Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





ĐỂ THƠ NGÀY CÀNG CẦN THIẾT,

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA CON NGƯỜI







Tham luận tại
Liên hoan Thơ Châu Á – Thái Bình Dương
lần thứ 2, Vịnh Hạ Long tháng 3/ 2015



Trong không ít trường hợp, những bài thơ hay nhất thường được ra đời theo linh tính chứ không phải theo lí luận và chỉ khi mình “vô ngã” thì nó mới thanh thoát, tự nhiên. Cũng như tiếng rền của núi sông, nếp vằn của hổ báo, nào biết ánh sáng bay trên đầu nó là ánh sáng nào. Có nhà thơ vốn liếng trong trường ốc chả được bao nhiêu, nhưng bằng sự thẩm thấu tự nhiên các tầng văn hoá của dân tộc và của nhân loại, tác phẩm cuả họ vẫn là sự bừng sáng và hào hoa, về tài năng trí tuệ của nhiều thế hệ mà họ bỗng nhiên thành người đại diện. Đôi khi họ đi trong cái mù mờ đầy cảm hứng của tâm hồn, của chính họ, có thể do trời ngẫu nhiên mà ban tặng cho họ, với những bước chân xiêu vẹo, nhưng đã vẽ lên những giá trị thẫm mĩ huy hoàng, mà trước đó chưa từng có, làm giầu sang không biết đến bao nhiêu phẩm giá văn hóa cho một thời đại mà họ đã sống.

     Hàng trăm năm nay, người ta bàn về thơ đã nhiều, có nhiều tập sách đã thành kinh điển, trong đó có những tài năng rất lớn, trí tuệ rất cao sâu của cả nhân loại mà phải vài thế kỉ mới có một người… Cứ tưởng đến thế là xong, ai ngờ không phải. Tất cả mới bắt đầu. Và người ta lại phải bàn tiếp. Thơ vẫn là một cái gì bí ẩn, thăm thẳm xanh trước mặt như biển cả, tầng tầng lớp lớp mênh mông như rừng đại ngàn. Vì vậy, càng học thơ, làm thơ, càng thấy thơ có một cái gì đó rất khó nắm bắt, rất khó chinh phục. Hình như thơ phát triển được, để mỗi người mỗi khác, ngay trong một người cũng mỗi giai đoạn mỗi khác, là nhờ ở điểm “ đặc thù ” này. Vì thế mà những đỉnh cao mới, mới có cơ hội xuất hiện và những lí luận về thơ mới căn cứ vào đó mà luôn luôn được bổ sung.. Không bao giờ có chỗ tận cùng. Do vậy, nếu ai nói rằng, mình đã hiểu hết thơ, thì tôi nói ngay rằng, người đó là một kẻ dối trá.
     Tôi chủ trương làm thơ dễ hiểu, nhưng người đọc không hiểu một lúc hết được điều mình muốn nói. Họ tưởng là đã hiểu, nhưng vẫn hình như còn có một cái gì đấy, khiến họ phải tìm đọc lần sau, và cứ thế, mỗi lần họ lại thấy vỡ ra một cái gì đấy, ngộ thêm một điều gì đấy mà tôi có nghĩ đến khi tạo dựng tác phẩm, nhưng tôi không viết ra. Rồi đọc thêm, họ thấy cái mà tôi chỉ gợi ý ra cho họ và cuối cùng, họ nghĩ tới cái mà tôi chưa từng nghĩ tới... Và như thế, nếu thơ tôi chỉ có 300 người đọc với chiều sâu như thế, tôi đã có 300 tập thơ khác nhau và tập của tôi sẽ là tập 301. Cũng đã có nhà văn bàn về điều này, vì cho đến bây giờ, vẫn còn có người rất e ngại tính đa nghĩa của thơ.
     Có người băn khoăn về cách giải quyết vấn đề của thơ. Tôi nghĩ đó không phải là nhiệm vụ của thơ. Trước đây, hiện nay, và cả sau này, thơ chỉ có một nhiệm vụ thôi là phải hay. Còn nhà thơ, chỉ có một nhiệm vụ thôi là phải viết hay. Có nhiều kiểu hay khác nhau, càng hay - càng hay khác nhau, lại càng hay hơn nữa. Chỉ có thơ hay mới cứu được thơ. Chỉ có thơ hay mới có bạn đọc. Không có bạn đọc thì thơ chết và nhà thơ cũng chết. Nhưng làm được thơ hay, bao giờ cũng là một việc rất khó.
     Một nhà thơ được coi là giỏi nghề, phải các giải pháp nghệ thuật, để xử lí cụ thể các bài thơ, không bài nào giống bài nào… Đó là sáng tạo riêng của nhà thơ, có tính phương tiện chứ không phải là mục đích. Anh là nhà thơ, phải không? Vậy thì anh phải nghĩ ra một cái cách nào đó, để ý thơ được bộc lộ rất mờ ảo về những điều rất thực mà nhiều người đã thấy rõ ràng. Cái mờ ảo sẽ tạo ra sự hấp dẫn. Không làm được điều đó, thơ anh sẽ rơi xuống giản đơn. Rồi anh lại phải có một thao tác như thế nào đó về ngôn từ, để thể hiện được rất rõ ràng, dễ hiểu, về những điều không rõ ràng và không dễ hiểu mà chỉ có anh mới nghĩ được ra. Không làm được điều đó, thơ anh chỉ có một bạn đọc duy nhất là chính anh mà thôi.
     Tôi rất có ý thức học tập truyền thống thơ Phương Đông, mà chủ yếu là thơ Đường Trung Hoa, cố làm cho thơ mình hàm súc, ý tại ngôn ngoại...“ Câu thơ anh làm một nửa mà thôi / Còn một nửa để mùa thu làm lấy” ( Chế Lan Viên). Tôi cũng cố gắng bằng các phương pháp nghệ thuật, thống nhất được các mặt đối lập, để tạo ra sự đột biến trong việc thể hiện số phận của nhân dân, của con người, trước những va đập không ngừng của thời cuộc và những ý tưởng của con người trước thời thế và vũ trụ. Có nhiều loại thơ hay khác nhau, nhưng theo tôi, thơ hay nhất, vẫn là thơ làm rung động được mọi lòng người về số phận của nhân dân. Mỗi nhà thơ đều phải đi từ chỗ dân tộc mình đi, nhưng chỗ đến, phải đến với toàn nhân loại. Hai thiên tài mà tôi vô cùng ngưỡng mộ: Đỗ Phủ và Nguyễn Du đã dạy tôi điều đó.
     Bất cứ cái gì ra đời, đều có cái lí do chính đáng của nó. Những tìm tòi không ngừng của các nhà thơ là nhằm khai thác và thăng hoa cái phần còn tiềm ẩn trong sáng tạo những giá trị tinh thần của con người. Và đi theo cái này, ủng hộ cái này, không bao giờ nên bài xích hoặc ruồng bỏ cái kia, như tôn giáo và màu da, chúng cần phải được cùng tồn tại và bình đẳng trong mọi giá trị. Tôi nghĩ thế và không hề lạnh nhạt hay thành kiến với các sáng tác theo các khuynh hướng nghệ thuật khác tôi, thậm chí trái ngược với tôi. Bởi thơ là của muôn nhà, đến từ muôn nẻo đường khác nhau, không chỉ của hiện thực cuộc sống mà còn của cả cõi tâm linh xa xăm… Nhưng tôi có hai yêu cầu. Một, anh viết theo kiểu nào cũng phải làm cho con người sống với con người tốt hơn và như thế, cái thước để đo nó vẫn là giá trị nhân văn. Hai, làm giầu thêm cho văn hoá, chứ không chống lại văn hoá.
     Tôi e nhất là thơ không có tư tưởng, chỉ có những “bức xúc”, mà theo tôi “bức xúc”, chỉ là tác nhân của tư tưởng chứ bản thân nó không phải là tư tưởng. Tư tưởng bao giờ cũng hiện ra trong thơ, điềm đạm, hồn nhiên, thậm chí hiền minh mà vẫn rất tinh tế, nhẹ nhàng, thấm thía, qua từng câu thơ, qua một kiểu kết cấu nào đó của ngôn ngữ hay hình tượng, hoặc qua toàn bộ tác phẩm nghệ thuật. Nó hiện hữu vừa cụ thể vừa mơ hồ, phảng phất nhưng đầy ấn tượng, nó cũng có tính cá biệt, như hương thơm của một loài hoa. Hoa nào cũng có màu săc, đó là nội dung, còn hương thơm của hoa mới là tư tưởng. Những nhà thơ lớn, trước hết là do thơ họ có tư tưởng, tư tưởng đó là phần sâu sắc nhất, tự nhiên tạo thành hệ qui chiếu để hội tụ các chủ đề các nội dung. Và sự bức xúc của tư tưởng, buộc bài thơ phải ra đời, cũng giống như đứa con buộc phải ra đời từ trong bụng mẹ.
     Hiện chúng ta đã sống trong một thế giới phẳng sau chiến tranh lạnh. Đó là thành công lớn nhất mà nhân loại đã có được. Hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển là nguyện vọng chung của các dân tộc và các quốc gia. Đó là chất lượng sống của con người ngày hôm nay, yêu cầu phải nâng cao, đó cũng là bội số chung lớn nhất của nhân loại. Thơ hơn lúc nào hết phải cất lên từ đó, từ nhịp đập của mỗi con tim của mỗi nhà thơ, dù khác nhau về tiếng nói và màu da, cũng từ yêu cầu và đòi hỏi lớn lao của cả thời đại, với âm hưởng lớn như nhịp sóng triều cuồn cuộn và muôn đời khôn nguôi của biển cả Thái Bình Dương. Cuộc gặp mặt các nhà thơ Châu Á – Thái Bình Dương lần thứ hai này, bên bờ Di sản thế giới Vịnh Hạ Long, kì quan thiên nhiên của nhân loại, là biểu hiện sinh động đó, để thơ càng ngày càng cần thiết, nâng cao chất lượng sống của con người, vì một thế giới không có chiến tranh và khủng bố, không có áp bức và kì thị màu da hay giới tính. Đó cũng là đặc trưng Chân Thiện Mĩ của Thơ, trong đó, theo tôi, Thiện là cái cơ bản nhất. Tôi có câu thơ: “Ấy là ngày cái Thiện lên ngôi / Bạo lực và cường quyền / Tất cả thành vô nghĩa ”.
     Tôi nghĩ rằng, đó chẳng phải là nguyện vọng riêng của cá nhân tôi.


BỐN MÙA
Trái đất quay trong hi vọng khôn cùng
T.N.M.

Bây giờ thì chán cả mùa xuân
Những cơn mưa dầm dề sốt ruột
Mây chẳng ra mây, âm âm màu lông chuột
Mùa hè ơi, xin hãy đến mau !

Chả thích mùa hè, nắng trắng tóc râu
Nóng đến nỗi sợ cả người tình cũ
Mưa đột ngột tàn bạo như thác đổ
Mùa thu ơi, em hãy đến nhanh nào...

Ôi mùa thu mới bực làm sao
Lòng thao thức nỗi buồn hoang vắng
Cây tàn úa rồi chết trong im lặng
Mùa đông ơi, hãy đến cùng ta !

                Bụi mù trời. Rét cào cấu thịt da
Quạ rít lưỡi. Còn gì mà thú nữa
Muốn dài rộng mở ra muôn cánh cửa
Đuổi đông đi. Rối rít đón xuân vào...


Cứ thế, bốn mùa mong ước nối theo nhau
Ghét tất cả. Rồi lại yêu tất cả
Cứ thế
               Mang lo toan vất vả
Trái đất quay trong HI VỌNG khôn cùng...
Sài Gòn 4 - 1979


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 31.01.2015.


Quay Lên Đầu Trang