Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



TẾT CỦA TẢN ĐÀ





Thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sinh ngày 19.5.1889 tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, mất ngày 7.6.1939 ở số 71 Cầu Mới, Ngã Tư Sở Hà Nội, hưởng dương 51 tuổi. Một sự trùng hợp khá lạ lùng: cả ngày sinh và ngày mất đều là 20 tháng tư âm lịch.


MỐI TÌNH ĐẦU CỦA TẢN ĐÀ

Khoảng năm 1907, cậu ấm Hiếu đến sống với người anh cùng cha khác mẹ là Phó bảng Nguyễn Tái Tích ở phố Hàng Nón để theo học trường Quy Thức, phố Gia Ngư, Hà Nội. Trong thời gian này, cậu biết một cô gái tuyệt đẹp ngồi bán sách và bút mực ở phố Hàng Bồ. Đó là cô tiểu thư họ Đỗ, tên là Đỗ thịChính, biệt hiệu Ái Khanh, con gái yêu của ông phán Đỗ Thận. Cô gái có khuôn mặt trái xoan, da trắng tóc dài, nhỏ nhắn xinh tươi, yêu kiều diễm lệ, ăn nói dịu dàng lễ phép, lại biết cả chữ nho và chữ quốc ngữ nữa nên cậu Hiếu ta mê như điếu đổ. Chiều chiều, sau khi tan học, thế nào cậu cũng phải đánh một vòng qua phố Hàng Bồ để chiêm ngưỡng dung nhan người đẹp rồi ra về mới yên lòng. Hồn vía cậu như bị giai nhân “hớp” mất:
Chim trời cá nước duyên ai đó,
Vía dại hồn khôn chết dễ chơi !
Từ ngày biết Ái Khanh, đêm ngày cậu cứ ngâm mấy câu cổ thi mà cậu rất thích vì hợp với ý mình:
An đắc tỳ hưu thập vạn binh,
Hổ lang sào huyệt nhất thời bình.
Qui lai, bất sách phong hầu ấn,
Chỉ hướng quân vương mịch Ái Khanh.
Dịch thơ :
Sao được anh hùng mươi vạn binh,
Hổ lang hầm tổ dẹp tan tành.
Khi về, chẳng lấy phong hầu ấn,
Chỉ đến thềm vua xin Ái Khanh (1).

Thế đấy, đối với cổ nhân, người yêu còn quí hơn ấn phong hầu. Còn cậu ấm Hiếu thì sao? Cậu nằn nì nhờ ông anh rể rất yêu mình là cử nhân Nễ Xuyên Nguyễn Thiện Kế đến dạm hỏi cô Ái Khanh. Khi trở về, ông cho biết:”Ái Khanh cùng nghiêm phụ chỉ muốn được chồng, được rể thi đỗ cử nhân ra tri huyện mà thôi”. Thế là cậu Hiếu vùi đầu vào học, quyết đoạt cho kỳ được cái “ấn tri huyện”. Tiếc thay, khoa Nhâm Tí (1912) tại trường Nam (Nam Định), bài văn sách hỏi mẹo mà cậu ấm lại thực thà trả lời theo ý mình nên… trượt vỏ chuối! Nhưng nỗi đau ấy cũng chưa đau bằng nỗi đau này: khi cậu ấm Hiếu về đến Hà Nội, tạt qua phố Hàng Bồ để nhìn mặt ý trung nhân cho đỡ nhớ thì hỡi ôi! người tình trong mộng bấy lâu nay đang bước lên xe song mã về nhà chồng!
Sau vụ này, ấm Hiếu như điên như khùng, rời bỏ nhà trọ, từ giã Thăng Long, đi Việt Trì, Hòa Bình và cất lên những lời than thở :
Vì ai nên tớ phải lênh đênh,
Nặng lắm ai ơi một gánh tình !

* TẢN ĐÀ VỚI DIỆP VĂN KỲ

Ông Diệp Văn Kỳ (1895-1945) là Mạnh Thường Quân, hay nói khác đi, là ân nhân của Tản Đà cũng không ngoa. Khi báo An Nam tạp chí đóng cửa, Tản Đà còn nợ nần chưa trả được thì Diệp Văn Kỳ đã hào phóng tặng Tản Đà một ngàn đồng để “muốn làm gì thì làm”. Hành động của Diệp Văn Kỳ bấy giờ đã khiến làng văn làng báo Sài Gòn hết lời ca tụng và trở thành giai thoại. Theo nhà văn Tế Xuyên thì số tiền ông Diệp tặng Tản Đà không phải một ngàn đồng mà là hai ngàn đồng. Ông Diệp kể với Tế Xuyên:
- Sự gặp gỡ của chúng tôi thật tình cờ, có thể nói là do duyên trời đưa đến. Chiều hôm ấy, vào năm 1926, tôi và vài bạn làng văn đang ngồi uống rượu ở nhà hàng Continental đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi). Chúng tôi ngồi dưới mái hiên, nhìn qua bên kia đường, bỗng tôi để ý đến một người vận quốc phục khăn đen áo dài. Anh cử Tùng Lâm như liên cảm với tôi, buột miệng nói:
- Thi sĩ Tản Đà đó.
- Vốn dĩ yêu thơ Tản Đà bấy lâu nay, tôi bèn kêu anh bồi bảo chạy theo ông và mời ông đến bàn tôi nói chuyện. Bấy lâu mến thi tài của Tản Đà, nay Diệp Văn Kỳ mới thấy Tản Đà“bằng xương bằng thịt”. Hai bên chủ khách được ông Tùng Lâm giới thiệu, rồi ông Diệp mời Tản Đà một ly rượu mạnh. Ông hỏi thăm nhà thơ từ Bắc vào Nam có việc gì. Men rượu đã giúp Tản Đà mạnh dạn, ông dốc bầu tâm sự như nói với một người bạn thân :”Tôi nghỉ xuất bản An Nam tạp chí rồi mà còn nợ ông Bùi Bồ nghìn rưỡi bạc. Tôi quen ông Nguyễn Thành Út ở Vĩnh Long nên vào đây định vay tiền ông ta để trả nợ nhưng chẳng nên cơm cháo gì vì ông Út lúc này cũng túng”.
Với hảo ý nâng đỡ nhân tài, ông Diệp đề nghị tặng nhà thơ một số tiền để trang trải công nợ. Ông chỉ yêu cầu Tản Đà khi hết nợ rồi thì vào Nam viết cho tờ Đông Pháp thời báo (chỉ yêu cầu chứ không đặt thành điều kiện). Cạn xong ly thứ ba, Tản Đà cao hứng nhận lời ngay. Ông Diệp Văn Kỳ mở ví, lấy hai xấp giấy bạc trao tận tay nhà thơ một cách tự nhiên và Tản Đà cũng vui vẻ nhận tiền, không câu nệ. Hai ngàn bạc năm 1926 rất lớn, khi mà tách cà phê đen giá một xu và bữa cơm ngon lành chỉ có hai hào (0đ20).
Diệp Văn Kỳ rước Tản Đà vào Sài Gòn cũng mong báo Đông Pháp được nét bút tài hoa tô điểm cho trang văn chương với bút hiệu Tản Đà đã lừng danh từ Nam chí Bắc. Chỉ một bài thơ mỗi tuần mà ông chủ nhiệm Đông Pháp thời báo dám trả cho Tản Đà mỗi tháng một trăm đồng (bằng lương chủ quận, còn lương thư ký chỉ có 12 đồng). Vậy mà lắm khi báo sắp lên khuôn, tòa soạn vẫn chưa nhận được thơ của Tản Đà. Ông Diệp phải cho tùy phái năm lần bảy lượt đến tận nhà của thi sĩ ở Xóm Gà (Gia Định) để thúc giục. Có lần Tản Đà nổi nóng thốt ra một câu “bất hủ”:
- Ông mướn tôi vào đây để làm thơ hay để bửa củi? Nếu bửa củi thì lúc nào bửa cũng được, còn làm thơ thì phải đợi hứng, không hứng không thể viết được.
Diệp Văn Kỳ tưởng Tản Đà nói cho hả giận, nào ngờ mấy hôm sau, tiên sinh lặng lẽ trả nhà, ra Hà Nội, không một lời từ giã. Ra đến Nha Trang, tiên sinh gửi cho Bùi Thế Mỹ – một người trong tòa soạn – bài thơ bát cú :
Xóm Gà tan giấc rạng vầng ô,
Tối đến Nha Trang rượu một hồ.
Trợ bút đã xin từ bác Diệp,
Văn chương để lại cậy thầy Ngô (2).
Dám quên Đông Pháp người tri kỷ,
Còn nhớ An Nam bức địa đồ.
Hai chuyến chơi xuân Thìn với Mão,
Khi ra còn nhận những đường vô.

Được thơ, Bùi Thế Mỹ liền cầm đến cho Diệp Văn Kỳ xem, bấy giờ mọi người mới biết Tản Đà đã rời khỏi Sài Gòn từ lúc nào, nhưng cũng không ai ngạc nhiên vì tính khí thất thường của tiên sinh. Thế đấy, đi đây đi đó một thời gian, cuối cùng rồi tiên sinh cũng quay về Bắc :
Hơn mười năm bút sắt bút lông, hao giấy mực chẳng ích gì cho xã hội,
Trải ba xứ đường xe đường bể, trụi râu mày còn thẹn mãi với giang sơn.

* TẾT VỚI TẢN ĐÀ VÀ TÙNG LÂM
   
         Tùng Lâm Lê Cương Phụng (1891-1958) học giỏi, đỗ cử nhân Hán học năm 1915 khoa Ất Mão tại trường thi Thừa Thiên, nhưng rất nhiệt tình với văn chương quốc ngữ. Ông vào Nam cộng tác với Đông Pháp thời báo của Diệp Văn Kỳ. Khi Tản Đà và Ngô Tất Tố vào làm trợ bút cho Đông Pháp thời báo thì ba người cùng viết với nhau. Ngô Tất Tố kể:
        - Bấy giờ Tản Đà coi phụ trương văn chương của Đông Pháp thời báo, nhưng ông Tùng Lâm lại là người sắp đặt trang báo ấy. Một hôm, vì thiếu bài, ông Tùng Lâm phải thêm vào một bài thơ lai cảo. Khi báo ra, Tản Đà hạch Tùng Lâm về sự chuyên quyền ấy. Tùng Lâm cãi:
         - Báo cần lên khuôn mà bài thiếu, tôi không thể xuống tận Xóm Gà để hỏi bài của ông.
        Tản Đà nổi nóng mắng rằng:
        - Thiếu bài thì bỏ trắng đấy cho tôi. Không xin phép tôi mà ông cho bài thơ kia vào, thế là ông hỗn.
        Ông Tùng Lâm chỉ cười. Sau vụ này, Tùng Lâm nảy ra ý “phá Tản Đà” chơi. Nguyên trước kia, vì mến tài Tản Đà, ông Nguyễn Đức Nhuận có cho Tản Đà vay tiền để khuếch trương tờ An Nam tạp chí, nhưng Tản Đà cứ say hoài, làm ăn chẳng ra sao dẫn đến tờ tạp chí phải đình bản nên ông không cho vay nữa. Ngoài ra, Tản Đà còn nợ ông Bùi Bồ ở Hà Nội một số tiền lớn phải trốn vào Sài Gòn, vì thế mỗi lần nhận được thư nào đóng dấu Bưu điện Hà Nội là nhà thơ run rẩy, chỉ sợ thư của Bùi Bồ dọa kiện.
        Một hôm, Tản Đà say quá, không có bài để đăng, Tùng Lâm bèn nhân cơ hội, làm một bài thơ đăng vào chỗ trống, dưới ký Tản Đà:
An Nam đình bản, tớ vừa vô,
Bút lưỡi xoay vần, túi vẫn khô.
Vay nợ không mong ông Nguyễn Đức,
Tiếp thư hằng sợ bác Bùi Bồ.
Uống liều đã mấy chai Cô nhắc (Cognac),
Bồi mãi chưa xong bức địa đồ (3).
Bảy cột văn chương trông chán ngắt,
May đâu lại vớ đặng thầy Ngô.

         Bài thơ phảng phất giọng thơ Tản Đà nên lúc tỉnh rượu, thấy rõ ràng bút hiệu của mình dưới bài thơ, Tản Đà cứ ngẩn ngơ, nghĩ rằng mình đã làm trong lúc say. Sau dò biết được sự thật, Tản Đà giận Tùng Lâm, mấy tháng không thèm nhìn mặt.
        Một chiều cuối năm, xuất bản xong số báo Xuân, phát lương thầy thợ đâu đó rồi, ông Diệp Văn Kỳ tính nghỉ ngơi mấy ngày cho rảnh trí, khỏi phải lo chuyện “báo bổ”. Vậy mà ông có được yên đâu. Thi sĩ Tản Đà lù lù xuất hiện tại nhà ông đúng vào chiều ba mươi Tết. Có chuyện gì đây?
       Sau khi uống xong ly trà, Tản Đà mới nói rõ ông tới thăm chủ nhiệm để mượn tiền ăn Tết. Ông Diệp rất ngạc nhiên: một tháng lương mới lãnh, thêm một tháng lương thưởng và một tháng cho vay trả làm bốn lần, nhà thơ đã làm gì hết sạch? Chỉ để trả nợ thôi, mà cũng chẳng đâu vào đâu hết.
       Ông Diệp không muốn để người cộng sự của mình phải “khóc Tết” một lần nữa (Tản Đà từng đã có bài thơ “Khóc Tết”) nên đưa tặng thêm cho thi sĩ năm đồng bạc. Tản Đà cầm tiền đi ra nhà dây thép mua măng-đa (mandat) 3 đồng gửi ra Hà Nội giúp một bạn văn cũng nghèo xơ xác như mình. Còn 2 đồng, tiên sinh bao một cỗ xe lô-ca-xông (location) qua Bà Chiểu đón ông cử Tùng Lâm Lê Cương Phụng ra Sài Gòn ăn Tết. Trên chiếc xe “ Đờ -La- Hay” (De La Haye), hai nhà thơ nghèo ngất ngưởng nếm thú phong lưu quí phái.
       Tiền xe đã mất trọn một đồng, còn một đồng cũng đủ ăn Tết. Về đến nhà, thay quần áo xong, hai người chia nhau đi mua đồ nhậu. Tản Đà ra tiệm xách chai rượu công ty, còn Tùng Lâm lãnh phần đi kiếm con gà quay và một hũ Mai quế lộ.
       Trên đường về, gặp đám cờ bạc, ông cử họ Lê dừng lại xem. Bọn cờ gian bạc lận bỗng gây cuộc ẩu đả khiến cảnh sát phải can thiệp. Mã-tà thộp luôn ông Tùng Lâm lúc ấy đang mặc bộ đồ bà ba lem luốc trông giống tay cờ bạc với một tay hũ rượu, một tay con gà.
       Mã-tà hỏi :
       - Giấy thuế thân của chú mầy đâu?
       Thói quen của các nhà văn nhà thơ thời ấy là khi ra đường không thèm có mảnh giấy căn cước, thuế thân gì hết. Vì vậy Tùng Lâm bị điệu về bót giam một đêm. Thế là, đến giao thừa, ông ăn Tết trong bót với con gà quay và hũ Mai quế lộ.
       Sáng hôm sau là ngày mồng một Tết, ông cò ra lịnh phóng thích hết để mọi người về ăn Tết. Người lính mở cửa phòng giam thấy, bên cạnh những người bị giam đang mong ngóng được tha về ăn Tết, có một người nằm ngủ tréo khoeo với một đống xương gà và một hũ rượu đã trống rỗng. Người đó là thi sĩ Tùng Lâm. Lính kêu ông dậy, ông còn chếnh choáng hơi men, cất giọng ngâm :
Xuân qua xuân lại, mấy xuân rồi?
Thân thế sao mà vẫn thế thôi?
       Tùng Lâm phủi quần áo, rời phòng giam, ra đường. Về đến nhà, ông kể cho Tản Đà nghe câu chuyện “rủi ro vì phận sự”của mình, rồi đọc 4 câu thơ tặng bạn:
Cao hứng vì yêu bác Tản Đà,
Một chai Quế lộ, một con gà.
Suốt đêm trừ tịch nằm trong bót,
Nhớ lại buồn cười lúc tỉnh ra.
       Giao thừa năm ấy, Tản Đà ăn Tết với một chai rượu suông và một mình ngồi độc ẩm.

    * GẶP TẢN ĐÀ LẦN CHÓT

     Ngày 7.6.1939 Tản Đà đã về cõi Thiên thai. Ngày mồng 6, được tin tiên sinh mệt nặng, Khái Hưng đã đến thăm. Ông cảm động, nghẹn ngào khi thấy thi nhân nằm co quắp trên tấm ghế ngựa quang dầu buông màn sô trắng trong gian phòng trống trải, trơ trọi một cái bàn xiêu và hai cái ghế nát. Khái Hưng kể :
     - Tôi đưa tay sờ trán người ốm. Một thứ lạnh ướt làm tôi rùng mình. Tôi như có cảm giác sờ vào một cái thây ma. Nhưng tôi gượng cười bảo thi sĩ:
      - Không sao. Sắc mặt bác tươi tắn và mắt bác còn tinh thần, thế nào rồi cũng khỏi. Một nụ cười hé cặp môi nhợt nhạt của nhà thơ. Đó là lời cảm ơn lặng lẽ? Trưa hôm sau tôi đến thăm lần nữa thì Tản Đà đã mê man, sắp từ trần.
       Nguyễn Tuân kể :
     - Lúc tôi vào nhà 71 Cầu Mới, lòng tôi thắt lại. Ông Tản Đà còn hấp hối. Và đang thở hắt ra. Cứ đều đều, cứ nhẹ thế cho đến hơi thở cuối cùng. Hai môi mím khít lại, ông Tản Đà có nét mặt dăn dúm của một người chết khó khăn. Phải, chung thân làm một người bất đắc chí, sống đã chng được toại lòng, người nằm sóng sượt đây khó mà đi cho nhẹ nhõm. Tôi bắt đầu cảm thấy hơi lạnh. Ở đầu giường bệnh, vẫn cái chồng sách cũ nát trên cái ghế mọt thay làm án thư và bên chồng sách bừa bãi đây đó mấy trang bản thảo. Tập di cảo! Trời! Và lẻ loi ở góc bàn, vẫn cái hũ rượu cáp giới ngày nọ. Tất cả chỉ có thế thôi. Với một đoàn thê tử yếu và đuối (Chén rượu vĩnh biệt).


* SAU KHI TẢN ĐÀ TẠ THẾ

      Sau khi Tản Đà tạ thế, thơ, văn, câu đối viếng bằng Hán văn và quốc văn rất nhiều. Xuất sắc nhất là đôi câu đối của cụ Huỳnh Thúc Kháng:
Không sắc nhất quỳnh hoa, tiếu khứ hân nhiên, thiên thượng quần tiên đa quyến thuộc, Túy ngâm song bạch nhãn, hứng lai huy bút, nhân gian thiên thủ ngạo công hầu.
       Cụ Huỳnh tự dịch :
Không sắc một hoa quỳnh, về vuốt râu chơi, tiên bạn lắm người nên quyến thuộc,
Say ngâm hai mắt trắng, hứng thơ bút múa, giá thi mấy lớp ngạo công hầu.
      Năm 1942, thi sĩ Quách Tấn ra Hà Nội, ghé thăm gia đình Tản Đà, có thu nhặt được một ít di cảo, trong đó có mấy câu thơ dịch của Tản Đà chưa hề đăng báo :

Nguyên tác : TRỪ TỊCH (4)
               Lữ quán thùy tương vấn, 旅 館 誰 相 問
Hàn đăng độc khả thân. 寒 燈 獨 可 親
               Nhất niên tương tận dạ, 一 年 將 盡 夜
               Vạn lý vị qui nhân (5). 萬 里 未 歸 人
     Tản Đà dịch :
               Ngậm ngùi quán khách vắng tanh,
               Đèn khuya một ngọn với mình lân la.
              Giờ đây năm cũ bước qua,
              Mà người muôn dặm đường xa chưa về.
      Bài thơ chữ Hán không phiên âm cũng không ghi tên tác giả (6). Tản Đà dịch bài này trong đêm tất niên Mậu Thìn (1928) lúc viếng Đông Pháp thời báo (Quách Tấn).

(1) Tư liệu của Nguyễn Mạnh Bổng, em vợ Tản Đà.
(2) Thầy Ngô: tức Ngô Tất Tố, bấy giờ cũng theo Tản Đà vào Sài Gòn viết giúp Đông Pháp thời báo.
(3) Tản Đà có câu thơ :”Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi” trong bài “Vịnh bức dư đồ rách”.
(4) Nhan đề đầy đủ là :”Trừ tịch dạ túc Thạch Đầu dịch” nghĩa là : Đêm trừ tịch ngủ ở nhà trạm Thạch Đầu.
(5) Bài này còn 4 câu nữa mà Tản Đà không dịch :
Liêu lạc bi tiền sự, 寥 洛 悲 前 事
Chi ly tiếu thử thân. 支 篱 笑 此 身
Sầu nhan dữ suy mấn, 愁 顏 與 衰 鬢
Minh nhật hựu phùng xuân. 明 日 又 逢 春
Vũ Mộng Hùng dịch:
Nỗi tan tác còn ghê việc trước,
Thương tấm thân chếch mác gượng cười.
Mặt sầu, mái tóc tả tơi,
Bẽ bàng lại gặp ngày mai xuân về.
(6) Tác giả bài này là Đái Thúc Luân (732-789) đời Đường.

Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 15.02.2015 .