Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
thung lũng tình yêu đàlạt


DANH LAM

THẮNG CẢNH VIỆT NAM





DALAT VÀ TÂY NGUYÊN



Thiên nhiên vùng Tây Nguyên

Người ta thường đề cập đến Tây Nguyên là "vùng đất mới" theo đúng nghĩa của nó. Trong một thời gian dài, khu vực nầy chỉ có những nhóm tộc người bản địa cử trú, sống chủ yếu dựa vào thiên nhiên, sống trong trình độ tự cấp, tự túc. Người Việt (Kinh) có mặt ở Tây Nguyên, mới được chừng 200 năm lại đây, ban đầu chỉ tập trung ở vùng An Khê, Krông Pa (Pha) và các khu vực giáp ranh. Tuy nhiên, những thương nhân người Việt vào thời đó cũng đã len lỏi đến các "guôn", "làng" nhằm trao đổi hàng hoá. Một số khác thì đi ngược lên thượng nguồn các sông Thu Bồn, sông Ba để đào đãi vàng; còn binh lính trú phòng thì khai khẩn đồn điền ở chung quanh đồn lũy trú đóng của họ.
Có thể xem việc phát hiện ra tây Nguyên là bắt đầu từ đấy: dưới triều Nguyễn, lãnh thổ nầy được coi là "Miền thượng du Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận", phụ thuộc vào mặt hành chánh vào các tỉnh duyên hải cùng tên. Tầm quan trọng của vùng Tây Nguyên như là một địa bàn chiến lượcvề mặt kinh tế và quốc phòng đã được nhận thấy từ lâu. Về phương diện địa lý tự nhiên, vùng núi và cao nguyên này không chỉ bao gồm phần lãnh thổ thuộc Việt Nam, mà còn trùm lên một vùng đất đai thuộc Hạ Lào và đông bắc Kampuchia.
Trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, Tây Nguyên gồm có 4 tỉnh: Kontum, Gia Lai, Darlac và Lâm Đồng (Lâm Viên và Đồng Nai). Diện tích toàn vùng lên đến 56,119 cây số vuông; nhưng dân số tính đến đầu năm 1995 mới chỉ có gần 3 triệu người. Mật độ trung bình vì vậy là thấp nhất toàn quốc, chỉ có 53 người/km2.
Trong khu vực Darlac hồ, là một loạt các cao nguyên Đà Lạt, Di Linh và Dắc Nông nằm chống lên nhau theo kiểu bậc thang theo các độ cao tương ứng là 1,500m, 900 - 1000m. Các cao nguyên Di Linh và Đắc Nông đổ thoải dần về phía Đông Nam Phần qua cao nguyên Bảo Lộc (Blao), tạo điều kiện cho Quốc Lộ 20 nối thành phố Sài Gòn - Xuân Lộc - Đà Lạt.
Một diện tích toàn là loại đát đỏ Bazan rộng lớn, có giá trị kinh tế cao thấy có trên bể mặt của phần lớn các cao nguyên (Kin Plông, Kon Hà Nừng, Plâyky. Buôn Ma Thuột, Di Linh - Bảo Lộc và Đắc Nông). Đất đỏ Bazan phù hợp với việc trồng nhiều loại cây công nghiệp có giá trị, nhưng điều đáng chú ý là người ta còn có thể tìm thấy trong lớp vỏ phong hoá Bazan (Bazan tôlêid chứ không phải Bazan olivin kiềm) một lượng quặng nhôm quan trọng có thể làm giàu có các vùng vừa nói trên.

Cấu tạo địa chất

Lâm Đồng là một tỉnh miền núi, nhưng về thực chất gồm có các cao nguyên Đà Lạt, Di Linh và bảo Lộc, được xếp nằm chồng lên với nhau, được vây quanh bởi những ngọn núi đá Granit hay đá Dacid.
Vì vậy có ý kiến cho rằng cao nguyên Đà Lạt và Di Linh là những thung lũng cổ được cáu tạo bằng đá phiến sét, đá bôt và trầm tích phun trào. Trái với các cao nguyên khác, cao nguyên Lang Biang được cấu tạo chủ yếu bắng đá phiến Mica và đá cát kết nằm trên nền Granit của khối Kontum cổ xưa. Các đồi đá phiến và đá cát hiện vẫn còn lương sóng trên bề mặt vùng cao nguyên, sườn thoải phủ một lớp vỏ phong hoá dày màu vàng đỏ, mà lớp mùn màu đem sẫm ở trên không đủ để che lấp.
Những đỉnh núi nhô lên cao hơn đều được cấu tạo bằng các loại đá khác hẳn đó là đá Granít (như đỉnh Gió Hú, 1621m, đỉnh Yô Lu Ruet 1600m, đỉnh Bơ Nam 1712m hay đá acid (dãy Lang Biang mà đứng ở Đà Lạt người ta vẫn thấy sừng sững như một bức thành ở phía Bắc với đỉnh núi cao 2153m, cùng với núi Bi Đúp 2286m, và cac núi Yo Van Hat 1690m, núi Quan Du 1806m, núi Mu Min 1742m ở phía nam).
Những loại đá nầy mới trồi lên về sau và bị xâm thực làm lộ ra ở ngoài mặt đất. Các núi Granit và Dacid đều có dạng khối nặng nề, sường dộc lổn chổn những đá tảng tròn nhẵn, rất khác biệt với địa hình thoải cùa các đồi đá phiến có tuổi cổ xưa hơn. Toàn vùng đã trải qua một thời gian bóc mòn và xâm thực lâu dàicó đến khi vận động Anpi dội lên, sinh ra nhiều đường đứt gãy, làm cho dung nham trào ra, phủ lên một khối khu vực nhất định, làm cao nguyên bị nâng lên cao hơn.
Điều nầy thúc đẩy quá trình bóc mòn và xâm thực họat động mạnh mẽ hơn, tạo nên bề mặt san bằng như ngày nay. Tài nguyên của Lâm Đồng thấy biểu hiện trước hết ở điều kiện khí hậu, đặc biệt là cao nguyên Đà Lạt.
Do nằm ở độ cao 1,500m, khí hậu ở đây mang đặc tính của kiểu khí hậu ôn đời, tuy không thoát được nhịp điệu mùa phổ biến trong cả nước. Điều kiện khí hậu cũng đã giúp cho Dà Lạt từ lâu đã trở thành nơi trồng và cung cấp rau quả, hoa ôn đới cho thị trường, lúc đầu là thành phố Sài Gòn, nhưng về sau cho khắp nhiều đô thị cả nước.

Những hồ:

Trên bề mặt cao nguyên cũng có một số hồ như hồ Xuân hương rộng khoảng 5km2 nằm ở trung tâm thị xã Đa Làt, hồ Mê Linh, hồ Than Thở (cách thị xã khoảng 5km). Có rất nhiều ý kiến khác nhau về sự cấu tạo các hồ nầy. Một số các nhà cảnh quan học thì cho rằng: chúng được thành lập trong những đứt gãy. Nhưng số người khác lại phát biểu (ít nhất đối với hồ Xuân Hương) đấy là hồ nhân tạo, do một cái đập được xây dựng ngang sông Cam Ly (?).
Nhưng dù cho sự thiết lập trong nguồn gốc nào đi chăng nữa thì những hồ nầy cũng đã làm cho quang cảnh của cao nguyên thêm phầm duyên dáng, quyến rủ, nên thơ, với những loại cây ngô tùng, bạch tùng, thông... mọc san sát ở những con đường hai bên bờ hồ.
Khí hậu: Cao nguyên Lang Biang có khí hậu mát quanh năm nhưng vẫn có mùa mưa (kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô. Chế độ mưa ở đây đã mang tính chất Acid đạo: mưa thường xẩy ra vào buổi chiều, dưới hình thức mưa giông và có hai cự đại vào tháng 5 và tháng 10. Đôi khi cũng có mưa đá. Sương mù hay xẩy ra vào mùa mưa, các thung lũng thường bị phủ bởi một tấm áo trắng lạnh toát, còn trên bề mặt cao nguyên thì man mác một lớp mù mỏng.
Nhiệt độ biến đổi nhanh chóng trong ngày, nhưng nhiệt độ cực đại trong năm hình như chưa bao giờ vượt quá 30 độ C; nhiệt độ cực tiểu quan sát được là 4,9 độ C.
Sông suối:
Các sông suối trên vùng cao nguyên do chảy qua nhiều loại đá khác nhau cho nên lòng sông có nhiều ghềnh thác. Ngay ở 20km bắc Đà Lạt có thác Ang Kroet ở Suối vàng là một ngưỡng đá phiến đen sẫm lóng lánh vẩy mica, trên đó đã xây nhà máy thủy điện. Thác Cam Ly (2km ở phía tây Đà Lạt) với những khối đá Granit màu trắng xám hạt nhỏ; thác Đa tan La trên nền đá cát kết có xi măng Silic; thác Prenn và thác Kiên Khương trên đá Bazan màu đen huyền.
Hai thác nầy đã đổ từ trên ao xuống như những bức thành nước đồ sộ; tuy nhiên vẫn chưa bằng thác Gougah và thác Pongur. Thác Giugar trông hùng vĩ một cách lạ thường, các tia nước phản chiếu ánh sáng có nhiều màu sắc bắn lên không trung, thành những đường vòng sặc sỡ. Thác Pongur từ xa 3km đã nghe tiếng gầm thét truyền đi và có những tiếng đồng vọng trong khu rừng thẳm và khối nước khổng lồ tuy đã đổ từ bậc thang nầy xuống bậc thang khác, nhưng vẫn ào ạt náo động cho đến bậc cuối cùng của dòng chảy. Các đá phiến biến chất lại lấy xuất hiện ở đập nước Đa Nhim. Đập nầy đã cung cấp nước cho những miền đất nóng bỏng của Phan Rang và Phan Thiết, giúp cho nông nghiệp và công nghiệp nguồn năng lượng đáng kể. Các suối trong cao nguyên Liên Khàng đều nhỏ và một số đã bị cạn nước về mùa khô. Tuy nhiên, nguồn nước ngầm ở đây không sâu lắm, chỉ đào vào thước độ sâu là có mạch nước tốt.

Cư dân

Tay nguyên là vùng lãnh thổ có nhiều sắc dân cư trú, trong đó một số tộc người bản địa đang còn nằm ở giai đoạn của một xã hội mạt kỳ nguyen thủy. Điều nầy chính là một trong những điểm đặc sắc của toàn vùng Tây Nguyên, khác với các tộc người ở miền Bắc Việt Nam. Khác với miền núi và trung du Bắc Phần là nơi mà các dân tộc ít người sống đan xen với nhau, nên không có địa bàn cư trú rõ ràng, ở Tây Nguyên thì thấy hiện tượng trái ngược lại. Dân tộc Gia Lai: có địa bàn cư trú rộng nhất, bao chiếm phần lớn tây bộ tỉnh Gia Lai - Kontum (các huyện Sa Thầy, Chư Pah, Chư Prông) và lan ra về phía đông nam (về phía Chư Sê, Ayun Pa, Krông Pa) cũng như ở bắc Darlac (ở Ea Leo, bắc bộ bình nguyên Easup).
Dân tộc Gié Triêng thấy có ở Đắc Giây, người Sédang ở bắc Sa Thầy, Dakto và Kong Plông, người Bahnar ở Mang Giang và An Khê, người Ê Đê ở Darlac (một phần ở Ea Leo, Krông Buk, Chư Mdrak, Krông Pach, Krông Ana) người Mnông ở phía nam bình nguyên Êa Sup và nam Darlac. Tại tỉnh Lâm Đồng có một số dân tộc ít người sống đan xen với nhau như người Cơ Ho, người Mạ, tuy nhiên nguời Việt (Kinh) được phân bố rộng rãi hơn cả. Ở Gia Lai cũng như ở Darlac, người Kinh sống tập trung ở các thị xã, thị trấn dọc theo các đường quốc lộ từ đồng bằng lên, dọc đường 14.
Vào đầu thế kỷ XX, người Việt ở Tây Nguyên không nhiều, điều nầy có liên quan đến các chính sách của giới cầm quyền Pháp ngày đó muốn giữ Tây Nguyên thành một "bãi săn riêng" cho giới chủ đồn điền ngoại quốc và viên chức cao cấp Pháp.
Việc tổ chức đưa người Việt lên Lâm Đồng thực hiện vào năm 1938, nhằm thành lập các ấp trồng rau tươi (ấp được thành lập trước tiên là ấp Hà Đông lấy dân từ miền Bắc đưa vào; đến năm 1975 thì đã có 43 ấp trồng trỉa tương tự).
Tính chung cho cả tây Nguyên, số người chỉ mới chiếm vào khoảng 5% dân số trong toàn lãnh thổ vào thời đó.

Thực vật

Thực vật ở đây gồm có những cây rừng họ dầu ở trên những bề mặt đất cao khô hạn hơn và những đồng cỏ tươi tốt ở những vùng thấp ẩm ướt. Thực vật trên vùng cao nguyên Lang Biang chủ yếu gồm những từng ôn đới thuần nhất, rất điển hình là những quần thụ thông hai lá và thông ba lá. Đất có khả năng nộng nghiẹp tại công nguyên Lang Biang ước khoảng 200,000 mẫu tây, tập trung chủ yếu ở các cao nguyên Di Linh và Bảo Lộc, nơi có lượng mưa nhiều nhất trong toàn vùng Cao nguyên và có đất đỏ Bazan, tuy mỏng nhưng rất phì nhiêu.
Các cao nguyên nầy đã trở thành những khu vực chuyên canh chè (khoảng 13,000 mẫu tây chè và trong tương lai sẽ phát triển lên đến 22,000 mẫu tây. Dâu tằm cũng có chỗ đứng khá tốt tại Tây Nguyên. Các vùng chuyên canh chè, cà phê, dâu tằm lôi cuốn được nhiều người lên Tây Nguyên làm nghề trồng tỉa. Họ là những người định cư lâu đời hay di cư từ đồng bằng lên cũng như dân bản địa.
Những loại cây trồng kể trên cũng được phát triển trong những gia đình chuyên canh. Những cơ sổ chế biến chè, cà phê, ươm tơ, dệt lụa cũng đã được xây dựng lên khá nhiều, chủ yếu là tại Di Linh và Bảo Lộc, ven quốc lộ 20. Sự có mặt của các đồng cỏ trong những điều kiện khí hậu trong thực tế cho thấy việc chăn nuôi gia súc có sừng lấy thịt hay sữa đang được phát triển cao khi hoàn bình trở lại.
Tại Đà Lạt cũng như nhiều nơi tại cao nguyên Lang Biang có nhiều rừng cây thuộc họ Dầu (đặc biệt là cây Dầu Trà beng) là chứng tích của vùng có những khu vực có khí hậu khô hạn hơn. Các cây trồng ôn đới tìm thấy ở đây loại thích hợp khí hậu. Thật thú vị khi ở ngay miền nhiệt đới - á xích đạo - người ta có thể thấy ở dưới chợ đồng bằng bán những hoa Mimosa, Glay Ơn, dây tây, mận, đào, hồng, kể cả bắp cải, xà lách su su, Actisô, khoai tây hành tây... tất cả đều từ cao nguyên nổi tiếng nầy cung cấp.
Rừng Lang Biang còn nhiều thú lớn như voi, cọp, beo, gấm, min, bò rừng, lợn rừng, nai, mang và nhiều loài chim quý, nhiều thủ nhỏ. Vô số thú rừng ở Lâm Đồng đang bị những người ở thành phố săn lùng để xuất cảng lậu hay để phục vụ cho các "Quán thịt rừng". Hàng loạt cây cỏ lạ bị thu hút cũng để phục vụ cho thú chơi cây cảnh của họ. Những việc làm nầy đe dọa làm hao hụt hay tiêu diệt "quỹ gen" hiếm có của vùng Lâm Đồng. Gần đây sự phát hiện một số mỏ Kaolin (trữ lượng tổng cổng vào khoảng 6 triệu tấn) những vùng có quặng thiếc (trữ lượng khoảng 100,000 tấn) và quặng Boxid lacterit cho phép Lâm Đồng xây dựng được các xí nghiệp sản xuất bột Samot, gạch chịu lửa, đồ sứ vệ sinh, đồ sứ cách điện cũng như xí nghiệp luyện thép.
Giai đoạn I:
Những biệt thự đủ dáng, đủ kiểu nằm giữa những rừng thông xanh biếc, thâm u, những khu vườn có hàng hoa Mimosa vàng tươi, lấm tấm tím, những hàng liễu thướt tha, những lùm cây vừa đủ để che khuất bóng một cặp nhân tình, loáng thoáng mấy ngôi nhà khang trang, xinh xinh, cheo leo trên sườn đồi hay nằm chen theo từng cấp bậc giữa những vường hồng, đủ màu, đủ sắc, tại nên cảnh quan của một thành phố hoang đường, thơ mộng.
Những mái nhà thờ xuôi thẳng xây theo kiểu Gô-tích với tháp chuông nhọn, vươn cao lên vút, như cùng với những ngọn thông, đã gợi lên cho du khách là mình đang lạc loài vào một khung trời Tây Phương nào đó. Những căn nhà gỗ đơn sơ, thanh thoát, soi mình trên giòng suối nhỏ, hay nổi bật lên trên nền xanh rờn và vô cùng tĩnh lặng, ấm áp, vì tìm đây có thể thấy bóng dáng con người.
Tất cả những hình ảnh trên đây đã đập ngay vào mắt du khách vừa mới bước chân vào ngưỡng của của Đà Lạt mà từ xưa đến nay, bao nhiêu thi văn, giòng nhạc khi nói đến Đà Lạt là hiểu như một cảnh trí đặc biệt trời giành cho dân ở đây một cảnh sắc huyền diệu lạ thường. Đông Phương huyền bí và Tây Phương kiêu kỳ dường như cùng nhau phối tác nên thành phố nầy.
Bên cạnh những dòng người Kinh đến tụ cư nơi đây vào 100 năm bên cạnh những dân tộc ít người trong vùng như người Chil, người Lát, người Sré, mà ngày nay đã lan toả để nới rộng dần thành phố cô đơn nầy có diện tích hiện tại là 470 cây số vuông và cư dân khoảng 100,000 người (thống kê năm 1990).
Những hướng đi: Từ trung tâm Đà Lạt, du khách còn có thể tuôn về nhiều nẻo khác:
Phía bắc Đà Lạt là Suối vàng (Dankia), huyện Lạc Dương. Đứng ở Đồi Cù (trung tâm thành phố) du khách có thể thấy được ngọn núi đôi Lang Biang mơ màng từng được nói lên với nhiều câu chuyện huyền thoại, nửa tiên, nửa trần, mà quanh năm tại đây phủ toàn mây trắng xoá từ bốn phương trời hội tụ lại.
Phía Nam có quốc lộ 20 về thành phố Sài Gòn, qua ngọn đèo Prenn dài 11 cây số, nhiều thác nước, đồng thời còn những dấu ấn của các cuộc phân tranh giữa các tộc người Chil và người Chăm Pa diễn ra nhiều lần trong khoảng thế kỷ XV và kéo sang thế kỷ XVI.
Phía Tây, từ ngọn thác Cam Ly đầy thơ mộng, cò những lối đường mòn chênh vênh đi qua Ban Mê Thuột theo ngã Tà Nung, Nam Ban, rồirẽ qua đuờng 21 về phía Phú Sơn, Lạc Thiện (người Lát).
Phía Đông là Đơn Dương có đường về Phan Rang, sau khi qua đèo Ngoạn Mục (Belle Vue) dài 20 cây số; con đường đẹp và thơ mộng.
Địa danh
Địa danh "Đa Lạt" có từ bao giờ? Ai đặt ra tên thành phố nầy? Nhiều nhà nghiên cứu thường quay về tìm hiểu trong những danh từ của người Chil, người Srê, người Lát để nhận định tên nầy. Một số nhà dân tộc học lại nghĩ đến danh xưng Đà Lạt là hoàn toàn Việt Nam. Dấu ấn của Tây Phương hay sự tụ cư của người Hoa Kiều đến ở đây chỉ là hai trường hợp tụ cư của họ, để tạo thêm những nét điểm xuyết thêm cho thành phố.
Đà Lạt có gốc từ chữ "Dà Làc", phát âm theo tiếng của người dân tộc là "Đaq Lạch". "Đaq" có nghĩa là nước, dòng suối, con sông. "Lạch" là tên của một tộc người (người Lát) đã chọn các khu rừng thưa trên cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên) để cư trú từ thế kỷ XV cho đến nay. Như vậy, Đà Lạt có nghĩa là nước, là quê hương của người "Lát".
Người Pháp khi đến thiết lập cơ sở hành chánh tại vùng nầy trong giai đoạn bảo hộc nước ta cũng suy nghĩ theo chiều hướng đó. Ông Cunhac, viên công sứ đầu tiên của thành phố nầy cũng hiểu danh xưng Đà Lạt theo hướng đó. Nhà báo Baudrit khi phỏng vấn Cunhac về Đà Lạt cũng được ông ta trả lời rằng: Ở hồ nước mà dòng suối nhỏ của bộ tộc "Lát" chảy qua, người ta gọi là "Đà Lạt". Theo tiếng Thượng, "Đa" hay "Dak" nghĩa là nước".(A la place du lac Coulait, le petit ruisseau du tribu des "Lat" et qu'on appelait "Dalat" (Da ou Dak: eau en Moi). (Theo bài "Naissance de Dalat" - Revue Indochinoise - No 180 - 2/1944).
Qua những cuộc nghiên cứu địa lý và cảnh quan vùng thì trong buổi đầu, vùng Đà Lạt chỉ bao gồm những thung lũng và những ngọn đồi chung quanh dòng suối (mà nay là hồ Xuân Hương và khu chợ Hoà Bình). Người Pháp đã quan tâm đến vùng nầy qua những cuộc thám không.Đầu năm 1900, bác sĩ Tardiff đã lập đề án nên xây dựng vùng ĐàLạt để trở thành một trung tâm nghỉ mát, tuy nhiên dự án nầy chỉ quy hoạch một vùng gồm thung lũng và núi đồi với diện tích vào khoảng chừng 67 cây số.
Diện tích này chỉ được mở mang rộng thêm khi nhiều cư dân từ nhiều nơi đến để rồi có thể bao gồm một địa diện lên đến 470 câysố như hiện nay. Những người Pháp đã thử nghiệm tìm hiểu điều kiện thiên nhiên và khí hậu của vùng Cao nguyên Lâm Viên và thấy Đà Lạt hội đủ điều kiện để chấn chỉnh.
Họ dùng một câu thành ngữ La tinh: "Dat Alliis Laetitium Alliis Temperriem" Nghĩa là: Cho người nầy niềm vui, người kia sự mát lành. Lấy những ngữ đầu của từng chữ để ghép lại với nhau thì thành ra danh xưng D + A + L + A + T . Từ kiểu chơi chữ nầy, cho đến về sau đã có nhiều nghi vấn chung quanh danh từ "Đà Lạt" gây ra những ngộ nhận khi ít trong việc truy nguyên địa danh. Trong cuộc thay đổi đơn vị hành chánh toàn miền Nam vào năm 1959 dưới thời TT Ngô Đình Diệm theo sắc lệnh 143/NV ngày 22 tháng 10 năm 1956, thì một số nhà nghiên cứu lại nhân đó giải thích khác hơn: Đa = nhiều; Lạc = Niềm vui. Thành phố của nhiều niềm vui. Nhưng không ai chấp nhận kiểu giải thích nầy và điạ danh Đà Lạt vẫn tồn tại, chứ không thể hiểu theo kiểu "Đa Lạc" được. Trên đây là những cách hiểu khác nhau về địa danh Đà Lạt. Cuối cùng thì mọi người đành trả lại ý nghĩa ban đầu: Đà Lạt là giòng sông là quê hương của người Lát.

Những cuộc khám phá đầu tiên

Thật ra những cuộc nghiên cứu về Khảo cổ học vùng Đà Lạt cho đến nay vẫn còn quá sơ sài cho nên khó có được một cách nhìn thấu đáovề thời khai sinh vùng nầy. Cũng có thể nhắc đến vài di tích khai quật như các dụng cụ bằng đá mài tìm thấy được trong vùng Prenn. Với chứng liệu đó, chỉ có thể hiểu một cách mơ hồ rằng: Từ thời xa xưa (?) vùng nầy đã có người ở. Nhưng nếu có thì những người nầy có liên quan tộc người gì với người Sré, người Lát, người Chil không?
Vấn đề chưa ai tìm hiểu thêm được chứng tích gì để tìm dây liên hệ đó.Những tài liệu vào thế kỷ thứ XVII nói đến người Việt (người Kinh) đã có mặt vùng Lâm Đồng. Người ta nói đến một vùng đất có tên là Sơn Động, hay Man Động hay vùng Thuộc. Chẳng hạn như trong Ô Châu Cận Lục (Dương văn An) và Phủ Biên Tạp Lục (Lê Quý Đôn) viết về vị trí của Trấn Thuận Hoá (Huế) rồi thỉnh thoảng có bàn qua về "vùng đất miền cao" của tỉnh Bình Thuận, chia ra thành các "Thuộc". Tuy nhiên, đã không có được chi tiết về vùng đất Lâm Đồng thuộc một Thuộc hay nhiều Thuộc.
Trong Phủ Biên Tạp Lục có chép như sau: "Phủ Bình Thuận có 20 thuộc và phường. Ngày trước họ Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, thiết lập các phủ, huyện, những nơi gầrừng núi hay những nơi dọc khe, dọc biển đều đặt làm thuộc cả.." Về vấn đề tổ chức hành chánh trong giai đoạn nầy Lê Quý Đôn còn ghi thêm rằng: "Trong thời gian đó, nhà nước đã quy định rõ: nơi nào từ 500 người trở lên, được đặt một một viên cai Thuộc và một viên ký lục. Nơi nào có 450 người trở xuống thì đặt một viên ký lục “thuộc”. Nơi nào có 100 người trở xuống thì chỉ đặt chức Tướngthần, theo lệ định đối với các Châu.
Nếu không có một người Tướng thần nạp đơn, thì cho phép trong Thuộc bầu cử ra và đặt lấy người làm việc..." Tuy nhiên trong Phủ Biên Tạp Lục khi đề cập đến tình hình của các Sơn Động có bao nhiêu Ký lục, Tướng Thần, cho nên thật khó biết vùng nầy có bao nhiêu dân cư. Ngoài ra không thấy những tài liệu trong thời Hậu Lê chép gì thêm về vùng nầy.
Cho đến thế kỷ XIX, Phan Huy Chú đi ngựa từ Huế vào Nam và ra Bắc để phác thảo bản đồ trong Đại Nam Nhất Thống Chí (ấn hành năm 1834 triều vua Minh Mạng). Trên bản đồ nầy, Phan Huy Chú có vẽ mấy ngọn núi ở vùng Lâm Đồng ngày nay. Có thể đó là sự định vịvùng Lâm Đồng đầu tiên. Những tác giả cuốn địa lý nầy đã mô tả vùng "Di Linh Thổ Phủ" có những nét đặc biệt như sau: "Phía Tây có con sông Dã Dương không sâu nhưng rộng, có nhiều cá sấu..." Một số tác giả khi tìm hiểu vùng Lâm Đồng trong giai đoạn nầy đã đặt giả thuyết con sông Dã Dương đề cập ở đây là sông "Dạ Đờng", phát nguyên từ đỉnh Lang Biang đổ về sông Đồng Nai ngày nay.
Trong cuộc Nam tiến của tổ tiên ta, vùng Đà Lạt đã được sát nhập vào tỉnh Khánh Hoà, mặc dầu việc khai thác đất đai và tài nguyên vùng sơn cước nầy dưới triều nhà Nguyễn chưa được quan tâm đúng mức.

Nguyễn Thông và Sơn Quốc

Cho đến giữa thế kỷ thứ XIX, thì Nguyễn Thông đã cố thám hiểm vùng đất "Sơn quốc" và phát hiện một nơi có thể là phần đất của Lâm Đồng. Tuy nhiên không có đủ chứng liệu để quả chắc được. Nguyễn Thông (1827 - 1884) quê ở Long An, đã một thời làm quantại Huế. Nhưng khi các tỉnh đất Nam Kỳ rơi vào tay Pháp, ông đã theo nghĩa quân của Trương Công Định chống Pháp.
Cũng do yêu cầu của việc mở rộng căn cứ cho nên Nguyễn Thông đã nghĩ đến việc tìm một vùng hiểm trở tính chuyện kháng chiến lâu dài. Thành thử ônghướng về vùng Tây Nguyên. Ít có tài liệu trong vụ nầy; tuy nhiên qua thơ văn, ta thấy ông thường nhắc đến một vùng gọi là "Sơn quốc". Nguyễn Thông đã phát hiện đặc tính dân cư vùng La Ngư Thượng (mà nhiều người phỏng đoán là đất Lâm Đồng hiện nay (?) sống quây quần với nhau " Quần cư giai Chiêm Man".
Trong tờ sớ "Xin được lập đồn điền khai khẩn vùng thượng du" Nguyễn Thông có nêu lên những kết quả trong việc thám hiểm vùng "Sơn quốc", trong vùng Di Linh như sau:
Vào ngày 21 tháng 5, có người khá am hiểu về đường sá và phong tục dân Man là bọn Nguyễn Văn Trị, Sỹ Văn long, Dương Long Hợp cùng viên suất đội Hoàng Phú đi trước đến sông Dã Dương xem xét tình thế khắp vùng nầy. Ngày 22 tháng 5, bọn Nguyễn Văn Trị về tường trình lại rằng: Bọn họ thừa lệnh khởi hành trên đường đến Sách Man Mêpu thì Hoàng Phú mang bệnh trở về. Bọn họ có 3 người đi về phía bắc qua các Sách Man. Đến Sách Man Côn Hiển thì đi về phía Tây bắc qua các Sách Man. Ngày 29 tháng 5, đến sông Tô Sa thì gặp mưa, nước lũ lớn không thuyền nào có thể qua sông, bèn quay lại phía Nam. Ngày mồng 8 tháng 6, thì đến sông Dạ Đờng (Đa Dung) rộng khoảng năm sáu mươi trượng, nước đục ngầu, có đảo dài. Người Man gọi nước là "Dạ" lớn là "Đờng".
Cũng như người Việt nói "sông lớn". Sông Dạ Đờng người Việt gọi là sông Dã Dương, hạ lưu sông lớng Thần Quy. Từ Sách Man Mêpu di đến giòng sông Tô Sạ dọc đường phần nhiều là núi cao. Từ Côn Hiên đến sông Dạ Đờng, đều là đất bằng, địa thế rộng rãikhoảng khoát, có thể khám xét để lập đồn điền khẩn hoang..."
Theo nhận định của Nguyễn Thông về vùng Lâm Đồng trong giai đoạn nầy thì "không có những bãi xa truông nguy hiểm, không có đầm lớn, sông dài chia cắt. Từ xưa đến nay vùng đất nầy bờ cõi hoangvu; quả là trời đất đã dành cho chúng ta một kho tàng vô tận".
Nguyễn Thông không nói đến kho tàng đó nằm trong lãnh vực nào; tuy nhiên vua Tự Đức sau khi nghe tường trình về vùng đất nầy đã chấp nhận cho Nguyễn Thông khai thác vùng đất gọi là "Sơn Quốc". Không thấy nói những thực hiện của Nguyễn Thông hay kết quả như thế nào? Một số tài liệu thì cho rằng thực dân Pháp ở đất Nam Kỳ (vùng thuộc điạ) đã phản đối công việc nầy, buộc vua Tự Đức phải hủy bỏông trình nầy. Đó là thời điểm vào năm 1877 sau khi 6 tỉnh đất Nam Kỳ đã trở thành thuộc địa Pháp.

Giai đoạn hai

Khi người Pháp bắt đầu mở cuộc xâm lăng nước ta, vùng Đà Lạt nằm dưới quyền cai trị của một viên tù trưởng người Thượng tên là Yagut và những thành viên trong dòng họ của ông. Yagut cũng đã nổi lên chống lại chính sách xăm lăng của Pháp và trở nên một anh hùng Tây Nguyên. Để nhớ đến tinh thần nầy cho nên thị xã Đà Lạt đã lấy tên để đặt cho một con đường lớn của thành phố thơ mộng nầy.

Những cuộc thám hiểm

Thám hiểm của Gautier: Khi người Pháp mối chiếm đòng đất nam Kỳ, viên Thống đốc Le Myre de Villers đã ra lệnh cho trung úy A. Gautier đi thám sát vùng biên khu Đông bắc nam Kỳ. Năm 1881, Gautier khởi hành từ thác Trị An đi dọc theo sông Đồng Nai. Đến ngã ba sông dak Hoai và sông Đa Dung người dẫn đường không chịu đi về phía bắc và còn dẫn Gautier đi về phía đông; khi tới sông Da Glun, chi nhánh của sông Bé thì Gautier dừng lại để khảo sát vùng Bu dăng (thuộc quân Đức Phong, tỉnh Phước Long và quận Kiên Ðức, tỉnh Quảng Đức) và sắc tộc Stieng.
Thám hiểm của Pavie: Để chuẩn bị chống lại những cuộc gây rối do Xiêm gây ra từ ranh giới nước Trung Hoa xuống tớu ranh giới Kampuchia, Auguste Pavie nhận được lệnh tổ chức những cuộc thám hiểm địa thế và quân sự, đồng thời vẽ bản đồ Đông Dương.
Cuộc thám hiểm được chia ra làm nhiều nhóm và từng giai đoạn khác nhau. Riêng về vùng Tây Nguyên thì được chia ra làm 2 nhóm tiến hành trong khoảng 1890 và 1891; nhóm thứ 1 do 2 đại úy De Malgalive và Tunnelet Faber được giao trách nhiệm đi nghiên cứu vùng Sébang Biên. Nhóm thứ 2 gồm đại úy Cupet, đại úy Coghiard, trung úy Dugast và thanh tra Garnier có nhiệm vụ đi nghiên cứu vùng Kontum và Pleiky. Garnier khởi hành từ Huế; Dugast khởi hành từ Đà nẵng, Cogniard từ Quy Nhơn và Cupet từ Kratié. Điểm gặp nhau là Kontum.
Toán của Garnier và Dugast đã trải qua bao nhiêu giai đoạn hiểm nghèo mới vượt qua được vùng rừng núi dầy đặc cao nhất ở bắc Kontum. tai đây có hai bộ lạc nổi tiếng là bộ lạc Khatu trong tình trạng bán khai và bộ lạc Sédang nổi tiếng hung dữ. Những tài liệu thu thập của nhóm nầy rất giá trị về nhiều phương diện, giúp ích cho việc mở đường Quốc lộ 14 từ Kontum đi Quảng Nam vào năm1935.
Cupet rời Kratié vào 12/1890; chặng đầu tiên là Bandon; từ đây, Cupet đi lên phía bắc tiến dọc theo sông Ayun và tới Kontum. Cuộc thám sát của Cupet được coi là thành công trong việc thuyết phục được đồng bào Thượng hợp tác và trong việc ngăn chận sự chiếm dân của người Xiêm phiá Tây vùng Tây Nguyên.
Chuyện Nam tước Mayréna
Khi nói đến chương trình người Pháp tìm cách để khai thác vùng Đà Lạt, người ta thường nhắc đến một người Thụy Sĩ có quốc tịch Pháp là bác sĩ Alexandre Yersin (1863 - 1943). Tuy nhiên trước đó, vào cuối thế kỷ thứ XIX người Pháp đã tìm nhiều cách để có thể hiẻu được vùng cao nguyên Lâm Đồng kỹ càng, trong chương trình bình định và mở mang. Để thực hiện chương trình nầy chính quyền thuộc địa Pháp đã cắt cử Nam Tước Mayréna lên Cao nguyên miền Trung.
Mayréna là một tay đẹp trai, khoẻ mạnh, bắn nỏ rất hay và đánh kiếm rất giỏi; thông minh và cương quyết, ôm hoài bão lớn; có người coi ông ta là tay lưu manh, bán trời không văn tự (?). Có thể là một con người thích chuyện phản kháng.
Năm 1888, y sang Á Đông để cốt tìm vàng trong vùng Attopeu bên Lào, nhưng đã không thành công. Toàn quyền Đông Dương hồi đó là Richaud thấy y lanh lợi, bèn trao cho nhiệm vụ thụ phục đồng bào Thượng vùng đó để nước pháp thừa dịp đó sẽ nắm lấy quyền cai trị và gạt hản ảnh hưởng của nước Xiêm đang chiếm cứ môt vài vùng tại Tây Nguyên để làm thuộc địa.
Mayrena được viêm khâm sứ Quy Nhơn là Lemire giới thiệu với các vị linh mục ở Kontim; vì thế khi tới Kontum vào tháng 5 năm 1888, y được các vị nầy nhất là linh mục Guerlach hết lòng giúp đỡ cho. Y lên Dakto, trổ tài đánh kiếm, bắn tên với đồng bào Sédang và không môt ai có thể thắng được anh ta. Là một bộ lạc hiếu chiến, nhiều anh hùng tính, nay lại thấy môt người gan dạ, sử dụng binh khí tài tình, nên tộc người Sédang tại đây cảm mến, tôn y lên làm vua.
Trong giai đoạn đầu ông bí mật nghiên cứu các tộc người tại vùng Tây Nguyên. Ngay trong lúc đó, với những cố gắng và mưu lược, ông ta đã thuyết phục được bộ tộc Sédang ở vùng Kontum. Nhưng ông ta có nhiều tham vọng trong chuyến đi, cho nên lập thành một tiểu quốc Sédang, do chính ông ta lên ngai vàng, với hiệu là Marie đệ I, (3 tháng 6 năm 1888) quyết tách rời khỏi sự kiểm soát của chính quyền Pháp ở Đông Dương.
Chính quyền Pháp phản đối kịch liệt sự kiện nầy và hạ lệnh bắt cho được Mayréna. Chẳng bao lâu, liên minh Bahanr, Rơgao, Bơnôm ở trung tâm và miền đông Kontum trước kia được thành lập để chống lại người Djarai, cũng chịu thần phục. Toàn vùng ảnh hưởng nầy được lập quốc, được đặt dưới quyền một vị Tể tướng người Thượng do các bô lão cử ra tên Krui.
Vua Marie đệ I đặt ra quốc kỳ, cho in những con tem (con niêm) mà di tích được trưng bày trong môt cuộc triển lãm do Viện bảo tàng Khải Ðịnh ở Huế tổ chức đầu năm 1945. Ngai vàng và kiệu sơn son của y ngày nay vẫn còn giữ tại Kontum. Những họat động của Mayréna đã khiến cho người Xiêm tức giận, tìm cách để ngăn chận. Khi viên tù trưởng bộ lạc Kayon (bộ lạc này nằm giữa bộ lạc Halang và Kasseng) đến viếng thăm Mayréna, lúc về liền bị các viên chức người Xiêm làm khó dễ và tịch thu hết các phẩm vật do Mayréna tặng cho họ.
Nhưng Mayréna thường có nhiều ảo tưởng kỳ lạ, tưởng là mình có quyền buôn bán đất đai của Vương quốc, cho nên định nhường lại cho một nhóm người Đức. Khi về Âu Châu y sống một cuộc đời vương giả và khi thiếu tiền, y lường gạt những người chất phát gạ bán họ huy chương, phẩm tước, công điền công thổ ở Kontum.
Năm 1889, khi Mayréna ở Bỉ sang, giữa đường thì được tin chánh quyền Động Dương cấm nội nhập và đang bị truy nã. Y bèn lẫn trốn trên môt hòn đảo nhỏ có tên là đảo Poulo Tioman (?) và mấy tháng sau lâm bệnh nặng và chết tại đó. Viêm Khâm sứ Pháp Reinhart ở Huế bèn cử viên Công sứ Quy Nhơn lên Kontum thu xếp mọi việc chung quanh vụ Mayréna.
Tháng 3 năm 1889, tại Kon Trang, các vị tù trưởng chấp thuân cho viên Công sứ lên thay quyền cai quản của Mayréna, còn Krui thì vẫn đứng đầu liên minh như trước. Năm 1893,Vương quốc nầy bị Pháp giải tán.
Bác sĩ Yersin
Bác sĩ Yersin làm y sĩ cho hãng Messagie Maritime và được cử sang vùng Viễn Đông trên tài "Sài Gòn", chạy trên đường Sài Gòn - Hải Phòng.
Tháng 7 năm 1890 trong môt chuyến tàu cặp bến tại Nha Trang, Yersin dự trù môt chuyến đi thám sát bằng đường bộ từ Nha Trang lên Cao Nguyên, rồi từ Cao Nguyên về Sài Gòn. Không tìm ra được người dẫn đường, ở Nha Trang, ông đi bộ vào Phan Rí, rồi từ đó được dẫn lên vùng Di Linh (Djiring). Lúc đó vào mùa mưa, việc di chuyển rất khó khăn và mất nhiều thì giờ, nên Yersin bỏ ý định đi bộ về hướng Sài Gòn, quay trở lại đi bộ xuống Phan Thiết, đi thuyền ra Nha Trang để đón tàu của mình đi Hải Phòng.
Tháng 4 năm 1892, bác sĩ Yersin lại tổ chức môt chuyến thám sát từ Nha Trang đi Stung Treng ở Kampuchia. Chuyến đi nầy được chuẩn bị khác chu đáo, cho nên đo ạn đầu từ Nha Trang, Ninh Hoà, M'drao, M'Siao tương đối dễ dàng. Nhưng từ M' Siao (cách Ban Mê Thuột 35km về phía đông) ông gặp rất nhiều trở ngại khi đi về phía tây, nên phải vòng xuống phía Nam, đị dọc theo sông Boung, sông Krong Ana, rồi đi ngược lên theo sông Krong để đến Bandon.
Tại đây, bácsĩ làm quen với tù trưởng Khoun Ieu Moup (Kun YOu Non) và được dẫn đi dọc theo Srépock bằng voi đến Long Path; từ Long Path ông đi bằng xe bò và bằng thuyền đến Stung Treng. Cuộc thám sát kéo dài trong ba tháng nhưng chặng đường từ Bandon đến Stung Trengchỉ trong 12 ngày. Sang tháng 3 năm 1893, Yersin lại mở một cuộc thám sát thứ 3 từ Nha Trang lên Tây Nguyên.
Ngày 21 tháng 6 năm 1893 ông tới cao nguyên Lang Biang và vô cùng ngạc nhiên khi thấy môt vùng trống trải, không khí trong lành, phong cảnh hùng vĩ. Ông ở lại đây chừng môt tháng để nghiên cứu toàn vùng: dankia, Ankroet, Arbre Broyé, Bosquet, Dran. Thiên nhiên, khí hậu đã hấp dẫn nhà bác học nầy ngay từ bước đầu. Trong thiên Hồi Ký đăng trên tạp chí Revue Indochinoise (1942) ông có thuât lại giây phút đó như sau:
"Cảm tưởng của tôi khi đó thật sống động, từ rừng thông ra tôi đặt chân lên bờ cao nguyên rộng lớn, trơ trụi và mấp mô, chế ngự bởi ba đỉnh núi Lang Biang. Những đường gợn sóng của núi nầy khiến tôi nhớ lại mặt biển bị dày vò do một đợt sóng vĩ đại, như ngưòi ta thường thấy ở duyên hải An Nam, tiếp theo một trận bão lớn.
Sự mát lành của khí trời đã làm cho tôi quên đi sự mệt nhọc và tôi nhớ lại nỗi vui mừng mà tôi đã cảm thấy khi chạy hết tốc lực lên xuống những ngọn đồi y như một cậu học sinh trẻ Trung Học..."
Bác sĩ Yersin đã nói đến nhiều địa danh mà nay vẫn còn lưu lại. Ông viết trong một đoạn khác như sau:
"Tôi đã đi qua suốt bề ngang của cao nguyên, để đến làng Thượng Dankia; may mắn biết chừng nào, ở ngay bên kia bờ sông lớn, sông Dạ Đờng, ngay dười chân rặng Lang Biang làm nổi bật cao nguyên, với độ cao 2,100 mét".
Trong bước đầu của cuộc thám hiểm bác sĩ A. Yersin đã lên vùng Tây Nguyên bằng con đường nào? Qua những chi tiết ghi trong thiênHồi Ký cho thấy: hai đường mà bác sĩ Yersin đi là từ miền Nam ra, dọc theo sông Đồng Nai và con đường từ Phan Rang lên. Cả hai đều hiểm trở như nhau.
Trong một bài viết khác chung qua cuộc thám hiểm của bác sĩ Yersin linh mục Cassaigne cho biết: bác sĩ Yersin đã lên cao nguyên bằng con đường Phan Rang và nhờ linh mục Robert dẫn đường.
Tuy nhiên, trong tài liệu khác của Henri H. Mollaret và Jacqueline Brossolet thì điều nầy không đúng và bác sĩ Yersin đã nhờ đến haingười dân thiểu số hướng dẫn. Trong một tài liệu của Quách Tấn về vấn đề nầy có đọan viết như sau: Tháng 2 năm 1893, bác sĩ được Chánh phủ Pháp giao phó việc khảo sát vùng sơn lâm phía Nam Trung Việt để mở đường sá và khai thác thổ sản. bác sĩ khởi hành tại Biên Hoà vào theo sông Đồng Nai đi ngược lên. Chuyến thám du nầy cũng như chuyến trước, bác sĩ chỉ có 4 người Việt Nam tùy tùng. Cảnh gian nguy cũng không kém trước. Trong chuyến thám du nầy, bác sĩ phát kiến Cao nguyên Lâm Viên (Plateau de Lang Biang) và vùng Đà Lạt... (Xứ Trầm Hương - trang 460).
Về phương diện mở mang lãnh thổ, cuộc thám hiểm vùng cao nguyên Lang Biang của bác sĩ Yersin rất quan trọng trên nhiều lãnh vực khác nhau, đồng thời cũng đã đánh dấu sự ra đời của Đà Lạt. Sau cuộc thám hiểm của Yersin, chính quyền Pháp đã đặt được những điều cơ bản cho việc khai thác, nên đã cử hai phái đoàn lên vùng Lang Biang.
a) Đoàn thứ nhất: do đại úy Thouard (trong hai năm 1897 - 1898) cầm đầu với đầy đủ mọi phương tiện. Nhiệm vụ chủ yếu của Thouard là nghiên cứu để có thể thiết lập một con đường lên Lang Biang. Nhiều chuyên gia đủ mọi ngành đã tham gia phái đoàn nầy với tư cách là cố vấn hay nghiên cứu khoa học. Sau hơn một tháng trời, đoàn đến trí tại Dankia, đồng thời, đã mở ra những cuộc khảo sát về địa diện, khí hậu, vận chuyển trong vòng một tháng trước khi trở lại Sài Gòn.
Tuy nhiên, bản tường trình của họ đúc kết và nhận định đã không mấy lạc quan: "Thật khó để có thể thiết lập được một tuyến đường chạy từ Phan Rang đi ngang qua Xom Gon, Đơn Dương và theo vùng thung lũng sông Đồng Nai để có thể lên đến Lang Biang. Nếu thực hiện đòi hỏi quá nhiều tốn kém và những trình độ kỹ thuật cao. Đó là chưa nói đến việc chuẩn bị kỹ càng trong vòng từ 5 đến 10 năm.
b) Đoàn thứ hai: Đoàn nầy gồm có nhiều sĩ quan, chuyên gia, thám hiểm, thực vật học, do đại úy kỹ sư Guinet cầm đầu; thực hiện trong vòng gần hai năm từ năm 1899 cho đến 1990. Trong suốt trong thời gian nầy, họ đã thực hiện xong bản quy hoạch để lập con đường "không trải đá" dài khoảng 120 cây số từ Cửa Nại (cách Phan Rang 7km) qua Xon Gon, Đơn Dương, đến Đà Lạt đến Dankia.
Điều đáng nói nhất là thành viên trong phái đoàn lần nầy có bác sĩ Etienne Tardiff. Ông ta đã dày công nghiên cứu vể địa chất, khí hậu, thảo mộc, cảnh quan, thổ dân, cũng như nhiều điều kiện cần thiết cho một thành phố nghỉ dưỡng. Vị trí chọn là Đà Lạt hay Dankia thì còn trong vòng tranh cãi trước khi đi đến một kết luận để bắt tay vào việc xây dựng toàn bộ công trình.
Sau đó, ông ta đã làm bản Phúc Trình cho viên Toàn quyền Paul Doumer, phân tách kỹ càng về các phương diện thuận lợi để kết lụânlà chọn Đà Lạt hơn là Dankia như: đất đai, độ cao, khí hậu, nướcuống, môi sinh, thảo mộc và nhất là trục giao thông.
Như vậy quan điểm của bác sĩ Yersin (chọn Dankia) và bác sĩ Tardiff (chọn Đà Lạt) đã khiến cho viên toàn quyền phải đích thân lên thực địa để quan sát.Trong bản tường thuật, toàn quyền Pháp cho biết:
Chúng tôi lên đèo Ngoạn Mục và Đơn Dương lúc 10 giờ sáng. Vào thời kỳ nầy, chưa có một người An Nam nào định cư trên cao nguyên và Đơn Dương chỉ là một làng Thượng nghèo khổ. Tất cả cư dân ở đây đều mang chứng bệnh sốt rét... Đến Trạm Hành, con đường quá dốc, chúng tôi buộc lòng phải đi bộ, kéo xe ngựa đi phía sau. Nhưng qua khỏi chặng đường nầy lối đi trên chóp núi thì dễ dàng hơn. Chúng tôi lên ngựa và phóng về các trạm nghỉ mát trong tương lai... Từ lúc mọc trời mọc, ông Doumer cùng đoàn tùy tùng lên đường đi Dankia, cách đó chừng 10km. Buổi sớm mặt trời rực rỡ,trời thật lạnh, những bầy nai với những các gạc đáng chú ý như loài nai Bắc Âu chúng tôi gặp trên đường đi làm cho bầu không khí sáng sớm cao nguyên thêm linh hoạt. Ở Dankia, chúng tôi lưu lại suốt ngày. Viên Toàn Quyền xem xét các trạm, quan tâm mọi thứ, trình bày với chúng tôi những dự án để xây dựng nhà an dưỡng trong tương lai. Nó sẽ nằm trên đọan đường của một đường xe lửa xuất phát từ Sài Gòn chạy xuống Quy Nhơn.
Nhưng về sau, dự án nầy không thể thực hiện như thế, bởi vì khi nghiên cứu đến lộ trình, những kỹ sư gặp phải những khó khăn về kỹ thuật khá lớn, đến nỗi thay vì xây dựng một đường xe lửa chạy qua núi, họ lại chọn xây một đường xe lửa dọc theo bờ biển, với một đường phụ tới Đà Lạt, xuất phát từ Phan Rang. Ngày hôm sau, chúng tôi lên đường quay trở về, để lại viên Công Sứ Nha Trang tại Dankia..."
Ngay sau cuộc thám sát lần nầy, Toàn quyền Doumer đã có quyết định xây dựng Đà Lạt thay vì Dankia theo đề nghị của Tardiff, và công cuộc xây dựng Đà Lạt bắt đầu từ năm 1899, tức là 6 năm sau khi Yersin khám phá ra Đà Lạt.
Tóm lại, những nét chính trong thời khai sinh của Đà Lạt tiêu biểu như sau: - Khi vua Gia Long lên ngôi (1802) người Kinh (Việt) mới bắt đầu có nhiều quan hệ vói các dân tộc ít người tại vùng Tây Nguyên. - Người Kinh đã trao đổi hàng hoá với những tộc người ở đó đã cũng bắt đầu tụ cư ở vùng Tây Nguyên. - Giữa thế kỷ XIX: Nguyễn Thông đã tìm đường lên Sơn Quốc và tìm thấy một vùng đất thuộc Lâm Đồng (chưa phải Đà Lạt). - Năm 1893, bác sĩ Yersin sau ba lần thám hiểm đã khám phá ra Đà Lạt. - Bác sĩ Tardiff đã nghiên cứu địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thảo mộc và cảnh quan Đà Lạt năm 1899 và thuyết phục toàn quyền Paul Doumer chọn Đà Lạt thay vì Dankia để làm "thành phố nghỉ dưỡng".

Đà Lạt thời khai sinh

Trong thời khai sinh của Đà Lạt Bác sĩ Yersin cũng như bác sĩ Tardiff đã bỏ nhiều công lao trong việc thám hiểm và nghiên cứu, đồng thời tranh thủ để toàn quyền Paul Doumer chấp thuận kế hoạch xây dựng thành phố nầy. Từ vùng đồi núi hoang sơ, rừng thông bạt ngàn đã dần dà trở thành một trung tâm điều dưỡng mang phong cách Tây Phương.
Những biệt thự xinh xắn, những trường học, trại lính, giáo đường, chùa chiền, nhất là thiệt lập được hệ thống giao thông về vùng duyên hải và đến thành phố Sài Gòn. Trong khi chương trình kiến tạo còn đang dở dang thì toàn quyền Paul Doumer phải trở về Pháp; toàn quyền Paul Bert thay thế (1902- 1908).
Ngay trong khi bàn giao, chính toàn quyền Doumer đã nói về ước vọng của mình trong chương trình kiến tạo và mong mỏi người thay thế hoàn thành tâm nguyện nầy. Tuy nhiên, Paul Bert chỉ tiến hành cầm chừng vì không mấy quan tâm đến chương trình phát triển "quá tốn kém", theo nhận định của ông trong bản phúc trình về bộ Thuộc Đại Pháp năm 1907.
Ta có thể tìm thấy được hình ảnh của Đà Lạt trong năm 1908, qua một đoạn trong thiên Hồi Ký của Paul Duclaux trong cuộc hành trình từ thành phố Vinh vào Nam rồi lên Đà Lạt:
"Hồi đó, Đà Lạt chỉ có chừng 8 hay 10 nhà tranh của người Việt, một nhà sàn giành cho khách viễn du những chỉ làm bằng các tấm ván thô sơ, một vòi nước nhỏ chỗ họp chợ, một bưu điện nhỏ nhoi, một mỏm đồi ẩn sau hàng rào giữa rừng thông, vài căn nhà gạch của trung tâm hành chánh Đà Lạt. Đà Lạt lúc nầy có một thể chế đặc biệt: Một thứ Hội Đồng Thành Phố và có một viên Thị Trưởng.
Viên thị trưởng nầy chính là cựu cố vấn Hội đồng Thành phố Paris - ông Champoudry - đã được Toàn quyền Paul Doumer đưa sang Việt Nam sau vụ thất cử, và được coi là người sáng lập viên thành phố. Dân cư ở đây gồm một vài tá lưu dân người Kinh (Việt) và những khách viễn du người Tây Phương đi công tác hay trắc địa, những người thợ săn hay một vài người du lịch rất hiếm hoi cùng các tùy viên của họ..."
Đọc qua những đoạn chính trong thiên Hồi Ký của P. Duclaux cho biết được những chi tiết trong giai đoạn nầy như sau:
Đà lạt đã có viên thị trưởng đầu tiên là Champoudry. Nhiều tài liệu cho biết ông ta là một nhà thảo mộc học, thích sưu tầm, mạo hiểm và viết nhiều sách về loại nầy. Ông chỉ ghé lại Đà Lạt trong ít ngày rồi lại tiếp tục theo đuổi những công trình đang dở dang của mình về một trong những vấn đề kể trên.
Thời gian nầy vẫn không có gì hấp dẫn mấy để cho những cư dân từ nhiều nơi đổ về. Phần thì giao thông vẫn còn khó khăn; phần thì canh tác vẫn chưa được mở mang mấy nhất là vấn đề thị trường và tiếp tế.
Những bộ tộc ít người vẫn sống trong "ốc đảo" họ không mấy liên hệ với người Kinh hay người Tây Phương. Chính quyền bảo hộ Pháp cũng không mấy quan tâm đến họ.
Tuy nhiên, dù sao thì Đà Lạt trong những năm đầu thế kỷ XX cũng đã manh nha ra những điểm hội tụ và cơ sở ban đầu. Nhiều tia sáng mới đã xuất hiện. Mặc dù viên toàn quyền Paul Doumer hết nhiệm kỳ về Pháp, nhưng một số dự án của ông dần dà cũng được thực hiện. Đáng nói nhất là tuyến xa lửa từ Phan Rang (ga Mường Mán) đến Xom Gon cũng đã được hoàn tất (trong thời gian 1903 - 1909).
Những tuyến đường bộ lớn nhỏ từ Phan Rang đi Ma Lâm- Di Linh (Djiring) - Đà Lạt cũng hoàn tất trên căn bản vào tháng 10 năm 1914, nhưng rồi bị gián đoạn trong thời kỳ Đệ Nhất Thế chiến. Lữ quán đần tiên cũng được xây dựng với một số tiện nghi vừa phải (1907) và sau là Hotel Du Lac (Khách Sạn Bờ Hồ).
Cho đến năm 1916, nhờ một số chuyên gia Pháp tham dự trong cuộc kiến thiết, cho nên Đà Lạt cũng đã có một số thay đổi, để rồi thu hút thêm cư dân và trở thành Tỉnh lỵ của tỉnh Lang Biang (Lâm Viên). Ông Cunhac là viên Công sứ người Pháp đầu tiên được bổ nhiệm đến cai quản vùng đất nầy. Ông là người có tài tổ chức, cũng là thiết kế sư nổi tiếng. Khách sạn Palace (bây giờ là Palace) cũng được khởi sự xây cất vào năm 1916 và hoàn tất 6 năm sau đó.
Để đáy ứng nhu cầu ăn ở, nhà máy điện Đà Lạt được xây cất vào năm 1918: Theo sáng kiến của viên công sứ Cunhac, kỹ sư Labbé đã thực hiện bằng cách ngăn giòng suối Lat để làm thành Hồ Lớn (Grand Lac) vào năm 1919, nhưng qua nhiều lần sửa chữa thì năm 1922 mới đưa vào sử dụng. Năm 1953, đổi thành hồ Xuân Hương theo sáng kiến của nhà báo Nguyễn Vỹ, hội viên Hội đồng Thành phố nầy.
Nhà máy nước cũng được khởi công xây dững năm 1920. Như vậy những tiện nghi căn bản cũng được hoàn tất bước đầu. Cũng trong năm nầy, đường bộ từ Phan Rang lên Đà Lạt đã hoàn tất, giao thông nối hai miền dễ dàng hơn nên thu hút thêm nhiều cư dân đến.
Đoạn đường xe lửa "răng cưa" từ Xom Gon lên Đà Lạt cũng được hoàn tất, theo sáng kiến của toàn quyền Paul Doumer trước đó. Trong khí thế vươn lên, một số nhà cửa, biệt thự bằng gạch đã được mọc lên đây đó, tạo nên cảnh trí thơ mộng mang dáng Tây Phương cũng đã thoáng hiện. Trường học, sân cù, nhà chiếu bóng, ngân khố, bưu điện, thư viện cũng được dựng lên, tuy bước đầu còn khiêm tốn.
Với khung cảnh nầy, năm 1923, dự án thiết kế toàn thể đô thị Đà Lạt của kiến trúc sư Hébrad và phụ tá là công trình sư W. Leblanc cũng được thông qua đi vào thiết kế. Người Pháp đã tổ chức những kỳ nghỉ hè tại đây và một số biệt thự khang trang hơn cũng được dựng lên khá nhanh chóng. Nhìn qua nội dung chính của đồ án Hébrard trong lần đầu tiên là chủ điểm xây dựng được tập trung những vùng cư dân chung quanh bờ hồ Grand Lac (Xuân Hương) rồi từ đó, theo hướng giao thông, đã phát triển khu cư dân người Việt về hướng Tây Bắc và Đông Bắc của hồ nầy.
Ngoài ra, chương trình nầy cũng khởi sự thực hiện xây dựng khu công viên, chỉnh trang lại đường sá, khu thể thao, khu trường học và khu cho ấp Ánh Sáng. Theo đồ án nầy thì trục lộ chính của thành phố Đà Lạt gồm hai con đường Hùng Vương và Trần Hưng Đạo hiện nay. Dọc heo trục lộ chính nầy là Dinh Toàn Quyền, trung tâm hành chánh, một số dinh thự của viên chức cao cấp Pháp, toà Thị Chính, các cơ quan liên hệ và trường sơ học. Cuối trục lộ chính nầy là nhà ga Đà Lạt.
Trong khi soạn ra đồ án nầy, Hébrard cũng quan tâm đến vấn đề xây dựng những cơ sở giáo dục cho toàn vùng. Tuy nhiên trong giai đoạn đó, theo cách nhìn của viên Toàn quyền Merlin (1923 - 1925) thì những khu văn hoá chưa cần thiết phải xây dụng trong giai đoạn nầy.
Lập luân của Merlin thì Đà Lạt vốn dĩ là thành phố tĩnh dưỡng hơn là văn hoá, mặt khác những kinh phí để xây dựng chưa được Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại phê chuẩn thực hiện. Toàn quyền Merlin chỉ nghĩ đến việc xây dựng nhiều trường tiểu học cho con em của thành phố trước tiên đã. Thành thử đồ án của Hébrard tuy tổ chức toàn diện và đồng bộ, nhưng cho đến năm 1925 cũng chỉ nguyên vẹn là thành phố để viên chức, thương gia đến tĩnh dưỡng mà thôi.
Trong chiều hướng đó, tổ chức cơ sở hành chánh ở giai đoạn nầy tại Lâm Đồng và Đà Lạt vẫn còn đơn giản; đứng đầu là viên công sứ Pháp, bên cạnh có một Hội đồng Thị Chính làm cố vấn cho từng vấn đề riêng biệt, các ủy viên chuyên môn phụ trách như vấn đề y tế, xã hội, tư pháp, giao thông vận tải, văn hoá, thị trường...
Nhìn lại, trong khoảng thời gian kể từ khi Đà Lạt khai sinh cho đến năm 1925, khi toàn quyền Merlin mãn nhiệm kỳ, Đà Lạt đã có những bước tiến khá rõ nét. Từ một vùng đất hoang vu, vắng bóng người, cư dân đa số là tộc người Lát, thi đến đây, Đà Lạt đã trở thành một trung tâm nghĩ dưỡng tại Đông Dương. Những người đến tĩnh dưỡng ở đây đa số là người châu Âu cho nên thành phố đã khoác hẳn một bộ mặt đặc biệt.
Nhưng với hạ tầng cơ sở như thế vẫn chưa thu hút được khách là bao nhiêu nếu đêm so với những trung tâm nghĩ dưỡng tại các nước khác.

Đường lên Đà Lạt

Thành phố Đà Lạt cách xa Sài Gòn 250 cây số đuờng thẳng. Còn đi vòng đườn xe theo triền núi thì cách 305 cây số, nếu đi qua Blao và cách 375 cây số nếu đi qua Phan Thiết. Đường xe hơi đi Blao qua Biên Hoà, La Ngà, lên đèo Blao (cao khoảng 850 cây số) rồi đi bên thác Bobla (cao 3 mét) mới tới Di Linh (225 cây số). Từ Di Linh tới Đà lạt còn vào khoảng 80 cây số, có những thác Pongour, Gougah, Liên Khương.
Xe du khách đi khỏi tỉnh lỵ Biên Hoà, không khí đã bắt đầu thấy mát mẻ, dễ chịu, nhờ đi ven rừng, có khi vào giữa rừng. Những vùng trồng đầy cao su, hàng hàng lới lối đều đặn, ngay thẳng với bóng mát tối dần, xa xa hiện ra những ô vuông sáng của bên kia vùng đồn điền. Phong cảnh đường Blao đẹp nhờ ngang qua nhiều quãng rừng có những loại thảo mộc khác nhau. Ở đây khí hậu đã bắt đầu chuyển sang một cảnh quan khác, để từ đó đến Đà Lạt, mây giăng khắp trời, như đến gần lại với chúng ta hơn. Thỉnh thoảng có những biệt thự thơ mộng hiện ra ở triều một ngọn đồi, chung quanh toàn im lặng hoang vu.
Những đồng bào Thượng đóng khố, vác rìu rựa đi vào rừng sâu, một thoáng ung dung, nhàn tản lạ kỳ. Gần đến Đà Lạt, phải men theo các triều núi dựng, mà mỗi khi gió bão, những tảng đá từ trên cao rơi xuống, dễ ngăn nghẽn lối về. Con đường theo ngõ nầy cheo leo nhưng thật đẹp.
Nếu du khách đi từ Phan Thiết, xe phải đi quan An Lộc, Xuân Lộc là từng cây cao su. Xe sẽ phải qua một từng lá gồi rậm lớn, rồi phải qua những ngọn đèo như đèo Yabach (cao 802 mét) đèo Halon (cao 1,030 mét) đèo Daltroun (cao 1,200 mét) để đến Di Linh (295 cây số). Ngoài hai con đường quen thuộc nầy, từ sài Gòn lên, còn có thể đi từ Nha Trang, qua Tháp Chàm đến Đà Lạt hay từ Phan Rang đi Krong Pha rồi lên đèo Ngoạn Mục, theo đường Finmom về Ðà Lạt. Đà Lạt có nhiều thắng cảnh: Rừng Ái Ân, Chùa Linh Sơn, chuà Linh Phong, nhà thờ Đà Lạt, lăng Nguyễn Hữu Hào, Trung tâm Nguyên Tử Lực, Thác Cam Ly. Xa hơn nữa, trên con đường từ Đà lạt xuôi về Sài Gòn, còn có những ngọn thác hùng vĩ: thác Gougah, thác Đa Tân La, thác Liên Khang, thác Pongour.

Giai đoạn III: phát triển (1926 - 1945)

Toàn quyền Merlin đã không quan tâm nhiều trong việc xây dựng Đà Lạt trong thời gian cầm quyền (1923 - 1925) đã khiến cho dự án của Hébrard đựng khựng lại trong một thời gian. nhiều người Pháp đã không đồng ý giải pháp nầy cho nên đã lên tiếng đả kích trên báo chí ấn hành tại Pháp.
Đến năm 1926, Merlin thuyên chuyển đến một vùng đất khác tại Bắc Phi thuộc Pháp và Varenne sang thay thế. Vị tân nhiệm nầy có một quan niệm cởi mở và rộng rãi hơn, nhất là sau khi nghiên cứu đồ án Hébrard và những phác họa của toàn quyền Doumer trước đó. Theo ông thì vấn đề phát triển văn hoá và giáo dụ không thể thiếu được ở Đà Lạt và không nên coi vùng nầy là trung tâm tĩnh dưỡng thuần túy, vì như vậy "đồng hoá với chính sách ngu dân". Đà Lạt trong giai đoạn nầy đã được tiếp tục kiến tạo những phần nào còn dang dở của Hébrard nêu lên trước. Những trường Trung Học và Tiểu Học theo chương trình Pháp ra đời: Trường Petit Lycée bắt đầu xây dựng tháng 4 năm 1927, Grand Lycée xây dựng đầu năm 1935.
Hai trường nầy sau lấy tên chung là Lycée Yersin, như là để tưởng niệm công ơn của vị bác sĩ đã khám phá ra vùng đất nầy năm 1893. Trong một dịp khai giảng niên khoá mới, vị bác sĩ nầy đã được mời đến dự. Ông phát biểu vối nhiều cảm tình: "Tôi rất cảm động về tình cảm mà các em đã giành cho tôi. Cácem hãy tin rằng: tôi cũng rất yêu mến và thân ái với các em... Các em đã khiến cho tôi nhớ đến việc phát hiện ra Cao nguyên Lang Biang vào tháng 6 năm 1893, trong một chuyến đi khảo sát, nghiên cứu, nhằm mục đích khai phá vùng rừng núi ở phía Nam Trong Phần Việt Nam, cho đến lúc đó, vẫn chưa ai được biết đến. Các em muốn đặt cho trường Trung học đẹp đẽ nầy cái tên của người sống sót cuối cùng của Phòng Thí nghiệm Pasteur... Tôi xin cám ơn các em..."!
Vào năm 1935 thì trường Notre Dame du Lang Biang cũng ra đời. Do những ngôi trường nầy dạy theo chương trình Pháp cho nên những viên chức, thương gia Pháp cư trú khắp nơi trên đất Việt Nam, Lào và Cao Miên (Kampuchia) trong thời kỳ nầy đã đua nhau gửi con em đến học. Nhiều giáo sư từ Pháp cũng được mời sang giảng dạy. Trong khi nầy, báo chí lại nhắc Đà Lạt với ý niệm mới: Thành phố của văn hoá và giáo dục.
Trong thời kỳ nầy, thành phố Đà Lạt đã bừng lên một sức sống khác thường với nhiều công trình xây dựng:
Nhà máy điện được xây dựng vững chắc hơn vào năm 1927, đủ cho nhu dụng của toàn thành phố; đồng thời, xây dựng lại nhà máy nước vào năm 1929.
Dưới thời Merlin, Đà lạt chỉ có chừng vài chục căn nhà, những 7 năm sau đó dưới thời toàn quyền Varenne đã có đến 398 biệt thự kiến trúc theo kiểu Tây Phương; qua năm 1939 đã lên đến 427 biệt thự sang trọng, đầy đủ tiện nghi, đã biến thành phố trở thành một kiểu dáng mô hình Tây Phương. Trong chương trình phát triển vào năm 1937 đã có nhiều tư nhân bắt đầu xây biệt thự, nhà sang trọng để bán hay để cho thuê. Dịch vụ nầy là ảnh hưởng của sư gia tăng cư dân lên nhanh chóng hơn trước nhiều.
Nhiều cơ sở thương mải đã được xây dựng trên những tuyến đường chính. Và để thoả mãn nhu cầu trao đổi hàng hoá, năm 1936, khu chợ tại Ấp Ánh Sáng đã được dời lên phía trái khu chợ Hoà Bình. Chợ nầy lúc đầu có tên là "Chợ Cây" (vì chỉ làm bằng cây chống và lợp bằng tôn). Nhưng về sau, đễ mở mang thêm và đảm bảo kiến trúc cho nên đã sửa sang lại khang trang hơn.
Nhiều chùa chiền được xây dựng: chùa Linh Sơn, chuà Linh Quang, chuà Linh Phong. Nhà thờ Chánh Toà Đà Lạt bắt đầu xây năm 1931 và hoàn tất năm 1942. Nhà thờ Tin Lành phía Bến Xe đò cũng được dựng lên.
Cho đến thập niên 30 của thế kỷ XX, hầu hết các tuyến đường vùng duyên hải và từ Sài Gòn lên Đà Lạt đã được mở rộng, tráng nhựa, hoàn tất như tình hình hiện tại. Năm 1932, còn đường Sài Gòn đi Đà Lạt qua đèo Blao (Bảo Lộc) cũng được hoàn chỉnh. Nhờ vậy, những xe cộ chuyên chở hàng hoá, rau cải, xe hành khách dùng tuyến đường nầy tiện lợi hơn và ngắn hơn những tuyến khác (từ Ma Lâm đến hay từ Phan Rang đến). Đường rầy xe lửa có răng cưa lên Đà Lạt hoàn tất vào năm 1933, trong khi đó nhà ga Đà Lạt với kiểu kiến trúc mới và hoành tráng hơn hoàn tất năm 1938.
Nhìn chung lại, Đà Lạt đã có những khởi sắc; bên cạnh sức phát triển của thành phố, thì cư dân nhiều nơi tụ đến sinh sống khá nhanh chóng. Theo thống kê, dân số Đà Lạt năm 1923 có khoảng 1,500 người; đến năm 1938 có 9,500 người; đến năm 1939 lên đến 11,500 người. Trong số nầy người Pháp chiếm phần lớn, nên đã tạo cho thành phố kiểu sống theo màu sắc Tây Phương.
Những người đến đây để buôn bán, trao đổi hàng hoá, những người của sắc tộc thiểu số; về sau lại thêm những người mãn hạn tù tội, bỏ quê nhà lên Tây Nguyên lập nghiệp. Người Hoa cũng đến Đà Lạt từ năm 1935 trở về sau. Họ chuyên về nghề buôn bán hàng xén, toả ra khắp nơi. Tất cả những điều kiện thiên nhiên, cảnh quan, cư dân và con người ở Đà Lạt nói trên đã tạo nơi đây thành vùng tròi thơ mộng, huyền hoặc, tĩnh lặng như trong ý thờ của Hàn Mặc Tử.
Giai đoạn cực thịnh
Trong khoảng thời gian từ năm 1940 cho đến năm 1945, Đà Lạt mới thực sự ở vào giai đoạn cực thịnh; trong giai đoạn nầy Ðệ nhị thế chiến bùng nổ, những viên chức người Pháp đã không có thể về chính quốc để nghỉ dưỡng, cho nên họ đều lên Đà Lạt. Theo một số tài lịêu thì: Trong hoàn cảnh nầy, viên Toàn quyền Pháp Jean Decoux (1940 - 1945) mưu toan dùng miền đất Đà Lạt để dung thân trong trường hợp nước Pháp rơi vào tay Quốc Xã Đức.
Người ta kể lại rằng: Trong môt bữa tiệc do Cựu Hoàng Bảo Đãi khoản đãi, toàn quyền Decoux đã nhắc lại môt câu nói của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với Nguyễn Hoàng ngày trước "Hoành Sơn nhất đại, vạn đại dung thân". Khi đó thượng thư Phạm Quỳnh hiểu được ý đồ của Decoux, nhưng lại sợ những điều không hay, cho nên đã giải thích theo chiều hướng khác. Cũng trong giai đoạn nầy, Decoux có phác họa ra một chương trình để biến Đà Lạt sẽ trở thành thủ đô của ba nước Dông Dương (Việt, Miên, Lào). Dựa theo ý đó, kiến trúc sư Lagisquet được lệnh thực hiện đồ án canh tân Đà Lạt và tính sẽ thực hiện trong vòng 6 năm. Theo nhận định chung thì đồ án của Lagisquet (1942) không khác gì đồ án của Hébrard (1923) là mấy. Theo nội dung đồ án của Lagisquet, việc đầu tiên là mở rộng thành phố Đà Lạt và vùng mở rộng nầy chính là Ankroet, trong đó mở mang mạn lưới giao thông, xây dựng nhiều nhà cửa sang trọng đồng thời cũng phát triển ngành trồng trọt ở bên ngoài Ankroet.
Lagisquet cũng đã vẽ ra nhiều kiểu nhà, nhiều biệt thự mới lạ, đa dạng. Một trong những công trình tiêu biểu nầy là khi biệt thư cư xá Decoux (chung quanh trường Trung học Trần Hưng Đạo). Cư xá nầy được quyết định xây cất năm 1942; 34 biệt thự hoàn tất năm 1943, 20 biệt thự khác hoàn tất năm 1944. Sân vận động ở bên cạnh hồ Xuân Hương cũng được hoàn thành năm 1942. Trong thời kỳ nầy nhiều ngôi nhà thờ dược kiến tạo lên; nhiều ngôi chùa cũng được xây dựng: Linh Sơn, Linh Phong. Viện Mồ Côi cũng được kiến lập trong giai đoạn nầy. Số biệt thự tại Đà Lạt trong vòng 4 năm đã gia tăng nhanh. Năm 1940: 530 biệt thự; năm 1941: 560 biệt thự, năm 1942: 591 biệt thự; năm 1943: 743 biệt thự; năm 1944: 810 biệt thự.
Những đến năm 1945 thì cuộc diện thay đổi hoàn toàn. Dưới thời Pháp thuộc, Đà Lạt là một trong những thành phố có tiện nghi đầy đủ nhất. Chẳng hạn như về điện lực, nguờn điện lực ở đây đã khá dồi dào. Năm 1923, đã có cong ty xin khai thác thủy điện khu Bellevue - Krong Pha. Trước đó, tại Cam Ly, O'Neil cũng đã khai thác thủy điện để chạy máy cho nông trại. Năm 1942, toàn quyền Decoux quyết định xây nhà máy thủy điện tại thác Ankroet. Năm 1944, nhà máy nầy đã bắt đầu hoạt động.


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 07.02.2015.