mới không phải đi từng bước đến đích, mà là bay, bay rất nhanh để đến đích, trong vòng có 6 năm, tính từ Lưu Trọng Lư ( 1934) đến Huy Cận ( 1940). Cùng với Lửa thiêng của Huy Cận, Thơ say của Vũ Hoàng Chương cũng ra đời năm đó (1940). Với Thơ say, Thơ Mới đã không còn mới nữa, kể cả nội dung lẫn hình thức. Và như thế, Thơ Mới đã suy tàn ngay khi còn đang ở đỉnh cao. Sau Vũ Hoàng Chương, không có nhà thơ mới nào xuất hiện gây được tiếng vang và ngay cả những nhà thơ đã rất nổi tiếng trước đó, tác phẩm cũng bắt đầu đuối dần. Có thể coi Vũ Hoàng Chương chính là người đã kết thúc vẻ vang chặng đường phát triển rực rỡ của phong trào Thơ Mới.

   Thơ Mới thực sự là một khoảng sáng, với dòng chủ lưu là chủ nghĩa nhân văn, yêu nước, gắn bó sâu xa với truyền thống dân tộc, trong đó cảm xúc về cái Đẹp vẫn là cơ bản nhất, dạt dào nhất, sau đó mới là các phương pháp thể hiện: cấu tứ, ngôn ngữ và giọng điệu. Thơ Mới có sự hiện diện của nhiều xu hướng nghệ thuật, nhiều thi pháp, đôi khi chúng đan xen vào nhau ở cùng một tác giả, với dấu ấn sáng tạo nghệ thuật riêng biệt rất cao của từng nhà thơ. Cũng có thi pháp có nguồn gốc từ thơ cổ điển Trung Hoa hoặc từ thơ hiện đại Pháp, nhưng tất cả đã được Việt hóa. Có nhà Thơ Mới đã đi từ thơ Đường mà đến với thơ Pháp, hoặc đi từ thơ Pháp mà trở về với thơ Đường, trở về với thơ lục bát rất dân tộc của Việt Nam và làm giầu thêm cho thể loại thơ đặc sắc này. Câu thơ lộng lẫy lạ thường, kết hợp hài hòa sự uyên bác với sự giản dị. Hồn cốt Thơ Mới đậm đà phong vị Việt Nam mà vẫn hiện đại, sang trọng. Ở đây, Thơ Mới bộc lộ rất rõ, không chỉ tầm vóc văn hóa của các nhà thơ, mà còn bộc lộ cả bản lĩnh của dân tộc trong một giai đoạn lịch sử vong quốc đầy khó khăn. Điều ấy giải thích vì sao, Thơ Mới đã chinh phục rất nhanh chóng bạn đọc ngay từ khi nó vừa ra đời. Chính vì thế, mà sau này, hầu hết các nhà Thơ Mới đều đến với Cách mạng Tháng Tám ( 1945) và trở thành những nhà thơ chủ lực của thơ ca kháng chiến, đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước.

   Thơ Mới chỉ hiện hữu trong thơ Việt Nam khoảng 10 năm, thực sự phát triển trong vòng 6 năm, nhưng tinh hoa của nó đã ảnh hưởng rất tốt đẹp đến quá trình phát triển 80 năm qua của thơ Việt Nam. Có thể nhận ra rất rõ điều này trong bước phát triển chung của cả nền thơ và trong thành tựu sáng tác cụ thể của nhiều tác giả, những người từng đi qua những năm chiến tranh đến hòa bình đổi mới đất nước. Đó là một thời thơ khai sáng, đầy hào hoa, và những cống hiến tích cực của nó, cùng với những tiếp nhận bổ sung khác trên chặng đường phát triển, đã nâng thơ hiện đại Việt Nam hiện nay lên một tầm cao hơn, từng bước hội nhập với thơ đương đại thế giới.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 09.3.2015.