Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


DANH LAM

THẮNG CẢNH VIỆT NAM





ÐỀN THÁP CHĂM - PA



Trong quá khứ cũng như hiện tại, những công trình kiến trúc và điêu khắc tại những đền tháp Chăm - Pa (Chiêm Thành) miền Trung và Nam Việt Nam đã làm hấp dẫn và say mê những nhà nghiên cứu khoa học và nghệ thuật trong cũng như ngoài nước. Trong quá khứ, kể từ đầu thế kỷ XX cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu nghệ thuật cũng như khoa học về kiến trúc Chăm - Pa đã được tuyên bố từng phần, tổng thể hay tại những hội nghị chuyên ngành liên hệ nầy.

Những công trình tiên phong
Trong số những nhà nghiên cứu nổi tiếng nước ngoài về kiến trúc Chăm - Pa đã cống hiến lớn lao trong phạm vi nầy, phải kể đến hai nhà khảo cổ người Pháp là ông L. Finot và H. Parmentier và những cộng sự viên của họ. Hai nhà khảo cổ trên, chẳng những là những người quan tâm sớm nhất trong lãnh vực nghệ thuật cũng như về điêu khắc, trang trí, đồ họa về tháp Chăm - Pa, mà còn lưu lại nhiều bộ sưu tập, những công trình khảo cứu quý giá, nếu không, qua những cuộc chiến tàn phá vừa qua, cũng khó tìm lại được toàn vẹn như hiện nay.
Giáo sư ngành khảo cổ Pháp L. Finot với 2 công trình nổi tiếng có nhan đề là "Inventaire sommaire des monuments Cham de l' Annam" (được công bố trên tạp chí B.E.F.E.O. tập I, vào năm 1901) và tài liệu khác nhan đề là "Notes d' Epigraphie Indochinoise", ấn hành tại Hà Nội vào tháng 3 năm 1916 và tái bản có bổ sung năm 1932.
Còn nhà khảo cổ học H. Parmentier với những công trình nổi tiếng như "Les monuments du Cirque de My Son" (được công bố trên tạp chí B.E.F.E.O. tập IV vào năm 1904) và "Inventaire descritifs des monuments Cham de l'Annam" (Paris 1909 - 1918). Những tác phẩm trên có thể để mở đường cho những nghiên cứu bổ túc sau nầy, có những giá trị rất quan trọng trong công cuộc nghiên cứu về phương diện nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, trang trí, đồ họa của người Chăm - Pa.
Ngoài ra, còn có danh mục thống kê khá đầy đủ các di tích về những nền văn hoá Chăm - Pa, những bi ký, đền tháp, những công trình chạm khắc, sử liệu cùng với những bản vẽ rất công phu, khoa học, tỷ mỷ vào đầu thế kỷ XX. Chính những tư liệu nầy đã giúp ích rất nhiều cho những nhà nghiên cứu và "Chăm - Pa học" sau nầy, khi muốn tiếp cận dễ dàng với nghệ thuật Chăm - Pa và văn hoá Chăm - Pa.
Những nhà nghiên cứu Tây Phương lưu tâm đến lịch sử tiếp theo L. Finot và H. Parmentier, thì phải kể đến G. Maspéro, Ph. Stern, J. Boisselier, J. Y. Claeys... Họ đã công bố nhiều công trình sưu tập và nghiên cứu về lịch sử và văn hoá Chăm - Pa, trong đó phần lớn đều dành nhiều về ngành kiến trúc và điêu khắc Chăm - Pa. Họ đã cố gắng tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của nền mỹ thuật Chăm - Pa có những liên hệ với những quốc gia trong toàn vùng.
Ngoài ra, họ cũng lập những khung phân định thời kỳ, các phong cách nghệ thuật và văn hoá Chăm - Pa. Cũng nhờ vậy, cho nên những người đến sau dễ dàng nhận diện từng ngôi tháp một trong các công trình khai quật, nghiên cứu điền dã cũng như khảo tả các nét của văn hoá Chăm - Pa.

Nền văn hoá Sa Huỳnh

Hiểu nguồn gốc của nền văn hoá Chăm - Pa, không gì tốt hơn làđi tìm lại nền văn hoá Sa Huỳnh, những di chỉ tiền sử của sắc dân miền Trung và Nam của đất Trung Phần ngày nay. Hiểu trên đại thể thì nền văn hoá thời đại Sa Huỳnh mang những đặc tính căn bản như sau: (a) Nền văn hóa nầy biểu hiện toàn vẹn những nét căn bản trong việc thành lập đất nước Chăm - Pa (Chiêm Thành). (b) Nền văn hóa nầy đã kinh qua thời đại đồ đồng, để chuyển sang thời đại đồ sắt tương đối cao hơn. (c) Kỹ thuật trồng lúa nước vùng đồng bằng và ven biển cũng được phát triển toàn diện.
Như vậy, nền văn hoá Sa Huỳnh vượt xa hơn văn hoá Gò Mun và Đông Sơn, tức là nằm vào giai đoạn gần đây (thời kỳ đồ sắt) hơn.
Dấu tích Sa Huỳnh: Trên vùng đồng bằng ven biển của miền Trung Việt Nam, các nhà khảo cổ trong mấy chục năm gần đây đã tìm thấy trong một số di chỉ, dấu vết của một nền văn hóa vật chất đặc trưng, gọi chung là "nền văn hoá Sa Huỳnh" (tên một địa phương trong địa phận của tỉnh Nghĩa Bình ngày nay).
Ở đây, nổi bật lên bên những rìu của thời đại đồ đá mới có vai là những "chiếc bôn" độc đáo của vùng nầy. Một số cổ vật bằng đồng như lưỡi giáo, chuông nhỏ và những đồ trang sức bằng đồng cũng đã được phát hiện. Nhưng quan trọng nhất là phát hiện những đồ bằng sắt, rất phong phú về thể loại và số lượng trong đó gồm các dụng cụ thường dùng (liềm, dao) và những vũ khí phòng thân (giáo, mác, kiếm) cùng một số các dụng cụ khác.
Đồ gốm: Gốm cũng được tìm thấy, gồm các đồ đựng, như bát, bình có chân đế, có thân gãy ở vai hay ở đáy đều chiếm tỷ lệ lớn. Màu sắc của những loại gốm nầy thông thường là màu vàng hay màu đỏ; một số khác có vệt đen bóng loáng. Những đồ gốm nầy đều trang trí hình hoa văn chữ S có đệm hình tam giác, những đường chấm cách đều, đường in dấu răng vỏ sò...
Khu mộ táng: Ở các di chỉ của khu mộ táng, hình thức phổ biến nhất là mộ vò, với độ cao trung bình của vò là 60 cm làm thành một nét đặc biệt trong việc chôn cất những cư dân Sa Huỳnh thời cổ. Trong những vò nầy còn chứa khá nhiều những vật trang sức làm bằng đồng, bằng đá tốt. Trong những loại nầy, có loại trang sức độc đáo là loại khuyên đeo tai, có 3 mấu nhọn và khuyên tai có hình hai đầu thú vật.
Từ Bàu Tró đến Sa Huỳnh
Văn hoá Sa Huỳnh là nền văn hoá thuộc giai đoạn đồ sắt của những cư dân nông nghiệp vùng duyên hải, có niên đại khoảng từ giữa thiên niên kỷ thứ I trước Công Nguyên cho đến đầu Công Nguyên. Ngoài di tích trong địa điểm Sa Huỳnh, người ta còn tìm thấy các di chỉ khảo cổ tại vùng lưu vực sông Đồng Nai cũng có những đặc trưng rất giống Sa Huỳnh, cho nên thường được ghép chung vào văn hoá Sa Huỳnh.
Lại còn có thể có những giai đoạn xưa hơn nữa, được xem là "tiền thân" của nền văn hoá Sa Huỳnh, mà dấu vết còn phát hiện tại những vùng Bàu Tró (Thừa Thiên), Long Thạnh, Bình Châu (Bình Định) và còn có thể gồm những di tích khác hơn nữa ở phía Nam phải chăng là những mốc giới để dẫn đến nền văn hoá Sa Huỳnh.
Từ Bàu Tró đến Sa Huỳnh và từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn ở phía bắc, chính những tuyến văn hoá đó, với những đặc trưng đã hình thành và phát triển song song với nhau; tuy rằng đều có những nét gần gủi, do những ảnh hưởng qua lại với nhau, từ đương thời hay từ một thuở xa xôi hơn.
Những bộ lạc Chiêm Thành: Căn cứ theo những tài liệu lịch sử cũng như những di tích khai quật được, thì tại khu vực văn hoá Sa Huỳnh thời kỳ đó, có những bộ lạc sinh sống: bộ lạc Cau (chữ Phạn là Kramula Vams'A) và bộ lạc Dừa (Narikela Vams'A).
Dấu ấn của các bộ lạc nầy còn để lại khá phong phú trên những bi ký, truyện dân gian và trong nghệ thuật tạo hình. Bộ lạc Cau cư trú trên vùng Phú Khánh - Thuận Hải ngày ngay. Bộ lạc Dừa cư trú trên vùng Quảng Nam - Nghĩa Bình ngày nay. Chắc chắn họ có những quan hệ với những cư dân cùng ven biển phía Bắc- ở Thừa Thiên - và phía Nam - đồng bằng Nam Phần; những bộ lạc nầy lại có đời sống riêng của họ. Trong khi đó, vào khoảng đầu Công nguyên, từ hai bộ lạc Cau và bộ lạc Dừa, vương quốc cổ Chăm - Pa đã ra đời mà dòng lịch sử đã biến chuyển qua những chặng đường khác nhau.
Đại cương kiến trúc Chăm - Pa
Kiến trúc những tháp Chăm Pa (Chàm) chủ yếu là xây bằng vật liệu gạch; đó cũng là một trong những đặc điểm để phân biệt được kiến trúc Chăm - Pa với những kiến trúc khác ở Việt Nam cũng như tại Đông Nam Á.
Những ghi chép trong các sách sử xa xưa cũng từng thán phục và tôn người Chăm - Pa là "bậc thầy trong ngành kiến trúc, điêu khắc bằng gạch".
Theo một số tài liệu phân tách kiến trúc, thì gạch Chăm được làmtừ loại "đất sét Hydromica" và được nung ở nhiệt độ từ 1,000 đến 1,150 độ C; khổ gạch phổ thông là 40 cm X 20 cm X 5cm. Đá cũng được sử dụng trong các kiến trúc Chăm, chủ yếu là các loại sa thạch, một ít đá hoa cương. Đá thường dược dùng trong các mí cửa, các thanh chèn các góc, các họa tiết về trang trí, các bệ cấp lên xuống của các tháp cao.
Về kỹ thuật xây dựng nhưng ngôi tháp Chăm từ trước đến nay, hãy còn nhiều ý kiến khác nhau và vẫn chưa đi đến một kết luận đích xác được.
Có một số ý kiến cho rằng: người Chăm - Pa đã sử dụng gạch mộc, sauđó mới đem nung toàn bộ ngôi tháp. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Pháp H. Parmentier thì cho rằng: xây một tháp cao như vậy, mà nếu dùng đến loại gạch mộc thì sẽ bị đổ xuống rất nhanh chóng. (c) Một số ý kiến khác lại viết: Người Chăm đã sử dụng một "loại keo thực vật" nào đó, như loại "dầu rái" chẳng hạn, để có thể kết dính những viên gạch lại, theo kiểu xây cất thông thường. (d) Gần đây nhất, một số nhà nghiên cứu Tây Phương đến dùng cácdụng cụ khoa học để khảo sát để đi đến kết luận: Người Chăm - Pa trước đây đã xây tháp bằng gạch đồng thời cũng dùng loại "bột gạch" để dùng loại hồ vữa.
Những giả thuyết trên đây có một vài cơ sở, nhưng cách giải thích vẫn còn nhiều chỗ chưa được thoả đáng và thuyết phục được. Những bí mật trong việc xây tháp Chăm - Pa vẫn trong vòng huyền bí.
Mặc dù nghệ thuật kiến trúc Chăm - Pa đã trải qua nhiều thế kỷ, nhiều phong cách khác nhau, đặc điểm cũng đã khác nhau theo từng công trình một của họ, nhưng dù sao, nhìn tổng quát, có thể rút ra được một số ghi nhận chính yếu như sau: Ngoại trừ một vài kiến trúc tháp đơn độc, còn phần lớn các kiểu kiến trúc Chăm - Pa tạo nên một quần thể kiến trúc hoà hợp với nhau.
Những quần thể quy mô như Mỹ Sơn, Đồng Dương, Trà Kiệu... là những quần thể kiến trúc với nhiều cụm đền tháp, tu viện, nhà đón khách, nhà chuẩn bị cho việc hành lễ... Những quần thể kiến trúc nhỏ hơn như Pô Nagar, Pô Klong Girai... đều tập trung vào một số tháp và công trình chính mà thôi.
Thông thường, mỗi quần thể như vậy thường có một hay vài tháp trung tâm (những tháp hay điện thờ chính yếu) và quy tụ các tháp, các công trình khác. Những kiến trúc trung tâm thường trải dài theo hướng bắc - nam và được xếp đặt gần gủi với nhau. Những toà nhà phụ thường xây theo chiều dài có các cửa phụ ở hai hướng bắc nam, còn cửa chính vẫn quay về hướng đông, trùng với cửa chính của tháp chính.
Rõ ràng là các yếu tố phong thủy đã được đề cập đến trong hầu hết các thức kiến trúc nầy. Người Chăm quan niệm: Hướng đông chính là "hướng của Thần Thánh". Một số toà nhà phụ có mái võng xuống, mà có tác giả gọi là "mái hình thuyền" gợi nhớ đến các lối kiến trúc được ghi trên kiểu trống đồng Đông Sơn (Heger I). Những toà nhà phụ có thể là những nơi chứa đồ vật, các vật dâng hiến, hay nơi dừng chân của những khách hành hương từ các vùng xa xôi đến, trước khi lên tháp chính để hành lễ. Nếu là nơi dừng chân cho những khách đến hành hương trước khi lên lễ tháp chính thì những toà nhà nầy thường chạy dài theo hướng đông tây, có mái che đơn giản.
Một số quần thể kiến trúc có thểcó vòng tường vây bọc chung quanh. Những đền thờ Chăm hay tháp Chăm thường được xây theo dạng hình vuông hay hình chữ nhật, một cửa chính quay về hướng đông, đôi khi trong một tổng thể kiến trúc có tháp có hai cửa, cửa chính quay về hướng tây, chầu về tháp trung tâm; cửa kia quay về hướng đông.
Ngoài cửa chính, các tháp Chăm còn có các loại cửa giả ở các hướng còn lại, hai hay ba cửa giả cũng giống như cửa chính, với những vòm cuốn và những ô trám tường. Cửa chính có một phần nhô ra, phần tiền sảnh là một lối đi hẹp, để từ các bậc cấp bên ngoài dẫn vào bên trong cửa tháp. Trên cửa chính thường có một phù điêu bằng đá, trong khung hình bán nguyệt hay hình lá đề, mà nhiều tác giả thường gọi là "lá nhĩ" (tympanum).
Phù điêu thường chạm hình những vị thần tôn giáo Bà La Môn, để nhấn mạnh đến vị Thần chính được thờ bên trong của tháp đền. Các tháp và đền Chăm thường rất chú trọng đến chiều cao, bằng những thủ thuật kiến trúc, trang trí, như các cột ốp tường, các cửa giả và đặc biệt là các tầng nấc ở bên phía trên.
Các tầng bên trên thường là mô phỏng thu nhỏ theo các tầng lớp phía dưới, cứ như vậy, ít nhất là từ 3 tầng trở lên và cuối cùng trên đỉnh là một phiến sa thạch tròn hình "linga".
Các tháp Chăm luôn tìm về một không gian chiều cao, nên về sau, các nhà kiến trúc Chăm thường xây dựng các tháp trên những đồi cao, luôn tạo cho tầm mắt người chiêm ngưỡng hướng lên, điều đó hoàn toàn thích hợp với các kiến trúc có mục đích tôn giáo và gợi sự tích núi Mêru, "nơi ngự trị của các vị Thần thánh", theo ý nghĩa của người dân Chăm - Pa.Hoa văn: hầu hết nhưng tháp và đền Chăm - Pa cũng như các công trình kiến trúc khác của họ thường bao phủ bên ngoài là một thức trang trí hoa văn dày đặc.
Có nhiều kiểu dáng hoa văn khác nhau,như cách trang trí tại các tháp ở Hoà Lai hay tại vùng đất thánh Mỹ Sơn. Khó mà ghi chép hết được tất cả những họa tiết hoa văn của các đền tháp, vì mỗi nơi trình bày theo mỗi điệu thức hoàn toàn khác nhau, mà thông thường có nội dung tôn giáo, căn cứ theo kinh điển Hồi Giáo hay Phật Giáo.
Đây chính là nét đặc trưng trong nghệ thuật trang trí và điêu khắc Chăm - Pa, so với nhiều kiểu thức kiến trúc của các nước vùng Đông Nam Á. Để có thể trang trí hết được những hoa văn phong phú như thế, các nghệ sĩ điêu khắc Chăm - Pa thường đục khắc thẳng lên chất liệu gạch mặt tường của tháp đền. Điều nầy thường rất phổ biến; ở mộtvài tháp như Hoà Lai, Pô Nagar, hãy còn những công trình điêu khắc còn đang dang dở, nên dạng phác họa và những nét chạm còn chưa hoàn thành.
Chất gạch của những tháp Chăm có những tính đặc biệt, quả thật là một chất liệu lý tưởng cho việc điêu khắc, không thua gì nhiều chất liệu thông dụng khác. Các nhà kiến trúc và điêu khắc Chăm đã làm chủ được chất liệu gạch; đây là một khám phá mới mẻ và độcđáo của họ, đã để lại cho đời sau những công trình văn hoá tuyệt vời và quý giá; tất cả đều mang màu sắc riêng, đều có nét sáng tạo độc đáo.

Thánh địa Mỹ Sơn

Thánh địa Mỹ Sơn nằm trong thung lũng Mỹ Sơn, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 71 cây số về phía Tây - Tây Nam. Nhìn chung đây làmột quần thể của nhiều công trình kiến trúc Chăm - Pa hiện còn lớn nhất với nhiều đền tháp được xây dựng từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ XIII. Theo bảng thống kê của nhà nghiên cứu người Pháp H. Parmentier vào những năm 1904 và 1908, khu vực Mỹ Sơn có tất cả là 70 kiến trúc đền tháp.
Mỹ Sơn là thánh địa của quốc vương Chăm – Pa trong nhiều thế kỷ trước. Ngoài những kiến trúc, điêu khắc đền tháp ra, tại thánh địa Mỹ Sơn lại còn khai quật được khối lượng bi ký Chăm - Pa có niên đại vào cuối thế kỷ thứ IV cho đến thế kỷ XIII.
Thật ra, thánh địa Mỹ Sơn và những vùng lăng mộ của người Chăm - Pa chung quanh đã được một nhà du khảo người Pháp là M. C. Paris phát hiện vào năm 1898 và có một số công bố sơ khởi trên một tạp chí khảo cổ học tại Paris trong thời gian đó; trong khoảng tiền bán thế kỷ thứ XX, cũng có nhiều nhà khảo cổ và khoa học ngoại quốc quan tâm đến việc nghiên cứu, khảo tả.
Sau thế kỷ thứ II, khi người dân huyện Tượng Lâm nổi lên tranh đấu giành được nền độc lập, dựng nên tiểu vương đầu tiên của Chăm - Pa, thì vùng đất Quảng xưa nằm trong vùng Amaravati - trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng của Vương quốc nầy.
Nơi đây còn lưu lại những di tích, di chỉ như: Trà Kiệu - thành Sư Tử (Simhapura) - kinh đô đầu tiên của Vương quốc Chăm - Pa, đượcdựng lên toàn bộ vào thế kỷ thứ IV. Tiếp theo đó là Đồng Dương Phật Viện Lasmindra - Lokesvara- Trung tâm kiến trúc Phật Giáo Chăm - Pa nổi tiếng được xây dựng vào năm 875 - 878.
Những công trình được nối tiếp sau đó là: Khương Mỹ, Chiên Đàn, Bằng An... và trung tâm kiến trúc Ấn Độ Giáo: Thánh địa Mỹ Sơn. Với một tổng thể kiến trúc, điêu khắc khoảng 70 công trình (theo Parmentier) được xây dựng liên tục từ thế kỷ thứ IV cho đến giữa thế kỷ thứ VIII với những cuộc trùng tu thêm, thánh địa Mỹ Sơn đã trở thành thánh địa Ấn Độ Giáo lớn nhất và quan trọng nhất của Vương quốc Chăm - Pa. Nhiều nhà nghiên cứu Tây Phương trong trường Viễn Đông Bác Cổ nhận định: Thánh địa Mỹ Sơn là một trong những di tích có giá trị bậc nhất trong vùng Đông Nam Á, có thể so sánh với di tích Pangan (Myanma), Borobudua (Indonesia) hay Angkor (KPC).
Địa thế Mỹ Sơn:
Gần làng Mỹ Sơn, nay thuộc địa phận xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, có một thung lũng mang tên ngôi làng nhỏ đó. Thung lũng nầy gần như hình tròn với bán kính khoảng 2 cây số, vĩ độ 17,51, kinh độ 117, 53, cách thành phố Đà Nẵng 68 cây số về hướng tây - tây nam.
Bao quanh thung lũng là một hệ vòng thúng núi đất và núi đá có độ cao từ 120 mét cho đến 350 mét, cao nhất là đỉnh Răng Mèo (750 mét). Nhiều nguồn nước nhỏ từ các sườn núi dồn nước vào con suối lớn, có tên là suối Thẻ. Con suối nầy chảy ra khỏi thung lũng theo hướng bắc, đổvào sông Thu Bồn ở thượng nguồn (vùng Giao Thủy).
Đi vào trong thung lũng nầy, từ xưa đến nay chỉ có một lối đi duy nhất, men theo suối Thẻ mà thôi. Có lẽ sự khép kín, hiễm trở cuả thung lũng nầy phù hợp với yêu cầu kiến trúc tôn giáo thiêng liêng, cũng như an toàn của công trình kiến trúc, sự ổn định của tâm linh, cho nên trong lịch sử nơi đây, hoàng tộc Chăm - Pa đã chọn làm nơi xây dựng thánh đường của Vương quốc Chăm - Pa.
Một tấm bia dựng ở Mỹ Sơn vào cuối thế kỷ thứ IV, thời vua Bhadravarman I có ghi như sau "... Ngài đã cúng dâng cho vị thần Bhadrevara một khu vực vĩnh viễn, phía đông là núi Suhala, phía nam là núi Mahaparvata (Đại Sơn hay Răng Mèo), phía tây là núi Kusala... để làm ranh giới..."
Ngoài ra tính chất hiểm trở của vùng thánh địa Mỹ Sơn cũng là nơi an toàn cho hoàng tộc Chăm - Pa, phòng những khi xẩy ra biến động như thường thấy trong lịch sử vủa Vương Quốc nầy. Thành thử Mỹ Sơn là di tích duy nhất trong tổng thể văn hoá Chăm- Pa được dựng lên trong một không gian khép kín lại, diện tiếp xúc với thế giới bên ngoài tương đối hẹp so với những công trình kiến trúc Chăm - Pa khác trong toàn bộ di tích văn hoá của Vương Quốc nầy.
Khảo cổ học ở Mỹ Sơn
Những công trình khai phá khu vực Mỹ Sơn trải qua nhiều năm tháng. Vào những thập niên cuối của thế kỷ XIX, sau khi hoàn thành công cuộc xâm lăng bán đảo Đông Dương và Việt Nam, thực dân Pháp bắt tay vào việc thâu tóm tài nguyên.
Với kinh nghiệm tìm kiếm trên đất Kampuchia trước đó, khi đặt chân lên dãy đất miền Trung Việt Nam, tiếp xúc với những công trình kiến trúc Chăm - Pavà các tác phẩm điêu khắc đá của dân tộc Chăm - Pa, các học giả Pháp đã thực sự ngỡ ngàng về dấu tích còn lại của một nền văn minh đã tắt.
Họ tổ chức điều tra, khảo sát trên địa bàn từ vùng Quảng Bình chạy dài cho đến vùng Tây Nguyên hẻo lánh qua những tuyến nghiên cứu khác nhau và phương tiện khác nhau. Mặc dù sục sạo kiếm tìm với hàng trăm tác phẩm điêu khắc bằng đá đã kiếm được hay toàn bộhệ tháp đền tháp còn lại rải rác dọc dải đất miền Trung, tuy nhiên họ vẫn cảm thấy còn những điều quy mô hơn. Thành thử chỉ khi phát kiến được thánh địa Mỹ Sơn, những khó khăn nầy mới được giải toả.
Sau nhiều năm điều tra, nghiên cứu vùng kinh đô cũ Trà Kiệu (Sinhapura), năm 1898, ông C. Paris theo chỉ dẫn của dân địa phương, đã tiến hành cuộc khảo sát kỹ vùng thượng nguồn của con sông Thu Bồn. Vượt qua những dải đồi thấp, men theo một nhánh sông nhỏ, ông và đoàn tùy tùng đã vào một thung lũng hẹp, bốn bề toàn núi non hiễm trở, cây cối rậm rạp; ngay khi đó đã tìm rađược dấu tích cả một quần thể kiến trúc cổ, nằm ẩn dưới tàn cây rừng nhiệt đới.
Công cuộc phát hiện nầy thự sự đã làm nền tảng căn bản cho công cuộc nghiên cứu một cách có hệ thống về di tích, di chỉ của nền văn hoá Chăm - Pa, do số lượng di tích khá phong phú, mật độ tập trung đậm đặc, quy mô to lớn, hiếm có, loại hình rất phong phú, được thu gọn tất cả trong một địa hình hẹp. Đó làmột thung lũng, nằm trong địa bàn của thôn Mỹ Sơn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Do đó, những nhà nghiên cứu nầy dùng đến danh xưng "Khu di tích Mỹ Sơn".
Những công cuộc phát hiện ban đầu của C. Paris đã thực sự thu hút óc hiếu kỳ của nhiều nhà khảo cổ học khác. Di tích Mỹ Sơn từ đó đã được nhiều người quan tâm trên nhiều bình diện khác nhau. Họ bắt đầu nghiên cứu có hệ thống và trình tự, làm nền tảng đi sâu vàobản chất văn hoá tại đây.
Một số bài báo phát biểu những công trình nghiên cứu đại cương, nhưng ảnh hưởng không nhỏ. Vào khoảng 1901 - 1902, hai nhà khảo cổ học L. Finot và L. Lajonquière nhẫn nại đi sâu vào hơn, bỏ công sức tìm kiếm nhiều chi tiết khác, để tập hợp toàn bộ văn bia Chăm - Pa trong khu vực. Có 31 tiêu bản bi ký Chăm - Pa thời cổ, mà trong số đó, có 16 văn bản cung cấp chính xác niên đại cụ thể của một số di tích làm nền tảng cho việc nghiên cứu khoa học hơn.
Theo đây, niên đại sớm nhất ghi trên bi ký thuộc thế kỷ thứ VI (579); niên đại muộn nhất thuộc thế kỷ XII (1166). Dựa vào những chứng liệu trên những bi ký vừa kể, các nhà khảo cổ học đã xác định: thung lũng nầy được chọn làm một trung tâm văn hoá quan trọng của Chăm - Pa làm nơi xây dựng đền thờ các vị thần Ấn Độ Giáo.
Nhà vua Bhadravarman I là người có công đầu tiên phát khởi trong toàn bộ công trình, xây đền thờ thần Bhadravasra. Những công trình kiến trúc liên hệ đến Ấn Độ Giáo cũng đã được tuần tự xây dựng trong những thế kỷ kế tiếp. Qua những công trình lớn lao nầy người ta đã mệnh danh Mỹ Sơn là "Thánh địa của Vương quốc Chăm - Pa.
Công trình Parmentier: Vào đầu năm 1901, song hành với việc nghiên cứu các loại văn biatrong vùng Mỹ Sơn, nhà khảo cổ H. Parmentier cùng với C. Carpeauđã tiến hành chặt phát cây cỏ quang đảng hơn, để chuẩn bị cho việc tiến hành khảo sát tổng thể khu du tích, ra công khảo tả từng kiến trúc, đồng thời cũng đã tiến hành khai quật khảo cổ học cho đến năm 1904. Theo hai nhà nghiên cứu nầy, đã thống kê được 71 di tích.
Theo bảng thống kê của nhà nghiên cứu người Pháp H. Parmentier vào những năm 1904 và 1908, khu vực Mỹ Sơn có tất cả là 70 kiến trúc đền tháp. Mỹ Sơn là Thánh địa của quốc vương Chàm trong nhiều thế kỷ trước. Ngoài những kiến trúc, điêu khắc đền tháp ra, tại thánh địa Mỹ Sơn lại còn khai quật được khối lượng bi ký Chàm có niên đại vào cuối thế kỷ thứ IV cho đến thế kỷ XIII.
Thật ra, thánh địa Mỹ Sơn và những vùng lăng mộ của người Chăm - Pa chung quanh đã được một nhà du khảo người Pháp là M. C. Paris phát hiện vào năm 1898 và có một số công bố sơ khởi trên một tạp chí khảo cổ học tại Paris trong thời gian đó; trong khoảng tiền bán thế kỷ thứ XX, cũng có nhiều nhà khảo cổ và khoa học ngoại quốc quan tâm đến việc nghiên cứu, khảo tả.
Những công trình đó đều được công bố thêm với nhiều khám phá thích thú không ngờ. Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (E.F.E.O.) đã tiến hành nhiều đợt trùng tu, bảo tồn di tích nầy trong những năm 1911, 1924, 1942 và 1943, do sự đóng góp của nhiều nhà Mạnh Thường Quân và những trung tâm văn hoá thế giới bảo trợ. Nhưng từ năm 1945, nhất là hai cuộc chiến triền miên, thì thánh địa Mỹ Sơn đã bị hoang phế, và hư hại nhiều vì bom đạn, tiêu thổ kháng chiến. Tính ra những phần còn lại hiện nay chỉ vào khoảng 1/10 kiến trúc ngày trước mà thôi.
Theo bản văn của một tấm bia còn sót lại ở vùng thánh địa Mỹ Sơn có cho biết những chi tiết như sau: Bhadravarman I là nhân vậtđầu tiên đã cho xây dựng một số đền thờ vào cuối thế kỷ thứ IV và đầu thế kỷ thứ V. Những ngôi đền nầy thờ vua Thần Bhadresvara và những đệ tử. Thật ra đây là sự kết hợp giữa tên vua Bhadravarman và tên Thần Isvara hay Thần Siva - một tục thờ cúng tổ tiên và vua- Thần, tín ngưỡng chính của nhiều vương triều Chàm).
Cũng theo văn tự ghi trên bi ký nầy, thì ngôi thờ đầu tiên nầy được kiến trúc bằng gỗ trước khi được trùng tu lại bằng gạch. Ngôi đền đầu tiên đó tồn tại khoảng hai thế kỷ nhưng rồi cũng đã bị thiêu rụi sau một cơn hoả hoạn do cái nóng ghê gớm của nhữngcơn gió Lào. Đó là giai đoạn của vua Rudravarman (529 - 577), Sambhuvarman, người kế vị Rudravarman đã cho xây dựng lại ngôi đền của tổ tiên mình, bằng những vật liệu có sức chịu đựng bền vững hơn.
Đồng thời, cũng còn thờ vị Thần có tên là Sambhuvarman (tức là sự kết hợp của vua Sambhuvarman với vua Bhadravarman vàlinh thể của Thần Siva nối tiếp truyền thống của các vương triều Chàm trong quá khứ). Kể từ thế kỷ thứ V trở về sau, nhiều triều đại hưng thịnh cũng như suy vi, các vương quốc Chàm đã kế tục nhau gần chín (9) thế kỷ không ngừng xây dựng và trùng tu nhiều thể loại đền tháp, bia ký trong khắp vùng thánh địa Mỹ Sơn.
Khu lòng chảo Mỹ Sơn
Theo thống kê và khảo tả của nhà nghiên cứu người Pháp H. Parmentier năm 1904 và 1909, tại vùng lòng chảo Mỹ Sơn (tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng) có tất cả 70 kiến trúc vùng. Những kiến trúc đó được ông phân thành từng khu vực như sau: 1- Khu A và A' : Khu tháp Chùa có 19 di tích. 2- Khu B, C và D (tức khu tháp Chợ) có 27 di tích. 3- Khu E và F (tức khu Hố Khế) có 12 di tích. 4- Khu H (tức khu tháp Bàn Cờ) có 4 di tích. 5- Khu G có 5 di tích. Ngoài ra, lại còn các khu lẻ tẻ khác, được đánh dấu theo các kýhiệu là K, L, M, N, O. Mỗi khu nầy chỉ có từ 1 đến 2 di tích mà thôi. Tuy nhiên, hiện nay chỉ còn lại không đến 1/10 những di tích đã nêu lên trên. Cụ thể là: 1- Khu tháp Chùa với ngọn tháp thuộc A1 đồ sộ và tuyệt mỹ đã trở thành một đống gạch khổng lồ. 2- Khu tháp Chợ bị hư hỏng khá nhiều đến 87%. 3- Khu G còn nguyên như xưa, tuy nhiên cũng bị sụp đổ nhiều chỗ khá quan trọng. 4- Khu Hố Khế: bị sụp đổ hoàn toàn. 5- Khu Bàn Cờ: hiện giờ chỉ còn lại một góc nhỏ của tháp mà thôi.
Mặc dù sự phân nhóm nầy còn có một số chi tiết chưa phù hợp trong việc nghiên cứu tổng thể, tuy nhiên cho đến nay vẫn được các nhà nghiên cứu thừa nhận nguyên tắc phân chia nầy. Kết quả khảo sát và khai quật được H. Parmentier cùng các đồng sự công bố trong công trình lớn, gồm có 4 tập nhan đề "Inventaire descriptif des monuments Chăm de l'Annam”.
Đây là công trình tổng thể về các di tích văn hoá Chăm - Pa, trong đó các công trình kiến trúc trong vùng Mỹ Sơn và các di vật liên quan chiếm một địa vị quan trọng. Công trình nầy đã đặt nền tảng cho việc nghiên cứu văn hoá Chăm -Pa, mà bất cứ nhà nghiên cứu nào cũng dẫn đến, mỗi khi muốn tiếp cận nghiên cứu nền văn hoá nầy.
Trong 71 công trình kiến trúc cùng các tác phẩm điêu khắc cho thấy: Mỹ Sơn là khu di tích phong phú nhất về số lượng cũng như về số lượng nghệ thuật trong văn hoá Chăm - Pa. Niên đại các di tích kéo dài suốt từ phong cách Mỹ Sơn Mỹ Sơn E1 (đầu thế kỷ thứ VIII) cho đến phong cách Bình Định (thế kỷ XII - XIV).
Tiếp đến nhiều thập niên sau là những cuộc nghiên cứu, điền dã của nhiều học giả, để tạo thêm cơ sở hình thành các công trình nghiên cứu đồ sộ sau nầy về nền văn hoá Chăm - Pa và Mỹ Sơn đã trở thành địa danh quen thuộc với những ai đến thăm và tiếp cận với nền văn hoá cổ nầy.
Sau năm 1945, do những biến động chính trị và quân sự không ngừng trong vùng nầy, với vị thế đặc biệt của vùng Mỹ Sơn, nơi đây đã trở thành chiến trường liên tục. Di tích nầy ngày càng bị phá phách, cho nên các nhà nghiên cứu đã không tài nào đến tham quan, tìm hiểu hay khai thác gì được thêm.
Công trình kiến trúc Mỹ Sơn được đánh giá đẹp nhất là tháp A1 thì đã bị sụp đổ hoàn toàn thành đống gạch vụn; các tháp khu A10, các tháp nhỏ chung quanh đó cũng không tránh khỏi số phận nầy. Những khu B, khi E, khu F... cũng bị bom đàn cày nát. Thêm vào đó, khí hậu khắc nghiệt miền nhiệt đới đã góp phầm làm cho các đền tháp bị cây cỏ che lấp, hoang tàn. Mỹ Sơn trong hoàn cảnh đó tưởng chừng như chỉ còn phảng phất trong trí nhớ người trước. Thời gian gần đây, với sự tiếp tay của nhiều cơ quan văn hoá nước ngoài, Mỹ Sơn đã bắt đầu được khởi sự phục hồi.
Bảng tống kê trước khi đi vào phục chế cho biết: Trong chiến tranh vừa qua, tháp A1 cổ nhất và lớn nhất có chiều cao 24m và khu F bị bom đạn làm sụp đổ hoàn toàn. Các tháp khác đều hư hỏng, tình trạng kỹ thuật đã gãy đổ đi nhiều, những tháp nầy có nguy cơ sụp đổ xuống bất cứ lúc nào có một chuyển động nào đó.
Chương trình trùng tu dù tối thiểu và khiêm tốn đã được tiến hành từ năm 1981; một số đền tháp ở Mỹ Sơn được đo vẽ khảo sát, lập kế hoạch trùng tu từng bước. Trong khoảng thời gian 1982 đến 1986, các khu tháp B, C, D được tu bổ. Từ năm 1987 cho đến nay, các tháp A, D được quan tâm sửa chữa từng bước một. Nhìn chung lại, các nhóm tháp sau khi trùng tu (nhóm A, B, C, D) tình trạng kỹ thuật được phục hồi tương đối khá hơn trước. Tuy nhiên đây cũng chỉ là bước khởi đầu.
Kiến trúc Mỹ Sơn
Công trình phục hồi, phục chế lại di tích Thánh địa Mỹ Sơn phải dựa theo những tài liệu nghiên cứu trước; đáng kể nhất là các công trình khảo tả và đồ bản của H. Parmentier được ấn hành tại Pháp từ năm 1908 cho đến 1948.
Kiến trúc nguyên thủy: Phần tài liệu sau đây được dẫn theo những tập Inventaire descriptif des monuments Cam (Chăm) de l' Annam (B.E.F.E.O.) Paris, Leroux 1909 - 1918, do viện Nghiên cứu Đông Nam Á đúc kết. Nhìn chung, hợp thể di tích Mỹ Sơn có thể là khu thánh địa của kinh đô Chăm - Pa đầu tiên, Sinhapura ở Trà Kiệu.
Hợp thể nầy làmẫu hình đẹp nhất của nghệ thuật nguyên thủy Chăm - Pa như nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến; đây cũng là kiệt tác của nghệ thuật Chăm - Pa, vì toàn bộ khu kiến trúc lộng lẫy nầy vốn có thể được dựng lên tại kinh đô Chăm - Pa mà nay không còn nữa. Hợp thể gồm có một loạt đền miếu dựng san sát tuy nhiên các yếu tố kiến trúc không phải được dựng lên cùng một thời gian. Ngôi đền chánh (nhóm A, theo ký hiệu của H. Parmentier) tọa lạc trên vị trí một kiến trúc thời trước bằng vật liệu nhẹ, tạo dựng từ thế kỷ thứ V. Toà điện trung tâm, tháp A1 (những ký hiệu nầy là của Parmentier) có hai lối vào, cửa chính được mở ra phiá tây, trái với quan niệm chính thống Chăm - Pa là phải mở ra hướng đông.
Một thềm bậc nâng cao toà điện lên, chung quanh có 6 ngôi đền: tất cả kiến trúc trang nhã. Nhóm B - C - D gồm có hai ngôi đền và một khuôn sân chung ở phía mặt tiền. Toà điện ở khu C1 có hình dáng nguyên sơ chỉ thấy ở buổi đầu của nghệ thuật nguyên thủy Chăm - Pa: một gian hình chữ nhật, có tầng lửng hẹp hơn với hai đầu hồi.
Những chi tiết bố cục khác thì cũng tương tự như các tháp bình thường của nghệ thuật Chăm - Pa, chẳng hạn như tháp B3 nằm cạnh đó. B3 là kiến trúc phụ của ngôi đến mang ký hiệu "B", đồng đại với các toà điện A1, C1và nhà D1.
Đây là loại kiến trúc rất phổ thông trong hệ thống đền tháp Chăm - Pa. Để có một khái niệm chính xác trong thể dáng kiến trúc nầy, có thể nghiên cứu cách miêu tả của nhà khảo cổ học Parmentier như sau:
Trụ ốp (Pilastre): có nhiều trụ sát liền với nhau. Mỗi trụ chiathành hai băng dọc trang trí hoa lá. Mỗi trụ đều được phân chia ra thành hai băng dọc trang trí hoa lá, được trải đều ra các mặt. Diềm trục thì được trang trí hoa lá chạm lộng; chân trụ thì chạy những dãy con tiện.
Đây là kiểu kiến trúc để làm cho thoáng khí các kiến trúc bằng loại vật liệu nhẹ. Mặt lõm giữa hai trụ thì lại được khung lại bằng những đường gờ nổi. Dưới chân có những ô khám, tạo bằng hai trụ nhỏ, để nâng đỡ một vòm trang trí những hình hoa lá; trong mỗi ô khám đều có tạc pho tượng.
Đây là một "mô típ" phổ biến trong nghệ thuạt Ấn Độ thời cổ. Diềm của các trụ ốp góc thì trang trí bằng những phiến đá mỏng, vươn ra ngoài,tạo cho kiến trúc một dáng vẻ mạnh bạo.
Khung cửa (cửa thật và cửa giả): được kiến trúc giống như ô khám ở chân trụ, tuy nhiên, trụ nhỏ tròn ở ô khám được thay thế bằng trụ lớn hình con tiện. Trên mi cửa, có lá nhĩ hình cung nhọn, trang trí lá xơ đầu. Hình hai con "makara" nằm phục ở hai bên chân lá nhĩ. Ở giữa, những cuốn lá tạo hình chữ "U" ngược, che trên đầu tu sĩ đứng tụng niệm ở dưới.
Các tầng trên: Tất cả đều được trang trí cũng giống như thân chính, tuy nhiên, mỗi tầng lại trông như cắm sâu đến 3/4 vào thân dưới. Trên chóp xây theo hình bát giác.
Nguồn gốc kiến trúc: Nhà khảo cổ học H. Parmentier đặt vấn đề: Taị sao ở Mỹ Sơn lại xuất hiện đột ngột những toà kiến trúc hoàn chỉnb như vậy, không thấy có sự dè dặt, mò mẫm trong xây dựng.
Đây là kết quả của kiểu thức kiến trúc vào thế kỷ thứ VII, bằng những vật liệu nhẹ, nhưng nay thì không còn lại vết tích nữa. Có thể, đây là cách suy đoán từ toà điện E1, đến nay chỉ lại những phế tích cao khoảng 1 mét, ngày trước xây dựng bằng những vật liệu hỗn hợp.
Tường xây bằng gạch, bao quanh bốn cột gỗ lớn; đến nay chỉ còn lại dấu vết phân chân cột đá mà thôi. Phần trên thì xây dựng bằng vật liệu nhẹ, bằng gỗ, để tựa lên những cột cũng như những tường bao quanh. Với nhận xét nầy, nhà khảo cổ học đã phục chế lại nguyên vẹn toà đền đài mang ký hiệu B3. Kiểu kiến trúc nầy được chú trọng nhiều đến phần điêu khắc ở cột chính, ở những cột trốn, ở xà và ở đấu.
Nhà khảo cổ học nầy cũng muốn chứng minh thêm giả thuyết cũng mình bằng cách phân tách thêm phần trên của các tháp khác, phần trang trí mặt ngoài. Theo ông, kiểu xây dựng hỗn hợp nầy rất phổ biến trong vùng Đông Nam Á thời đó. Với tính chất nầy, ông gọi tên là "nghệ thuật nguyên thủy".
Những thể dáng kiến trúc tháp
Riêng về những ngôi tháp xây dựng trong khu di tích, ở thánh địa Mỹ Sơn có 7 "đại diện" (theo Parmentier), thậm chí là đại diện tiêu biểu của tất cả các giai đọan và các phong cách nghệ thuật kiến trúc Chăm - Pa. Cho đến nay, những nhà nghiên cứu nghệ thuật Chăm - Pa trong và ngoài nước vẫn phải dựa vào bảng "phân loại phong cách nghệ thuật kiến trúc Chăm - Pa" do nhà nghiên cứu người Pháp là P. Stern đưa ra từ năm 1942.
Theo S. Stern, nghệ thuật Chăm - Pa phát triển liên tục với nhau theo các phong cách như sau: (1) Phong cách cổ (2) Phong cách Hoà Lai (3) Phong cách Đồng Dương (4) Phong cách Mỹ Sơn A1 (5) Phong cách chuyển tiếp giữa Mỹ Sơn A1 và phong cách Bình Định (6) Phong cách Bình Định (7) Phong cách muộn.
P. Stern cũng đã xác định và ghép các đền tháp Mỹ Sơn vào lịch sử các phong cách nghệ thuật Chăm - Pa theo hệ thống như sau: (1) Thuộc phong cách cổ thì có Mỹ Sơn F1 (2) Thuộc phong cách Hoà Lai thì có Mỹ Sơn F3, Mỹ Sơn A'2 và Mỹ SơnF7; (3) Thuộc phong cách Đồng Dương có Mỹ Sơn B4, Mỹ Sơn A11 -A13, Mỹ Sơn B2 và Mỹ Sơn A10; (4) Thuộc phong cách Mỹ Sơn A1 cóMỹ Sơn A1, phần lớn các tháp của các nhóm B, C, D; (5) Thuộc phong cách chuyển thiếp giữa A1 và phong cách Bình Định thì có Mỹ Sơn E4, F2 và nhóm K; (6) Thuộc phong cách Bình Định và phong cách muộn thì có các tháp nhóm G, nhóm H và tháp Mỹ Sơn B1.
Bản phân tách trên đây cho thấy được một hệ thống các phong cách được kiến tạo theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau.
Cũng theo Stern thì: Trong số khoảng 20 kiến trúc còn lại ở MỹSơn (1942) chỉ một số ngôi tháp ít hư hại, nhưng còn phần lớn đều chỉ còn lưu lại sau nầy một mảng tường, một đế tháp, một phần thân tháp hay chỉ còn vết tích sơ sài không biết được hình dáng, diện tích và chiều cao.
Ngôi tháp B5: Một trong những kiến trúc còn khá nguyênvẹn ở Mỹ Sơn là tháp B5 (thuộc nhóm B trong khu Tháp Chợ). Nhưng đây chỉ là một công trình kiến trúc phụ, trông giống như một kho (Koshagrha) trong quần thể nầy, cho nên ngôi tháp B5 có hình dáng và cấu trúc mô phỏng ngôi nhà dân giã, có bộ mái cong, trông như hình yên ngựa (mái hình thuyền).
Toàn bộ phần thân tháp có bình đồ hình chữ nhật, chạy dài theo hướng đông - tây, mở cửa ra hướng bắc. Cũng như mọi ngôi tháp Chàm truyền thống khác cùng loại, mặt tường bên ngoài của ngôi tháp B5 được trang trí bằng những cột ốp; những ô chữ nhật được sắp đều giữa các cột ốp ấy. Ở hai mặt tường dài (phía tường bắc và tường nam) có 9 cột ốp; mỗi cột đượctạo bởi 2 cột nhỏ sóng đôi với nhau. Trên mặt hai cột nhỏ của mỗi cột ốp, được phủ kín bằng những hoa văn cuộn lá hình tròn.
Phần trên các cột ốp là cả một hệ thống các đường gờ nổi nhô ra, to dần về phiá trên đỉnh. Phần dưới của khoảng tường nằm giữa haicột ốp và choán hết già nửa ô chữ nhật nổi là một hình trang trí theo dạng cửa giả; hình nầy được tạo bởi 2 cột ốp tròn bên dưới cửa vòm hình cung nhọn với 2 đầu vểnh lên ở hai đầu cột.
Trong mỗi ô cửa giả, có 1 hình người đứng chắp tay, tư thế nghiêm trang, trên một toà sen đặt trên đầu voi. Những hình người nầy được chạm trực tiếp sâu vào trong tường gạch, nhưng về đầu người thì lại được làm bằng loại sa thạch, rồi sau đó gắn vào rất công phu.
Khoảng giữa của hai mặt tường ngắn phía đông và phía tây, được trổ thủng, để làm cửa sổ. Mỗi cửa sổ có 3 con tiện bằng đá xinh xắn, nằm dưới một vòm cuốn do hai cột ốp đỡ. Trên mặt phía dưới vòm cửa sổ có chạm hình hai con voi đấu vòi với nhau dưới một tán cây rậm rạp.
Mặc dầu đã bị khiếm khuyết đi nhiều bộ phận, tuy nhiên vẫn còn lưu lại ở đầu các cột ốp nóc, những hình tháp và những hình điêu khắc khá công phu. Tầng thứ nhất của ngôi tháp B5 gần như mô phỏng hoàn toàn phần thân về hình dáng và cấutrúc. Tầng một của tháp đỡ bộ mái hình thuyền đồ sộ, chạy dài theo hướng đông - tây.
Tháp B5 là một trong những ngôi tháp còn khá nguyên vẹn ở thánh địa Mỹ Sơn, thuộc phong cách Mỹ Sơn A1 (thế kỷ X) - một phong cách kiến trúc nhẹ nhàng duyên dáng của nghệ thuật kiến trúc Chăm - Pa.
Ngôi tháp C1: Gần giống với tháp B5 về hình dáng cấu trúc và cũng thuộc giai đoạn của phong cách Mỹ Sơn A1 (thế kỷ X) là tháp C1, ngôi tháp chính của một quần thể kiến trúc duy nhất hiện còn lưu ở Mỹ Sơn. Mặc dù có bình đồ hình chữ nhật, có bộ mái hình thuyền như tháp B5, nhưng tháp C1 to lớn hơn.
Cấu trúc của tháp nầy có 2 phần: tháp tiền sảnh và tháp thờ. Cả 2 phần của tháp C1 đều có cấu trúc, hình dáng và trang trí giống như tháp B5, chỉ có khác là ở giữa các mặt tường phía ngoài không phải là cửa sổ, mà là cả mộtcấu trúc cửa giả lớn, nhô hẳn ra ngoài. Trong mỗi ô cửa giả đều được trang trí bằng một ô khám, có hình người (hay thần) đứng chắp tay bên trong, giống như các cửa giả trang trí trên các ô mặt tường nằm giữa hai cột ốp.
Ngôi tháp D1: Đối diện với tháp thờ chính B1 (hiện nay đã không còn lại nữa) của nhóm B, nằm ngoài vòng tường bao, là ngôi tháp dưới dạng một ngôi nhà dài: tháp D1. D1 là một dạng thức kiến trúc thuộc nhóm B, kiến trúc và điêu khắc như một ngôi nhà đón khách đến hành hương, cũng là nơi chuẩn bị đồ lễ trước khi vào đền thờ chính bên trong. Tất cả những hình trang trí ở tháp D1 đều cùng phong cách với các ngôi tháp của nhóm B, nghĩa là theo phong cách Mỹ Sơn A1 (thế kỷ X).
Hiện nay nhiều phần đã suy sụp như một mái dài lợp ngói phía trên và mặ ttường ở phía nam. Kiến trúc của tháp D1 có bình đồ hình chữ nhật chạy dài theo hướng đông - tây, có 2 cửa ra vào ở 2 tường hồi phiá đông và phía tây. Bức tường còn lại giúp cho chúng ta hiểu được nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và trang trí của toà nhà D1.
Mặt tường bắc (mặt tường còn nguyên vẹn nhất) có 3 ô cửa sổ hình chữ nhật, trong mỗi ô có 3 con tiện bằng đá dáng mỹ thuật như ở tháp B5. Mỗi cửa sổ nằm lọt vào hai cột ốp; trên đầu mỗi cột ốp đều được trang trí hình khắc trên gạch, thể hiện 2 người quỳ lạy, tay cầm vũ khí như chuẩn bị chiến đấu. Trên mỗi ô cữa có chạm hình chữ nhật thể hiện các cảnh trang trí và điêu khắc khác nhau.
Chẳng hạn như ô trên cửa sổ phía đông và ô trên cửa sổ phía tây là cảnh 8 nhân vật ăn mặc sang trọng. Phiá trên các bức chạm nầy là hình những tốp vũ nữ đang nhảy múa trong những tư thế rất sinh động. Cũng như tháp B5 nói trên, mặt tường phía bắc của ngôi tháp D1 cũng được trang trí bằng cách cột ốp, có cấu tạo theo kiểu 2 cột sóng đôi và các ô cửa giả, bên trong có hình người đang chắp tay đứng nghiêm trang trên đầu voi.
Ngôi tháp D2: Song song với tháp D1 và đối diện với tháp thờ chính C1 là một kiến trúc dãy nhà dài: đó lá tháp D2. Cũng như những điểm chính của tháp D1, tháp D2 không phải thuộc về cụm kiến trúc khác mà là toà nhà đón khách thập phương và chuẩn bị đồ lễ trước khi vào tháp thờ chính C1.
Về nhiều mặt, toà nhà D2 có nhiều nét giống toà nhà D1, tuy nhiên những hình trang trí tương đối ít hơn và đơn giản hơn.
Mặt tường ngoài của toà nhà D2 không có những hình chạm hoa văn, mà chỉ có những đường gờ chạy dài hình chữ nhật, không có hình người đứng trên các mặt tường ở khoảng giữa các cột ốp; phía trên các cửa sổ chỉ có hình các vũnữ đang múa, chứ không có các ô chạm khắc các cảnh sinh hoạt. Tất cả những điều giản lược nầy đã nói lên kiến trúc D2 thuộc vào giai đoạn cuối cùng của phong cách Mỹ Sơn A1 (nửa cuối thế kỷ thứ X).
Vấn đề tín ngưỡng tại Thánh địa Mỹ Sơn
Tại những khu di tích Chăm - Pa, trung tâm của một nhóm đền tháp bao giờ cũng là những điện thờ lớn, có nhiều tầng, mà người Chàm gọi là "Kalan" (đền thờ). Ngoài những Kalan chính, thờ những vị Thần khai sáng, trong những nhóm đền tháp lớn, còn có các "Kalan nhỏ", thường được xây dựng rãi rác bên trong của vòng tường bao bọc hay những khu lân cận, kể từ ngoài vào.
Những đền thờ phụ nầy tổ chức thờ cúng, lễ bái các vị Thần khác của Ấn Độ Giáo hay những vị thần "Phưong hướng" mà người Chàm thượng gọi là "Dikpalakas". Những kiến trúc về loại nầy thường được xây dựngtrên một địa diện hình vuông. Bốn hướng có bốn cửa, nhưng chỉ có một cửa vào mở ra theo hướng chính của cả nhóm đền tháp; những cửa còn lại thường là những "cửa giả" xây nhô ra trên mặt tường với những điêu khắc tương tự.
Thông thường thì trong lòng của Kalan, đặt một đài thờ bằng đá, có thể là bộ ngẫu tượng "Linga -Yoni" (dương vật và âm vật) hay là hình tượng (Idole) của các vị Thần. Nhà nghiên cứu Trần Kỳ Phương, Giám đốc Viện Bảo Tàng Chàm tại Đà Nẵng nhận định rằng: Những miếu thờ mang ký hiệy từ A2 cho đến A7và cửa chính của Kalan A1 là 8 miếu thờ như sau: 1) Hướng đông: Thờ thần "Sấm Sét" Indra cưỡi voi. 2) Hướng đông nam: thờ thần "Lửa" Agni cưỡi con tê ngưu. 3) Hướng nam: Thờ "Diêm Vương" Yama cưỡu trâu. 4) Hướng tây: Thờ "Bầu Trời" Varuna cưỡi ngỗng. 5) Hướng tây nam: Thờ thần Nairtra (?) cưỡi trên một con Yaksa (Áthần). 6) Hướng tây bắc: Thờ thần "Gió" (Vayu) cưỡi ngựa. 7) Hướng bắc: Thờ thân "Tài lộc" 8) Hướng đông bắc: Thờ "Đấng toàn năng" (Isna) cưỡi bò.
Những đền tháp trong "nhóm B": Nhóm "B" cũng là một nhóm cho nhiều Kalan phụ (miếu thờ). Trong những loại miếu nầy, B3 thờ thần "Chiến Tranh" (Skanda) cưỡicông; miếu B4 thờ thần "Hạnh Phúc" (Ganesa). Những miếu thờ có ký hiệu từ B7 cho đến B13 thì thờ các Tinh Tú (Grha) trên vũ trụ như: thần Mặt trời, thần Mặt trăng, thần Sao Hoả, thần Sao Thủy, thần Sao Mộc thần Sao Kim, thần Sao Thủy.
Lối kiến trúc Kosagrha: Đây là một thể dáng kiến trúc khác, baogiờ cũng nằm trong vòng tường bao quanh và ở về phiá trước, bên phải của các Kalan. Kiến trúc nầy xây trên một nền hình chữ nhật, nội thất tương đối rộng rãi, có từng ngăn chia thành từng kho lễ vật cúng bái; nhiều khi lại còn những lò bếp nấu nướng, nên người Việt thường gọi đó là Tháp Hoả hay Tháp Bếp.
Cửa ra vào của những kiến trúc nầy bao giờ cũng được mở ra hướng Bắc (tức là hướng của Thần Tài Lộc Kuvera), nhưng lại thường lệch về một phía (Tây), chứ không bao giờ ở chính giữa của mặt tường Bắc. Mặt tường đông và tây trổ 2 cửa sổ có các chấn song con tiện bằng đá.
Mặt tường nam của các Kosagrha thì thường được xây kín, trang trí bằng những trụ áp tường (pilastres). Kosagrha chỉ có hai tầng nhưng phần mái cong hình thuyền úp vưon cao và thường được trang trí cực kỳ lộng lẫy ở hai hồi (pignon) đông và tây. Những loại Kosagrha ở Mỹ Sơn là A11, B5, C3, E7, G4 và H4.
Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc
Kể từ năm 1904 tức là khi H. Parmentier thống kê và khảo tả Thánh địa Mỹ Sơn cho đến năm 1947, vùng nầy tương đối yên ổn ngoại trừ những ảnh hưởng khắc nghiệp vùng nhiệt đới tạo ra. Nhưng sau đó, chiến tranh diễn ra triền miên: năm 1947, tàu chiến của Pháp chạy lui tới trên sông Thu Bồn bắn pháo vào khu di tích, nơi ẩn náu của du kích quân; năm 1954 và những năm sau, nhiều trận đánh lại diễn ra tại đây. Nhiều di tích khác lại hư hại thêm nhiều. Năm 1969, máy bay B. 52 ném bom trải thảm vùng nầy, lại hủy diệt một phần khu di tích, trong đó khu A (tháp A1) bị hủy hoại hầu như toàn bộ. Sau đó, dân chúng lại đổ xô vào để tìm lấy gạch đá và nhiều tin đồn có châu báu, vàng bạc Chàm chôn cất, lại đào xới,phá phách.
Mặc dù trải qua những biến cố nầy, cho đến nay, ở đây vẫn còn 20 đền tháp có tường tháp cao từ 1m trở lên; các nhóm tháp B, C, D phần nào vẫn giữ được hình hài của thuở ban đầu. Quy mô những tháp ở Thánh địa Mỹ Sơn vẫn được coi là kỳ vĩ nhất trong vùng của nền nghệ thuật Chăm - Pa.
Chẳng hạn như tháp A1 được nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật quan tâm đến, thì toàn bộ khu tháp nầy được coi là một tạc phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, với những kiểu dáng, đường nét chạm khắc rất tinh tế, công phu, mềm mại, sinh động, mang vẻ đẹp thần thánh.
Đặc điểm nầy cũng là nét đặc trưng chung của những đền tháp trong khu vực Mỹ Sơn. Các đền tháp nầy trước kia đều được xây cất hoàn hảo. Các viên gạch đều được xây xếp mài khít, liền khối nhau, vững chắc, mà cho đến nay chất kết dính trong việc xây cất nầy vẫn là đề tài tranh luận. Trong những đền tháp Mỹ Sơn, chất liệu đá cũng được sử dụng với số lượng khá nhiều, kích thước tương đối lớn, được gọt đẽo hoàn chỉnh, mài cắt nhẵn bóng, vá lắp với nhau với kỹ thuật cao, mà không có một công trình kiến trúc Chăm - Pa nào có được, kể cả những công trình kiến trúc tại Nha Trang hay Phan Rang sau nầy.
Đó là nét riêng của nền kiến trúc Mỹ Sơn và cũng chỉ tìm thấyđược tại Mỹ Sơn mà thôi. Số lượng những tác phẩm điêu khắc ở Mỹ Sơn cũng khá nhiều, đa số đều theo kích thước lớn, khắc tạc rất đẹp, với những đường néttrau chuốt rất kỹ càng.
Nhiều tác phẩm được coi là kiệt tác trong nghệ thuật điêu khắc đá Chăm - Pa, như đài thờ Mỹ Sơn E1. Với số lượng tháp và những tác phẩm điêu khắc đã tìm thấy được, có thể xem Mỹ Sơn là nơi lưu giữ số luợng những tượng, phù điêu, những mảng khắc chạm nhiều nhất trong các di rích văn hoá Chăm - Pa.
Đặc biệt, Mỹ Sơn còn là nơi lưu giữa được số luợng những biký khá lớn của nhiều triều đại nước nầy. Cuộc khảo cứu của các nhà khảo cổ học L. Finot và Lajonquière đã công bố 31 tiêu bản bi ký Chăm - Pa thời cổ, chiếm hơn 1/4 tổng số những bi ký khám phá ra được trên đất Chăm - Pa xưa. Đây là nguồn tài liệu gốc rất đáng tin cậy trong việc khảo cứu, để góp phần tìm hiểu về khu Thánh địa Mỹ Sơn nói riêng, lịch sử Chăm - Pa nói chung.
Nguồn sử liệu Dựa vào những bài văn trên những tấm bia có niên đại vào cuối thế kỷ thứ IV ở Mỹ Sơn cho biết: Nơi đây là vùng đất của vua Bhadravarman I, đã cúng dâng vĩnh viễn cho Thần linh, trong đó có đoạn ghi lại "... Tất cả ruộng đất và cư dân trong phạm vi đó, hoa lợi thu hoạch được đều phải dâng cúng cho thần (...)".
Nhà vua Bhadravarman I đã cho tạo dựng ngôi đền bằng gỗ, để thờ vị thần Bhadresvara. Tư liệu nầy đã xác nhận Mỹ Sơn trở thành khu Thánh địa khá sớm vào thời vua Phạm Phật hay Phạm Hồ Đạt thuộc vương triều thứ II của vương quốc Chăm - Pa (336 - 420). Hơn hai thế kỷ sau, khu đền bằng gỗ nầy không may đã bị phá hủy. Cũng có thể là ngôi đền bằng gỗ nầy đã từng bị thiêu hủy nhiều lần, qua các cuộc Nam phạt của Đan Hoà Chi (466) như trong đoạn văn bia viết "Toàn xứ đã bị chiếm đóng, các đền đài cổ xưa đều bị phá và các tượng thần (bằng đồng) cũng đều bị địch quân nấu chảy...".
Hay là đọan văn bia viết về cuộc xâm lăng của Lưu Phương (năm 605) như sau: "Chúng đã tàn phá kinh thành, bắt hết cư dân cònlại bắt làm tù binh (...); chúng đã lấy đi 18 tấm bài vị bằng vàng của 18 vị vua đã trị vì ở Chăm - Pa". Tiếp theo đó, cho tới thế kỷ thứ VII, vua Kambhuvarman đã cho trùng tu lại ngôi đền thờ thần Bhadravara, có đoạn văn bia:
Nhà vua cho làm lại toàn thể một ngôi đền khác bằng gạch, kiên cố hơn...". Kể từ đó về sau, nhưng nhà vua Chăm - Pa đã liên tục cho xây dựng những ngôi đền thờ mới, hau cho tu bổ lại những ngôi đền cũ, để trở nên vững chắc và trang nghiêm hôn trước. Trong hoàn cảnh đó, Mỹ Sơn trở thành Thánh địa của Vương quốc”.
Căn cứ vào những di tích, di chỉ còn lưu lại đến nay cho thấy rõ rằng: Nếu các nhà nghiên cứu nghệ thuât đã phân chia các công trình kiến trúc và điêu khắc về Chăm - Pa thành nhiều giai đoạn, thì phong cách Mỹ Sơn E1 trở thành "Phong cách đầu tiên", mở đầu cho nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm - Pa, với những đường nét tao nhã, sang trọng, phóng khoáng, mang đậm yếu tố bản sắc văn hoá dân tộc của xứ nầy thời cổ.
Các tác phẩm điêu khắc nổi tiếng, như: đài thờ Mỹ Sơn E1, phầm mi cửa của Mỹ Sơn E1, pho tượng Ganesa của Mỹ Sơn E5... đều thuộc giai đoạn nghệ thuật nầy. Niên đại chung của những công trình nầy là vào cuối thế kỷ VIII.

Những biến chuyển thánh địa Mỹ Sơn

Từ cuối thế kỷ thứ IV, dưới triều Bhadravarman, Mỹ Sơn đã trở thành thánh địa của Chăm - Pa. Những bi ký trong vùng đã nói đếnđến những chương trình xây dựng và trùng tu Mỹ Sơn lên tiếp. Vị thần Bhadresvara là hình ảnh thiêng liêng nhất trong những khu đền tháp nầy. Những đến thế kỷ thứ VI, dưới triều vua Rudravarman, ngôi đền chính thờ thần Bhadresvara chẳng may bị cháy nhưng tình hình chính trị rối ren liên tiếp đã chưa kịp tái dựng..
Vị vua kế là Sambhuvarman đã ra công tu bổ lại toàn thể thánh địa. Tên của vị vua mới (Sambhu) lại được ghép tiếp vào tên của vị thần. Bi ký dựng lên trong giai đoạn nầy có viết "Sambhu đem lại hạnh phúc cho toàn dân Chăm Pa". Đây là giai đoạn hưng thịnh nhất.
Vào thế kỷ VII và XIII, dưới triều Vikrantavarman, triều đình hưng thịnh, nên đã cho xây dựng thêm nhiều đền thờ tại thánh địa Mỹ Sơn. Nhà vua dâng cúng nhiều đất đai, vàng bạc, để gia tăng việc thu bổ trong những đền thờ thần Bhadresvara. Nhưng đến thế kỷ thứ IX, dưới hai triều Hoàn Vương và Đồng Dương, Phật Giáo được hưng thịnh, Mỹ Sơn đã không còn giữ vững vai trò thánh địa quốc gia nữa. Những Mỹ Sơn chưa hẳn bị bỏ quên. Một số bi ký cũng đề cập một số chương trình trùng tu tối thiểu. Pho tượng thần nổi tiếng Isana Bhadresvara tại Mỹ Sơn được tạo dựngtrong thời nầy.
Đến thế kỷ thứ X, Siva Giáo đã lấy lại được vị thế chủ đạo trong đời sống vương quyền Chăm - Pa. Như thế thánh địa Mỹ Sơn lại cócơ hội phục hồi. Phần lớn những công trình kiến trúc điêu khắc đẹp nhất, lớn nhất hiện còn lưu lại tại Mỹ Sơn như tháp A1, nhiều kiến trúc của các nhóm đền tháp chính ở nhóm B, C, D, K, G, H... đều được xây dựng vào thế kỷ thứ X. Tuy nhiên, do các bi ký đã bị phá hủy, chúng ta biết rất ít về việc thờ cúng và xây dựng tại Mỹ Sơn vào thời gian nầy.
Tình hình đất nước Chăm - Pa và khu vực ditích Mỹ Sơn bị tàn phá đã được ghi chép rõ ràng trong bi ký của vua Harivarman IV (lên ngôi năm 1074 và trị vì cho đến năm 1480) như sau:
"Kẻ thù đã xâm nhập vào vương quốc Chăm - Pa và đã làm chủ tại đó; chúng đã cướp lấy nết mọi của cải của nhà vua và mọi của các của các vị thần; chúng cũng đã đốt phá đền đài, tu viện, miếu đạo, làng mạc... Chúng đã tàn phá hết tất cả nhà cửa trong các quận của Vương quốc. Chúng đã đốt phá ngôi đền Srisana Bhadresvara (ý Sơn) và tất cả mọi thứ mà các vua hồi xưa đã đặt trong lãng địa của Srisana Bhadresvara... Ngôi đền nẫy trở nên hoang tàn và không được thờ chúng nữa (...)".
Đọan tiếp bi ký có ghi như sau:
"Cho đến khi vua của Vijaya trị vì, vua đã đánh bại hoàn toàn quân thù, đi đến Nagra. Nước Chăm - Pa đã khôi phục lại được ngôi đền Srisana Bhadresvara mới..."
Vị vua đã có công khôi phục lại Thánh địa Mỹ Sơn sau chiến tranh, Harivarman IV, một trong những vị vua của vương triều mới, dựng kinh đô tại Vijaya. Sau đó thì chiến tranh liên miên với nước Đại Việt và nước Kampuchia. Kết quả là đất nước Chăm - Pa bị tàn phá thêm nhiều lần nưã và đành rút về phương Nam.
Khi vua Harivarman lên ngôi, đã đặt quan hệ tốt với nước Đại Việt, nhưng thời gian thái bình nầy ngắn ngủi, nên công cuộc trùng tu chẳng được bao nhiêu; kế đó, chiến tranh vời quân Khmer và những thế lực cát cứđịa phương. Harivarman chiến thắng (1149), để dần dà phục hồi lại đất nước đã bị tàn phá nặng nề. Sau khi chiến thắng được thù trong, giặc ngoài, vua Harivarman trở lại Mỹ Sơn và đã cho phục hồi lại các đền đài đã từng bị phá hủy trước đây (từ 1150).
Bi ký trong giai đoạn nầy có ghi chép như sau: "Theo đúng một lời thề trước kia, sau khi đánh bại đội quân của Kambu (Kampuchia), nhà vua cho dựng lại ngôi đến Thần Siva, mà đội quân kia đã phá hủy..."
Trong một đoạn bi ký khác tại Mỹ Sơn có chép thêm rằng: "Ngôi đền chính thờ vi Thần tối cao do triều đại Uroja thành lập thì đã bị quân thù phá hủy. Ta thấy,đền thờ vị Thần tối cao cùng các đền đài liên hệ khác đã bị đốt phá, sỉ nhục, to cho dựng lại ngôi đền nầy đẹp đẽ như xưa..."Theo bi ký nầy thì "Thần Srisana Bhadresvara là "thần của các vị thần", được dựng trên đỉnh Vugran".
Kết luận
Cho đến nay, vừa tròn một thế kỷ, Mỹ Sơn được phát hiện nhưng Mỹ Sơn vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu hơn thế nữa. các đền tháp nơi đây vẫn là nguồn tư liệu quý giá, phong phú cho việc tìm hiểu lịch sử, tôn giáo, biểu tượng, kỹ thuât xây dựng, vật liệu xây cất, kỹ thuật chạm khắ, cũng như tiến trình biến đổi của chúng qua mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước nầy.
Những tác phẩm điêu khắc ở đây vô cùng phong phú về số lượng, kích thước, nội dung thể hiện, có thể được coi là những trang sử về ý thức tâm linh, về nghệ thuật của tộc Chăm - Pa trong quá khứ.
Là Thánh địa thiêng liêng, với thời gian tồn tại hơn 9 thế kỷ, Mỹ Sơn đã thu hút tinh hoa của cả tộc người (Chăm - Pa), đã hun đúc xây dựng nơi đây thành biểu tượng của tộc mình. Đó là giá trị của Mỹ Sơn trong thời gian qua. Mặc dù cho đến nay, số lượng đền đài miếu tháp tại Thánh địa Mỹ Sơn còn lại không nhiều, mà không còn ngôi tháp nào nguyên vẹn cả, chương trình phục chế vẫn đang còn bị hạn chế, tuy nhiên Mỹ Sơn vẫn là khu di tích quan trọng nhất và có giá trị nhất của vương quốc Chăm - Pa lưu lại.
Các tháp Mỹ Sơn hợp lại là cả một hình ảnh thu nhỏ của lịch sử nghệ thuật kiến trúc cổ Chăm - Pa. Ngoài ra, chính tại Mỹ Sơn đã là nơi còn giữ lại không ít những kiệt tác kiến trúc cũng như điêu khắc của người Chàm xưa.
Nhiều tác phẩm điêu khắc của Mỹ Sơn đã được đưa về trưng bày trong những Viện Bảo Tàng trong nước cũng như ngoài nước. Cơ quan UNESCO đã công nhận Thánh địa Mỹ Sơn là "Di sản văn hoá thế giới" và nhiều chương trình tham gia phục chế lại đang tiến hành.
Tháp Cánh Tiên
Từ đầu thế kỷ thứ XI, vương quốc Chàm xẩy ra nhiều cuộc biến động do những cuộc chiến tranh ác lịêt kéo dài, đẩy đất nước nầy vào những thảm cảnh và suy vi. Trung tâm chính trị của Chàm dần dần chuyển về vùng Vijaya (Bình Định sau nầy) với kinh đô là Vijaya (Đồ Bàn). Kinh đô Đồ Bàn cũng đã trải qua nhiều cuộc hưng phế do những cuộc chiến tranh giữa Chàm với các lân quốc như Khmer (1145 - 1149), Đại Việt...
Cùng với việc thiên đô về thành Đồ Bàn, các kiến trúc tôn giáo Chàm vào thế kỷ XII - XIII cũng dần dần tập trung về vùng Bình Định. Chính vì vậy ở quanh khu vực Đồ Bàn trong tỉnh Bình Định ngày nay hãy còn nhiều ngôi tháp Chăm Pa, cũng như những phế tích tháp Chăm khác, còn chôn vùi trong lòng đất chưa khai quật được nhiều trong mấy chục năm vừa qua.
Di tích thành Đồ Bàn (Vijaya) ở phía bắc thị xã Quy Nhơn khoảng 10km, hiện nay còn một đọan thành, hào nước, cổng thành hư hại khá nhiều. Trong vùng Bình Định hiện nay còn lại một số kiến trúc tháp Chăm như tháp Đôi (hay tháp Hưng Thạnh) tháp Thư Thiện (Thị Thiện, tháp Hưng Long, tháp Đồng (Cánh Tiên), tháp Vàng (Phước Lộc) tháp Bình Lâm...
Phong cách Bình Định (của Chàm) được hình thành trong thời điểm lịch sử của Chàm đang ngổn ngang những cuộc giằng xé, chuyển động và xáo trộn không ngừng; đất nước nầy từng bước cũng đã bị thu hẹp dần dần, dấu hiện suy vi xuất hiện rõ nét.
Phong cách Bình Định trong nghệ thuật Chàm là những nét duy nhất của các kiến trúc đền tháp được các vương triều Chàm xây dựng tại miền Vijaya kéo dào từ khoảng thế kỷ XII đến XIV, cùng một số tháp đền ở vùng nam trong các thời gian sau đó. Trong số những di tích kiến trúc hệ thống tháp cổ Chàm trong khu vực tỉnh Bình Định, thì ngôi tháp Cánh Tiên có một vị thế khá đặc biệt. Tháp nầy ở chính giữa của thành Đồ Bàn sau là thành Hoàng Đế. Những bi ký cổ của Chàm còn bảo lưu cho đến nay đã không tìm thấy được những ghi chép về tháp nầy. Chỉ có thể căn cứ vào những sử liệu cổ có nhắc đến.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí trong phần nói về các di tích trong vùng Nam Trung Phần đã chép như sau: "Đồ Bàn phế thành ở địa giới hai huyện Tuy Viễn và Phù Cát; chu vi hơn 60 dặm, đó là đô thành xưa của nước Chiêm Thành, trong có tháp xưa, sư tử bằng đá và voi bằng đá, đều là vật của Chiêm Thành. Khi Tây Sơn Nguyễn Nhạc chiếm cứ, xây đá ong, rồi tiếm xưng là "Hoàng Đế Thành"; sau đại binh thâu phục, đổi tên là "Bình Định Thành"...
Vào những năm đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Pháp H. Parmentier đã đến vùng nầy để khảo cứu thành cổ. Trong công trình của ông ta nhân đề "Thống Kê khảo tả các di tích Chàm tại Trung Kỳ " có đoạn viết về Đồ Bàn (Vijaya) như sau:
Thành nầy có chiều dài 1,400m, chiều rộng 1,100m. Với kích thước đó, có thể xếp toà Thành nầy vào hàng thứ nhất trong số những công trình quân sự của dân tộc nầy (Chàm); trong thành còn vết tích một con đường dường như nối liền giữa mặt đông đến một quả đồi trung tâm, nơi có ngọn tháp Đồng (tháp Cánh Tiên). Ngoài ra,ở góc tây nam thành có một quả đồi hai tầng, trên đó có những mảnh phế tích, có lẻ là của mọt cung điện hay một hoàng cung(?)...
Ngoài ra, trên một bản đồ Việt Nam có niên đại vào khoảng thế kỷthứ XV hay XVI, nhà khảo cổ học nầy còn đọc được những giòng chữ có nghĩa: "Trong thành Đồ Bàn vẫn còn thấy những vết tích của ngọn tháp, nhưng đã hoàn toàn bị hủy hoại, chỉ còn lại ngọn tháp 12 tầng, người ta gọi là tháp Con Gái...
Nghi vấn của những nhà nghiên cứu khi bàn về trường hợp nầy, đã đưa ra nhận định: Tháp Đồng và tháp Con Gái phải chăng chỉ là một hay không? H.Parmentier thì cho rằng: "Tháp Con Gái chính là ngôi tháp hiện còn trong thành Đồ Bàn".
Tuy nhiên, nhiều tài liệu sử cổ của Việt Nam thì lại những phế tích kiến trúc tháp khác của Chàm ở trong và ở ngoài thành Đồ Bàn. Như vậy thì tháp Cánh Tiên ở trung tâm thành Đồ bàn chỉ là một trong một tổng thể kiến trúc tháp khá dày đặc trong khu vực quanh thành Đồ Bàn.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì: Ngoài tháp Cánh Tiên ra còn có một số công trình kiến trúc nổi tiếng còn lưu lại hiện nay; chẳng hạn như hai ngôi chùa Thập Tháp Tự và Nhạn Sơn Tự.
Tài liệu nầy viết: "Chùa Thập Tháp (có 10 tháp) ở thôn Thuận Chánh, huyện Tuy Viễn; sau chùa có 10 tháp của Chiêm Thành, nên gọi tên ấy, nay đã vỡ lở".
Nhạn Sơn Tự ở thôn Nhạn Tháp, huyện Phù Viễn, phía nam thành Đồ Bàn của Chiêm Thành, tục danh là chùa Ông Đá. Trong chùa có hai hòn đá cao sáu thước, lưng tròn năm thước, đứng hai bên tả hữu, trên hòn đá tròn, quay mặt vào nhau: một hòn sơn đỏ, một hòn sơn đen. Thầy chùa lấy vải chế ra áo xiêm, đai mũ, vẽ hình mây rắn, mắc vào đá, trông như người sống vậy. Tương truyền đó là người Chiêm chế ra tượng Phật. Có kẻ nói: đó là tượng Phật Thích Ca, Phật Lạc Đa. Cũng có người gọi là Ông Thiện và Ông Ác. Phía tả chùa có ao bán nguyệt, rộng khoảng 50 mẫu.
Cụm kiến trúc Nhạn Tháp
Nếu lấy ngọn tháp Cánh Tiên làm tâm, thì đối diện (về phía nam) với ngôi chùa Thập Tháp và Tháp Mắm là cụm kiến trúc Nhạn Tháp (nằm cách bức thành phía nam của thành Đồ Bàn chừng hơn 1km). Hiện nay, trong ngôi chùa Nhạn Sơn của người Việt tại thôn Nhạn Tháp vẫn còn hai pho tượng đá lớn mà sách Đại Nam Nhất Thống Chí nhắc tới.
Dân chúng trong vùng nầy còn lưu truyền về câu chuyện về hai người Việt có tên là Huỳnh Tấn Công và Lý Xuân Điền (là những người có công giúp cho Chàm đánh lại quân Xiêm xâm lược) để gán cho hai pho tượng trong chùa Nhạn Sơn. Nhiều nhà nghiên cứu khác thì cho rằng: đây là hai pho tượng "môn thần" (thần giữ cửa đền miếu) bằng đá của người Chàm thường hay dựng lên trước những đền tháp của họ như thấy tại tháp Đồng Dương và Hoà lai còn lưu lại cho đến ngày nay.
Hai môn thần tại Nhạp Tháp được thể hiện đăng đối với nhau trong động thái vặn mình, hơi ngả người về phía trước Khuôn mặt, vũ khí cầm tay, hình rắn vắt trên vai, khuôn mặt... đã gây nên ấn tượng hung bạo như đe doạ.
Nhìn cảnh quan của vùng nầy thì chùa Nhạn Sơn nằm đúng hướng duy nhất có đường dẫn đến khu tháp cổ. Vì vậy, nên gọi núi ở đây là núi Tam Tháp. Vì không lưu lại dấu vết gì khác hơn cho nên khó xác định niên đại kiến trúc của những tháp nầy.
Theo phân tích của những nhà khảo cổ học thì có thể các tháp và tượng xuất hiện vào thế kỷ thứ XII (như phong cách của Tháp Mắm). Như thế thì Nhạn Tháp cùng chung niên đại với các tháp khác như Cánh Tiên, Thập Tháp, Tháp Mắm.
Phong cách kiến trúc Đồ Bàn
Ngoài ngôi tháp Cánh Tiên ở trung tâm của thành Đồ Bàn, trong khu vực phế thành nầy còn tìm thấy được một số tác phẩm điêu khắc bằng đá khá lớn của người Chàm trước đây. Đó là hai con voi bằng đá và hai con sư tử bằng đá tương đối còn được nguyên vẹn.
Có thể cho rằng hai con voi bằng đá lớn nầy (bên cạnh lăng mộ của Võ Tánh) là những tượng voi lớn nhất trong lịch sử điêu khắc những tượng voi của người Chàm còn lại dấu tích. Về chiêu cao một cao cao 1,7m, một con cao 2m.
Mặc dầu được thể hiện dưới hình thức tượng tròn (lả hình tượng ít thấy trong kiến trúc Chàm) hai con voi Đồ Bàn vẫn thể hiện được những nét truyền thống của kiến trúc đá của Chàm trên nhiều vết tích khác: chẳng hạn như chân trái phía trước hơi nhích lên, vòi của voi đang nhổ một cây gì ở dưới. Trên hình vương miện và bộ lục lạc ở cổ voi cái, có những đương tang trí hình toàn quả trám và nửa quả trám đan xen vào nhau.
Hình thái nầy đã thấy lặp lại của những mẩu điêu khắc tại khu di tích Dương Long của Chàm (cũng trong địa phận Bình Định).Trên cơ sở đó, một số nhà nghiên cứu lại khẳng định được là niên đại kiến túc của hai con voi nầy cũng vào thế kỷ thứ XII như các tháp trên.
Tuy nhiên theo nhà khảo cổ học H. Parmentier thì những con voi nầy đã được chuyển từ Quảng Nam vào từ năm 1076 khi người Chàm bỏ chạy, thiên đô vào đây. Nghi vấn nầy còn trong vòng tranh luận.
Cho đến nay, trải qua đã 7 thế kỷ, những di tích kiến trúc, điêu khắc của thành Đồ Bàn phần lớn đều bị đổ nát gần hết. Phần thì do việc Tây Sơn phá thành để xây Thành Hoàng Đế; phần khác thì do dân chúng lấy cắp những di vật nầy để bán cho những nhà sưu tầm đồ cổ, ngoại trừ các di vật còn lưu lại tại Viện Bảo Tàng Parmentier tại Đà Nẵng, tuy rằng con số mất mát cũng không nhỏ.
Chỉ còn lại tháp Cánh Tiên nằm giữa thành là kiến trúc phong cách Chàm còn lại. Người Pháp thường gọi đây là "Tháp Đồng". Vẫn chưa có những cơ sở giải thích danh từ Tháp Đồng nầy. Trong dân gian cũng như sách sử Việt Nam từ trước đến nay vẫn không thấy dùng đến địa danh nầy.
Đại Nam Nhất Thống Chí triều Nguyễn viết: "Nam An (tháp Cánh Tiên) cổ tháp ở tại thông Nam An, huyện Tường Vân, trong thành Đồ Bàn, tục gọi là Tháp Cánh Tiên (Tiến Sĩ); từ vai tháp trở lên trên, chu vi bốn phía trông như cánh tiên bay lên, cho nên dùng gọi tên đó. Xét cả các tháp, duy tháp nầy cao hơn cả, đứng xa trông thấy, cảnh sắc thâm u, từ xưa là thánh tích, nhưng nay đã sụt lở" (...)
Thành thử tháp nầy được gọi là Nam An hay Cánh Tiên, trong sử liệu và trong dân gian. Trong số những cổ tháp Chàm còn sót lại trong địa phận của tỉnh Bình Định, tháp Cánh Tiên (Nam An) không chỉ là một trong những kiến trúc còn khá nguyên vẹn, mà còn là cụm thấp độc đáo, thường ít thấy trong nghệ thuật kiến trúc Chàm, so với các di tích khác.
Khu đền nầy duy nhất chỉ có một tháp chứ không cấutrúc quy mô nhiều cụm tháp như thường thấy. Tuy ngôi tháp nầy xây dựng riêng lẻ, không nằm trong một tổng thể của một khu đền đài Chàm như nhiều nơi khác, tuy nhiên, cấu trúc toàn bộ của tháp vẫn không xa lạ gì mấy khi so sánh các công trình thuộc phong cách Chàm vào thế kỷ XII.
Tháp Cánh Tiên được thể hiện trên một cảnh quan khá hoàng tráng, cao rộng hơn cả, gây ấn tượng sâu sắc khi nhìn từ xa. Những loại cột ốp, những khung dọc trên mặt tường nằm giữa các cột ốp, nổi lên những mảng lớn mạnh mẽ; vòm của các cửa giả thì cao vươn lên, trông như những mũi nhọn.
Trang trí của cách góc cạnh cuộn lại thành những khối lớn, mạnh, vững. Những tầng khác thì được thu lại để trở thành những cụm cấu trúc lớn.
Cũng như những ngôi tháp thờ của Chàm khác, tháp nầy chia hai phần: tiền sảnh và điện thờ. Bộ tiền sảnh của tháp cánh Tiên đến nay đã bị sụt lở, để lộ ra một hốc lớn ở về phía mặt tường phía đông. Các mặt tường phía ngoài của thân tháp được trang trí bằng những loại cột ốp và các khung dọc, nhô ra khỏi mặt tường.
Phong cách kiến trúc
Phong cách kiến trúc và điêu khắc của nghệ thuật Chăm Pa tại Bình Định có nhiều giá trị đặc biệt: một mặt tiếp tục kế thừa những truyền thống của kiến trúc điêu khắc trước đó, tuy nhiên, trong một khía cạnh nào đó, ảnh hưởng của nghệ thuật Khmer và nghệ thuật Đại Việt thời Lý Trần cũng có một vị trí đáng kể.
Về phương diện điêu khắc, phong cách Bình Định là sự kết tinh có chọn lọc những yếu tố của Đồng Dương và Trà Kiệu trước đó, để có thể dung hợp lại, tạo nền xu hướng mới: tính chất hiện thực huyềnảo. Ngoài ra, mang tính hoành tráng, vẻ đẹp cấu tạo nên của những kết cấu từng mảng lớn trong kiến trúc và hình khối trong điêu khắc.
Trong lịch sử đất nước Chàm thì thế kỷ thứ VII và XIII chính là giai đoạn phát triển mạnh mẽ, mở rộng phạm vi trong mọi đề tài mỹ thuật kiến trúc, điêu khắc, trang trí, hội họa, đồ hoạ, chạm khắc trên đá và trên gỗ.
Trong những thể tài điêu khắc của Chàm thường thấy xuất hiện những nhân vật mang tính siêu phàm như sau: - Thần Lashmi là vợ của Vishnu thường thể hiện bằng hình dáng của một nhân vật nữ hiền hậu phúc đức. - Vichnu và vị thần bảo tồn cuộc sống trong thiên nhiên và thượng giới. - Thần Brahma là thần tạo dựng vũ trụ, muôn loài và những hiện tượng trong thiên nhiên đất nước.
Trong hình tượng vị thần nầy thường hay xuất hiện với người vợ là Saravati kiềm diễm, cũng là nữ thần sáng tạo những ngành nghệ thụât của thiên thần cũng như khắp nơi trong trần thế. - Thần Siva gọi là thần huỷ diệt trong kiến túc thường thấy xuất hiện cùng với vợ là nữ thần Uma cưỡi trên lưng bò. - Thần Nandin vô cùng biến hoá khắp mọi nơi chứng kiến mọi thịnh suy của cuộc đời và thiên nhiên. Nhiều nhà nghiên cứu so sánh: nếu trong kiến trúc Đồng Dương và Trà Kiệu là "sự đam mê sôi động, thì phong cách Bình Định lại đi và sự "lắng đọng, sâu sắc" hơn; đôi khi còn có vẻ khô khan, trống vắng.
Phải chăng đó là hoàn cảnh xã hội Chàm thời đó tạo nên. Tiêu biểu hơn hết là hình trang trí hoa lá trên Tháp Mẫm. Tại đây, nổi lên trong các giải trang trí là các đường xoấn ốc quy tụ về một đỉnh cao như những ngọn sóng sắp đổ xuống, những pho tượng, những hình người thần thánh điêu khắc trong thời kỳ nầy tiêu biểu rõ nét là tượng Dvarapula.
Ở đây, hình ảnh của dáng vươn lên không mấy vững chắc, hình ảnh của sự mệt mỏi, chán chường. Phải chăng là tâm trạng của con người thời buổi suy thoái. Những bầu vú: Nhiều nhà nghiên cứu phong cách Bình Định thường chú tâm đến mô típ chạm khắc các bầu vú. Đây là nét độc đáo duy nhất trong các nghệ thuật Đông Nam Á, một sáng tạo độc đáo của văn hoá Chàm.
Một dải 23 bầu vú đàn bà mịn màng, trinh nguyên căng tròn. Lại thấy 40 bầu vú khác bao quanh điện thờ, trông vừa sỗ sàng, táo bạo, nhưng cũng rất sinh động. Những bầu vú nầy tượng trưng cho nữ thần Uroga, vị thần sáng tạo vương quốc Chàm.
Hình Linga (dương vật): Một hình tượng điêu khắc khác đánh dấu phong cách Bình Định là các linga đá. Linga sắp thành từng dãy 5 cái hay 7cái; chiều cao khoảng 0,7m. Linga thường đi đôi với Yoni, biểu tượng của thần Siva trong tín ngưỡng phồn thực. Tục thờ Linga rất phổ biến trong tín ngưỡng Chàm.
Trong phong cách Bình Định, linga được thể hiện khá chân thực. Linga thường chia 3 phần: phần chân hình vuông, phần thân hình bát giác; phần đầu hình tròn. Như vậy, những mô típ bầu vú và Linga trong phong cách Bình Định, thì điêu khắc ở đây đã trở về cội nguồn trong nền tín ngưỡng bình dân của họ.
Tượng Brahma: Brahma là vị thần tối cao của Hồi Giáo, sáng tạo ra vũ trụ. Trong nghệ thuật điêu khắc Chàm, hình ảnh Brahma thường khắc trên trán tường của mặt tháp.
Cũng có những hình tượng Brahma đản sinh ngồi trên toà sen; cây sen nầy mọc lên giữa những cánh tay trái của thần Vichnu.
Tượng Siva: Siva là một trong ba vị thần tối cao, cũng được thể hiện với số lượng lớn trong nghệ thuật Chàm. Hình tượng Siva trong các đền đài Chàm được đồng nhất với việc thời Linga; cũng thường được đồng hoá với các vị vua sáng lập vương quốc nầy.
Tượng Vichnu: trong nghệ thuật tạo hình và đieu khắc Chàm tượng Vichnu (Thần bảo tồn vũ tru) khá phổ biến sau hình tượng Siva. Vichnu trong các di vật điêu khắc Chàm được thể hiện ở nhiều tư thế và nhiều dạng thức khác nhau. Vichnu là thần sáng thế, cho nên được thể hiện nằmg nghiêng như lắng nghe, trên mình của con rắn Ananta có 7 đầu, trôi bồng bềnh trên đại dương, vũ trụ. Từ rốn của thần nầy mọc lên một đoá hoa sen 12 cánh hay 18 cánh; chính bông sen nầy đã sinh ra thần Brahma. Trong những bức phù điêu tìm thấy được tại thánh địa Mỹ Sơn và ở Phú Thọ, thì hình tướng của vị thần Vichnu "đản sinh ra thần Brahma" trong tư thế nằm nghiêng, vẻ mặt ra dáng đăm chiêu.
Trong bức phù điêu ở tại khu di tích Phú Thọ thì bông sen lại mọc từ phía sau, ngay ở bên hông, rồi uốn quanh, chứ không phải từ rốn của thần Vichnu như đa số những bức phù điêu khác. Tại Triệu Phong (Quảng Trị) thì tượng của thần Vichnu ở trong tư thế đứng với 4 cánh tay trong 4 động tác hoàn toàn khác nhau và rất sống động. Nửa thân trên của tượng thì để trần núm vú và rốn nổi rõ; bên dưới thì mặc chiếc Sampot bằng vải có sọc.
Tượng Laksmi (vợ của thần Vichnu): Nữ thần của sắc đẹp hoàn mỹ nhất trên thế gian nầy; cũng tượng trưng cho sự phú quý và những điều may mắn, tràn trề hạnh phúc trong cuộc sống. Thành thử, trong nghệ thuật điêu khắc, đồ họa của Chàm, tượng thần nầy có thể bắt gặp trong nhiều tư thế khác nhau.
Đa số là trong tư thế ngồi ở giữa hai con voi đang dùng vòi để dâng bình nước thơm (cam lộ). Cũng có thể tìm thấy tượng thần Lashmi ngồi trên mình của con rắn Naga có đến 13 đầu vây quanh. Nữ thần có 4 cánh tay, mà 3 cánh tay với biểu tượng cầm hình con ốc, chĩa ba, cây chùy. Nhiều pho tượng Lashmi khác thì từ trong bàn tay có những nụ sen xoè rộng cánh ra ngoài.

Tháp Bánh Ít

Hệ thống những đền tháp Chàm nằm trong địa phận của thôn Đại Lộc, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định thường được gọi là tháp Bánh Ít.
Trong Đại Nam Nhất Thống Chí thì gọi tên là tháp Thị Thiện. Sách nầy viết: "Thổ Sơn cổ tháp (tháp cổ núi đất) ở trong bốn thôn Hoàng Kim, Vạn Bửu, Phong Niên, Đại Lộc huyện Tuy Phước, trên địa điểm giáp giới có bốn tháp, tục gọi là Tháp Thị Thiện. Tương truyền: Có bà Thị Thiện làm quán ở chân núi để bán bánh, nên gọi lấy tên ấy (...)".
Còn trong dân gian gọi tên Bánh Ít vì có hình dáng như một loại bánh bằng bột gạo, có hình như chiếc nón. Tuy nhiên, người Pháp thì gọi là Tháp Bạc. Ông Nivelle là người đầu tiên dùng đến danh xưng nầy. Tháp Bánh Ít nằm trên một ngọn núi đất cao kéo dài về hướng đông. Phía nam có một quả đồi con, mà người trong địa phương nầy thường gọi tên là "đồi Bạt" hay "đồi Tháp Bạt".
Hiện nay các cụ già trong vùng Đại Lộc (xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước).Theo truyền thuyết nầy thì ngày xưa, trong một cuộc chiến giữa người Chàm và người Việt (Đại Việt), để tránh cuộc đổ máu vô ích cho cả hai bên, cả hai đều thi nhau xây tháp để phân thắng bại. Người Chàm và người Việt đã chọn hai mỏm đồi trên quả núi đất (thuộc Đại Lộc) để thi thố với nhau: Người Chàm thì xây ở mỏm đồi cao phía bắc; người Đại Việt ở mỏm đồi cao phía nam. Khi được biết là người Chàm rất rành về việc xây dựng những kiểu đền tháp, người Việt phải dùng mưu mẹo: lấy những thanh tre hay gỗ để làm thành khung, sau đó lấy những tấm bạt làm tường đệ dựng tháp lên. Nhờ mưu nầy mà phía người Việt đã thắng. Cũng vì điều nầy cho nên quả đồi phía nam được gọi tên là "đồi Bạt".
Người Việt cũng đã dựng chùa và tháp thờ Phật trên ngọn đồi Bạt. Ca dao vùng nầy có câu:Ai về tháp Bạt quê ta, An Nhơn, Tuy Phước câu ca trong lành.
Có thể là Navelle đã nghe nhầm "tháp Bạt" để ghi là "tháp Bạc" rồi dịch ra tiếng Pháp. Từ làng Đại Lộc, đi theo con đường cổ, hiện nay chỉ còn lại ngói gạch ngổn ngang, để lên cao dần theo sườn đồi đến ngôi tháp. Đằng sau ngôi tháp cộng là các tầng, các lớp của phế tích đã đổ nát. Nhìn chung quanh chỉ là đá gạch ngổn ngang, tuy nhiên vẫn còn có thể nhận ra được những khoảng nền xưa của tháp nầy. Tại đây, còn vết tích của những bức tường bằng gạch, bằng đá ong, bao lấy các tầng kiến trúc.
(a) Trong tầng thứ nhất hiện nay vẫn còn một tháp gạch lớn như kiểu tháp cổng. Tháp cổng và tháp đông nam là hai kiến trúc hiện còn lại trong vòng ngoài của khu vực đền tháp Bánh Ít. Ngay đằng sau tháp cổng, trên khoảng tầng nền thứ nhất còn dấu tích của một toà nhà dài chạy dọc theo hướng đông - tây.
Theo nghiên cứu của nhà khảo cổ H. Parmentier thì: Tòa nhà dài nầy có 3 gian. Trên có lợp mái ngói theo kiểu của toà nhà dài trên cột của tháp Po Nagar tại NhaTrang.
(b) Qua những bậc tam cấp không đều đặn do xoi mòn thì dến phần tầng nền nhà thứ nhì cũng là tầng cao nhất của toàn thể khu tháp. Tại đây có hai kiểu kiến trúc bằng loại gạch vồ nung đỏ: tháp thờ và tháp mái cong. Tháp thờ là tâm điểm của tháp Bánh Ít nhưng đến nay vẫn chưa mô tả đầy đủ những pho tượng.
Theo Parmentier thì hệ thống thờ ở đây có đủ các vị thần: Brahma, Vichnu và Siva như hầu hết các tháp Chàm. Nhưng chỉ là suy đoán. Chung quanh hai nền tháp nầy, nhiều đám gạch đỏ vụn rơi vải khắp nơi, dấu vết của suy thoái và của những vụ đào lấy gạch vồ của dân địa phương. Những kiến trúc xưa đổ nát hầu toàn. Bao quanh những toà tháp nầy còn lại dấu vết của la thành. Những ụ gạch còn lại là dấu tích nầy.
Những loại điêu khắc: Từ đầu thế kỷ XX, nhiều nhà khảo cổ và Á Đông học Tây Phương đã tìm đến nghiên cứu cụm di tích vùng nầy. Họ phát hiện được bức phù điêu cao khoảng 0,8m. Trên phù điêu có hình 4 vũ nữ nhưng đã không toàn vẹn. Tất cả trong tư thế quỳ, chân xoay nghiêng một bên nhưng mặt và ngực thì hướng thẳng về phía trước.
Kiểu trang sức thường thấy là những hoa tai tròn, tóc vén cao. - Vũ nữ 1: tay trái thẳng lên ngang vai, tay phải gập khúc ngang bụng. - Vũ nữ 2: tay trái đưa cao nhưng khuỷu gập. Tay phải để thẳng theo chiều của thân mình. - Vũ nữ 3: tay trái thỏng xuống đất đặt lên đùi. Tay trái để thẳng. - Vũ nữ 4: đã bị gãy đổ toàn vẹn. Những vũ nữ nầy đều không mặc áo, nhưng quanh mình trang sức các vòng che khuất bớt, nhất là vòng ở cổ tay, ở cổ và bắp tay. Theo nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh thì phong cách nầy có tính kế thừa mỹ thuật Trà Kiệu.

Tháp Bình Lâm

Tháp nầy ở Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Ngôi tháp nầy có được nhắc đến sơ sài trong Đại Nam Nhất Thống Chí. Tháp còn có tên là Thanh Trúc. Ngày trước nhà khảo cổ P. Stern (trong "L'Art du Cham Pa (ancien Annam) et son évolution" - Paris - 1942) khi nghiên cứu phong cách nghệ thuật Bình Lâm đã xếp vào phong cách "Mỹ Sơn 1" và phong cách Bình Định (thế kỷ XI) của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chàm.
Vị trí của tháp khác với những toà tháp khác của Chàm thường được dựng trên các đồi cao, tháp Bình Lâm lại kiến tạo ở đồng bằng. Tháp gạch: đây là kiểu tháp khá đồ sộ, chiều cao khoảng 20m, nhưng cũng bị thoái hoá khá nhiều. Bên ngoài còn giữ được màu gạch vàng.
Kiến trúc: nhìn chung, tháp Bình Lâm đã tổng hợp được những tính chất của kiến trúc Chàm thế kỷ XI về sau. Những thành phần cấu tạo cân đối, hài hoà, vừa phải nhưng vẫn giữ được tính trang nghiêm của tháp cổ.
Thân tháp khá cao, hoà hợp với các tầng trên. Đây là giá trị độc đáo, khác với cấu trúc của những tháp Chàm khác như tháp Khương Mỹ, Hoà Lai, Mỹ Sơn, Đồng Dương. Hai tầng phái trên thì thu nhỏ dần lại vừa phải, khá đăng đối, tạo nên vẻ dễ chịu, thư thái cho người xem tháp.
Toàn thể tháp được kiến tạo trong bình đồ hình vuông như nhiều tháp khác. Tuy nhiên, cách xếp đặt các cửa giả và cửa ra vào, những ô khám, những phù điêu... đã tạo nên vẻ sinh động, trang trọng của tháp.
Hệ thống những cửa giả: Cửa giả là một kiểu thức kiến trúc và điêu khắc đặc biệt của tháp Chàm. Ở tại tháp Bình Lâm có những nét nổi bật nhất. Cửa giả thường được xây nhô ra ở khoảng giữa các mặt tường của thân tháp (ngoại trừ cửa nằm về phía đông đã biến thành cánh cửa ra vào chính thức).
Mặc dù vẫn làm theo những kiểu cửa giả truyền thống của đền tháp Chàm, những loại cửa giả thấy ở Bình Lâm lại có những nét điêu khắc khá sinh động, đượm vẻ kỳ ảo. Mỗi cửa giả ở đây chia ra làm 3 thân, kế tiếp nhau, từ lớn đến nhỏ, tương tự như một ngôi tháp khá phức tạp.
Mỗi thân đều có 2 phần: cột ốp ở phần dưới, vòm cong hình mũi giáo ở phần trên. Cả ba thân của cửa giả được toả ra từ dưới lên trên được trang trí bằng hình sư tử, hình hoa lá, hình áp.
Thân ngoài cùng: Thân nầy gồm hai trụ ở hai bên đỡ một cửa vòm có hình chữ "U" lộn ngược. Đỉnh của cửa vòm được trang trí một hình lá nhọn đầu lớn. Hai chân của cửa vòm biến thành hai đầu con Makara. Cửa vòm hình "U ngược" tạo thành vòng đai bên ngoài của ô khám. Ở đây có tượng hình người ngồi trên hoa sen.
Thân thứ hai (thân giữa): Phần nầy gồm có hai trụ hai bên và cửa vòm lớn ở phía trên. Toàn bộ thân trước của phần nầy nằm lọt vào phần giữa của hai trụ của thân giữa. Phầm vòm của thân giữa không tạo thành một ô khám, mà lại được tạo thành hình cả ngôi tháp nhiều tầng.Những họa tiết trong phần nầy gồm: tiên nữ, voi, sư tử, con vật Gagasimha.
Thân thứ ba: Phần nầy chỉ hiện ra như mép ngoài của thân giữa mà thôi. Mép vòng hình mũi giáo của phần thứ ba cũng được phủ kín bằng những loại hình chạm khắc rất phong phú và sinh động.
Trang trí bề ngoài: Ngoài những lớp cửa giả được trang trí như đãnói, còn có phần trang trí của mặt tường phía ngoài của tháp bằnghệ thống các cột ốp. Chung quanh diềm tường có những hoa văn hình hoa lá chạy đều đặn. Thờ cúng: Tháp Bình Lâm thờ vị thần nào hay có giá trị tín ngưỡng gì đặc biệt? Cho đến nay vẫn chưa có đủ chứng liệu nào để giải thích chính xác. Người ta thường suy nghĩ đến cách thờ phượng của ngôi chùa Thiên Trúc ở cạnh tháp Bình Lâm mà giả định là thờ Phật.
Nhà khảo cổ học khi phân tách về lãnh vực nầy đã nhắc đến hiện vật điêu khắc bên ngoài: tượng "con sư tử bằng đá" và tượng Linga. Nhưng theo các nhà mỹ thuật học thì đây chính là hình tượng của con chim thần Garuda như thường thấy trong những đền tháp Chàm mà thôi. Pho tượng Garuda nầy được chạm thẳng vào một khối đá lớn, dùng để trang trí cho ngôi tháp. Garuda tại đây được thể hiện giống như mặt người; chỉ có chiếc mỏ trên mặt là gợi lên hình chim mà thôi.
Thần điểu Garuda ở đây được chạm trong tư thế thẳng đứng, hai tay co quặp lại; bàn tay xoè ở ngang tầm vai. Thân hình con chim thần nầy để trần; riêng ngực và bụng thì cuồn cuộn lên cơ bắp chắc nịch.
Linga (dương vật): Chiếc Linga ở đây bằng đá lớn cũng có những đường nét của kiểu Linga vào thế kỷ thứ X, được hiện ra ở chi tiết trên đầu mút, đặc tả hình ảnh của dương vật.
Tháp Đôi (Hưng Thạnh)
Tháp Đôi nằm trong địa hạt phường Đống Đa thuộc thành phố Quy Nhơn (cách trung tâm thành phố chừng 3km. Hiện nay còn môt khu tháp cổ khá lớn.
Khu tháp nầy có tên Hưng Thạnh, vì nằm trong địa phận của làng Hưng Thạnh ngày xưa. Đại Nam Nhất Thống Chí chỉ giới thiệu qua: "Hưng Thạnh cổ tháp ở thôn Hưng Thạnh, huyện Tuy Phước, có 2 ngọn tháp, tục gọi là Tháp Đôi".
Hiện nay tháp Hưng Thạnh đã được xếp vào hạng "Di tích Lịch sử quốc gia" và là một trong những thắng cảnh giành cho khách dulịch đến nên được trùng tu lại. Việc trùng tu vào năm 1993 để phục chế trở lại. Cả hai ngôi tháp hiện còn của Tháp Đôi nằm trên khu đất khá bằng phẳng, dưới chân môt quả đồi, quay mặt về hướng đông. Chiều cao của hai tháp không đồng đều nhau.
Theo một số nhà nghiên cứu thì lẽ ra tháp Hưng Thạnh phải có đến ba ngọn tháp như ở tại Dương Long, Chiên Đàn, Khương Mỹ và Hoà Lai. Vào năm 1903, nhà khảo cổ H. Parmentier đã điều tra và nghiên cứu cụm tháp nầy. Theo ông thì: "Ở đây thấp có một số hình trang trí kiến trúc bằng đá, như hình chim thần Garuda".
Hồi đó chính Parmentier cũng đề cập đến ba tháp nhưng tháp thứ ba đã không còn. Ngoài ra, nhà nghiên cứu còn phát hiện dấu vết những bức tường bao quanh, ngôi nhà nghỉ và giếng nước có từ thế kỷ XII. Tại đây, tìm thấy nhiều phiến đá có hình chạm khắc nằm rải rác chung quanh hai ngôi tháp còn lại. Trên những phiến đá nầy cónhiều hình chạm khắc; phổ quát nhất là hình rắn Naga há miệng phun ra con thủy quái Maccara.
Hai ngôi tháp ở Hưng Thạnh không phải là loại tháp vuông nhiều tầng như những tháp từng thấy trong vùng, nhưng lại là một thể loại cấu trúc gồm 2 phần chính: (a) Phần thân: là một khối vuông vức. (b) Phần đỉnh trên; hình tháp có mặt cong. Những nhà nghiên cứu mỹ thuật cho biết; Những hình chim thần Garuda bằng đá, hai tay đưa cao là sản phẩm nghệ thuật chịu ảnh hưởng Khmer; tuy nhiên số các nhà kiến trúc khác thì không đồng ýmấy.
Thực ra, phần dưới và phần thân của ngôi tháp nầy vẫn giữ nguyên hình thái cấu trúc Chàm: thân tháp hình vuông; phía tường bên ngoài trang trí kiểu cửa giả như từng thấy; dùng các cột ốp. Vòm bên trên của các cửa giả tại đây vút cao lên, giống hình lưỡi lao nhọn; các cột ốp thì lại trơn nhẳn không thấy các hoa văn như phong cách Bình Định thường thấy.
Hai ngôi tháp bị hư hại khá nhiều; chỉ còn lại khung cửa hình chữ nhật còn lại nhờ dùng đá thanh lớn để kết cấu. Khung cửa và toàn bộ chân tường của tháp đều được bó bằng những tảng đá cát lớn, tạo hình hoa sen, đỡ lấy toàn bộ tháp. Ở giữa những cánh sen nầy đều có chạm khắc hình voi, hình sư tử, hình vũ công ca múa... Chân tường hình đài sen bằng đá khổng lồ; còn phần thân tháp thì bằng gạch màu đỏ. Phía đầu tường phía trên nhô ra, tạo thành diềm mái tháp.

Kinh đô Trà Kiệu

Trà Kiệu cách Đà Nẵng khoảng 40 cây số về phía Nam, gần đường xuyên Việt. Vào khoảng thế kỷ thứ IV, một trong những thời kỳ khởi đầu và phát triển mạnh mẽ của vương quốc Chăm - Pa, quốc vương của nước nầy đã định đô tại vùng đất Trà Kiệu ngày nay; kinh đô nầy đã mang tên Sinhapura (có nghĩa là kinh thành Sư Tử).
Đây là một trong những thành phố lớn của vương quốc Chăm - Pa thờ cổ, khá quy mô, bao gồm nhiều công trình kiến trúc về thành quách, điện đài, nhà ở và những trục giao thông qua lại với những đô thị khác của người Chăm - Pa trong quá khứ.
Vào cuối thế kỷ IX, khi bộ lạc Cau (Kramuka Vams' A) chiếm ưu thế trên nhiều lãnh vực thì kinh đô Chăm - Pa cũng đã thiên di về phía Nam, lấy lên là Virapura (Đô thị Hùng Cường); từ đó trở đi thì Trà Kiệu cũng trở thành hoang phế.
Qua những nghiên cứu của nhà khảo cổ L. Finot được công bố vào năm 1901, thì "khu vực Chiêm Sơn, Trà Kiệu" (thuộc huyện Duy Xuyên - Quảng Nam) hiện còn một cái tháp bằng gạch, một vài đoạn thành lũy, các bờ tường, phế tích một số điện đài, củng thêm nhiều mảnh vỡ nhỏ của các di tích khác nữa...
Những tháp khác: Ngoài hai khu di tích lớn Mỹ Sơn và Đồng Dương vừa nêu trên, suốt dải đất miền Trung, từ Quảng Nam đến Thuận Hải, rải rác còn nhiều cụm tháp Chăm - Pa cổ khác: tháp Bằng Sơn có bình đồ bát giác cao chừng 20 mét ở thôn Bằng An, xã Điện An, huyện Điện Bàn (Quảng Nam); ba ngôi tháp lớn ở làng Chiên Đàng, xã Tân An, huyện Tam Kỳ (Quảng Nam) cụm ba tháp Khương Mỹ, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành (Quảng Nam) tháp Phúc Lộc, thuộc thôn Phú Thành, xã Nhân Thành, huyện An Nhơn (Bình Định) khu tháp Bánh Ít, thôn Đại Lộc, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước (Bình Định), tháp Bình Lâm ở thôn Bình Lâm, xã Phước Hoà, huyện Tuy Phước (Bình Định), cụm tháp Hưng Thạnh (Thị xã Qui Nhơn), khu Tháp Bà Pô Nagar (Nha Trang). Trên địa bàn Ninh Thuận và Bình Thuận có năm khu tháp chính: (a) Khu Tam Tháp, làng Ba Tháp, xã Tân Hải, huyện Nam Hải. (b) Khu Pô Klong Girai cách Phan Rang 2km. (c) Khu Pô Romé ở xã Hữu Đức, huyện Minh Hải. (d) Khu cụm tháp Phú Hải, xã Thanh Hải (Phan Thiết) (e) Khu Pô Tầm ở Lạc Thị (Thị xã Phan Rí).
Nếu tính cả hai trung tâm lớn Mỹ Sơn và Đồng Dương thì suốt dải đất miền Trung từ Quảng Nam tới Bình Thuận có tất cả 19 khu tháp với 40 kiến trúc lớn nhỏ hiện còn và có niên đại từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ XVI.
Cũng theo các thống kê và điều tra bước đầu của các học giả Tây Phương, đặc biệt là công trình của H. Parmentier, số lượng các khu phế tháp cổ của người Chăm - Pa không ít. Các phế tháp có diện phân bố rất rộng, từ Quảng Trị đến Bình Thuận.
Các phế tích tháp Chăm - Pa thật nhiều, nhưng, cho đến nay, vẫn chưa có một cuộc khảo sát, khai quật nào mang tính chất khoa học được tiến hành đối với những di tích đó.
Kể từ năm 1975 đến nay thì những vụ thất thoát tượng Chăm - Pa ra nước ngoài ngày càng nhiều, kể cả những di tượng trong những Viện Bảo Tàng Huế, Đà Nẵng và Nha Trang nữa.

Thành Đồ Bàn

Vào khoảng đầu thế kỷ thứ XI, Vương quốc Chăm - Pa đã xẩy ra nhiều biến động dữ dội, từ trong triều chính cũng như cuộc chiến với nước ngoài.
Những trận đánh ác liệt kéo dài trong nhiều năm, đã đẩy đất nước nầy vào cảnh suy yếu dần và phân hoá. Thành thử trung tâm chính trị của Vương quốc nầy dần dà phải co cụm trở lạivà chuyển dần về vùng Vijaya (Đồ Bàn).
Chính kinh đô Đồ Bàn nầy cũng đã phải trải qua nhiều cuộc hưng phế tác động mãnh liệt; nhiều cuộc chiến giữa quốc vương Chăm - Pa với những lân quốc như trường hợp chiến tranh với Khmer (1145 - 1149) và nước Đại Việt. Cùng với việc thiên đô về vùng Bình Định, những kiến trúc Chăm -Pa trong thời điểm nầy (thế kỷ XII và XIII) cũng đã tập trung nhiều vào đây.
Cũng do những nguyên nhân trên, cho nên quanh khu vực Đồ Bàn trong tỉnh Bình Định - Quy Nhơn ngày nay vẫn còn nhiều ngôi tháp Chăm - Pa, cũng như còn nhiều phế tích khác chôn vùi trong lòng đất chưa được khai quật lên.
Di tích của của thành Đồ Bàn (tức Vijaya) nằm về phía bắc của thị trấn Quy Nhơn khoảng 10 cây số hiện còn một số đoạn thành, cổng và những hào bọc quanh thành. Cũng trong vùng Bình Định hiện nay còn một số khu kiến trúc tháp Chăm - Pa , chẳng hạn như Tháp Đôi (hay tháp Hưng Thạnh) tháp Thư Thiện, tháp Dương Long, tháp Đồng (Cánh Tiên) tháp Vàng (Phước Lộc) tháp Bình Lâm...
Thánh địa Pô Nagar

Thánh địa Pô Nagar (hay Pô Nugar) là một trong những thánh địa của vương quốc Chăm - Pa, hiện nay còn di tích ở thành phố Nha Trang, thuộc tỉnh Khánh Hoà. Thánh địa Pô Nagar là nơi thờ phượng vị Nữ Thần của Vương quốc Chăm - Pa, thường được gọi là "Bà mẹ của Đất Nước" theo những truyền thuyết trong pho Sử Thi của Vương quốc nầy của ngàn năm trước. Thánh địa Pô Nagar ngày trước thuộc thị tộc Cau (Kramukavamsa), đã từng cai trị toàn miền Nam của Vương quốc nầy (vùng Kauthara) từ thế kỷ thứ II sau Công Nguyên cho đến mãi sau nầy .
Trong khoảng thời gian từ năm 754 cho đến năm 856, những vị vua Chăm - Pa đã bỏ nhiều tiền của, công sức và trí tuệ để xây dựng thánh địa Pô Nagar, theo đúng như kinh Koran từng giảng dạy cho họ.
Chung quanh thánh địa nầy, đã có thêm nhiều đền tháp, bi ký, tượng thờ cũng được kiến trúc trong quần thể nầy, với nhiều họa tiết, phong cách khác nhau. Hiện nay, di tích kiến trúc của thánh địa Pô Nagar tại Nha Trang còn lưu lại hai tháp lớn, tọa lạc trên đồi cao, con đường từ thành phố ra phía bắc.
Trong tháp lớn nhất (tháp Bắc) có một pho tượng "Uma" lớn hơn hết trong số 13 pho tượng của Chăm Pa; ngoài ra, còn có một số bức minh văn; những hình trong sử thi; một kiến trúc nhỏ ở phía nam thành phố, đồng thời, còn có một kiến trúc nhỏ khác nằm ở mạn tây bắc, có những ý nghĩa lịch sử quan trọng khác của Vương quốc trong giai đoạn sau cùng.
Ở phía đông, bên dưới chân tháp, có hai hàng cột khá lớn có những điệu thức điêu khắc kỳ khu. Tấm bia của thánh địa có ghi lại nhiều tài liệu lịch sử liên quan đến việc thành lập Pô Nagar; Trường Viễn Đông Bác Cổ đã điều đình để chuyển về trụ sở của trường để nghiên cứu; nay còn bảo lưu tại Hà Nội. Nhiều truyền thuyết chung quanh vị Nữ Thần Thiên Y A Na thờ tại Pô Nagar.
Sự tích Thiên Y A Na được ghi trên một bia đá dựng tại phía bắc tháp Pô Nagar (Thiên Y A Na) do cụ Phan Thanh Giản lúc bấy giờ làm Đại Học Sĩ bộ Lễ dưới triều vua Tự Đức, viết vào năm 1857, dịch theo nguyên văn như sau:
"Trong thiên hạ, những chỗ sầm uất lâu đời hay có những sự tích ly kỳ, người ta chép vào sử truyền lại, vì thấy có ích cho nước, cho dân. Xem như chuyện Lạc Già Quan Thế Âm và Lâm Thiện Hậu ở Việt Nam toàn là những chuyện lạ thường, nên vẫn được lưu sử.
Cũng như sự tích Liễu Hạnh Công Chúa giáng sinh ở Nam Định, những khi hiển ứng đều có ghi lại thành dã sử. Miền Nam nước ta sống trong cảnh mưa thuận gió hoà, thuần phong mỹ tục. Phần đất của con cháu Lạc Hồng, tuy đất hẹp, dân ít, song lại là nơi dân cư được Thần linh ủng hộ, nên được no ấm đầy đủ và xem xứ mình như là một cảnh Bồng Lai ở thế gian.
Cách trở với Trung Quốc, việc giao thông không thuận tiện nên cuộc bang giao khó khăn. Vì không có sử sách để kê cứu, tôi không biết sự tích của Thiên Ý Thánh Mẫu cho tường tận, chính lúc đi qua Khánh Hoà, là nơi nguồn gốc của Thánh Mẫu, được nghe các bậc bô lão kể lại và được đọc dã sử, cũng chỉ biết được sơ lược thôi.
Người ta nói: Bà Thiên Ý giáng sinh ở núi Đại An (cạnh núi Cù Huỳnh) thuộc làng Đại An, tỉnh Khánh Hoà, mé ngoài có biển bao bọc, sơn thanh thủy tú, chính là nơi di cảnh của Thần tiên.
Nơi ấy có đôi vợ chồng già không có con, nhà ở dưới chân núi, ngày ngày trồng dưa độ nhật. Dưa chín thì hay mất quả, hai vợ chồng lấy làm lạ, mới rình bắt được một nàng độ hơn mười tuổi hái trộm dưa chơi dưới trăng.
Thấy nàng còn bé, vẻ mặt dễ thương, sốngtrong cảnh côi cút, hai vợ chồng mới thuận đem nàng về nuôi, thường vẫn nâng niu âu yếm chẳng khác gì con ruột. Một ngày kia trời làm lụt, cảnh vật buồn tênh, nàng mới sực nhớ đến Tam Đảo, một cảnh Thần Tiên cũ, liền hái hoa quả, chọn đá xâymột hòn dã sơn để ngắm; ông già thấy vậy nổi giận mắng nàng.
Trong khi đang hối hận buồn rầu, gặp lúc hồng thủy trôi nổi cây kỳ nam đến, nàng bèn biến thân vào khúc gỗ kia, mặc cho dòng nước cuốn ra biển rồi dạt vào bờ Bắc Hải (Trung Quốc). Dân cư ở đó muốn lấy, nhưng quá nặng không thể khiêng nổi.
Lúc ấy, có một vị Thái tử Trung Hoa, tuổi chừng hai mươi đang buồn rầu vì đã từng trèo non lặn suối mà chưa tìm được một ý trung nhân, nghe tin ấy liền lấy xe đi đến bờ biển, tự mình đỡ lấy cây kỳ nam, đưa vào nội điện, thường hay vỗ về khi nhàn rỗi.
Một đêm trăng, hương thơm ngào ngạt, Thái tử trông thấy bên cạnh cây kỳ nam một bóng người khi ẩn, khi hiện. Thái tử lấy làm lạ, khi đến gần thì bóng người kia lại biến đi.
Một đêm kia trong khi thiên hạ đang say đắm giấc nồng, Thái tử lén ra đó chờ một hồi lâu, khi bóng mỹ nhân hiển hiện thì ông ta ôm choàng lấy ngay, không tránh được, nàng phải bày tỏ sự tình. Sáng hôm sau nửa mừng nửa lo, Thái Tử vào tâu với Phụ hoàng, vua cha ngạc nhiên, truyền bói một quẻ, gặp quẻ đại cát, bèn cho Thái Tử kết hôn với nàng.
Hai vợ chồng Thái Tử ở với nhau đã lâu sinh được một hoàng nam tên là Tri và một công chúa tên là Quý. Nhưng một ngày kia, nàng nhớ quê cũ, mới đem hai con đi, lại biến thân vào cây gỗ trầm, mặc cho dòng nước xuôi về Nam, đến chân núi Cù Huỳnh, tìm lại ngôi nhà xưa ở mé núi.
Cảnh vật đổi dời, song thân đã khuất, tức thì Bà ở lại, sửa sang lại vườn tược, lập nhà thờ phụng dưỡng cha mẹ. Dân trong vùng dại dột tìm kế sinh nhai hay hại lẫn nhau, bà mới đặt ra lễ phép dạy dân làm ăn, cách sinh dưỡng, rồi sau khi chạm tượng của Bà để lại ở chóp núi, Bà cởi chim loan lên tiên giới một ban mai. Bên Bắc triều thấy người yêu không trở lại, Thái tử cho người chèo thuyền đi tìm.
Khi gần tới nơi, thủy thủ tỏ ra hống hách, dọa nạt dân trong vùng, và không biết kính cẩn tượng Thần Bà, nên bị trời phạt, thổi một trận cuồng phong đánh đắm thuyền ấy ở cửa biển Đại An.
Ngày nay, nơi đó, nổi lên một gò đá khắc chữ "khoa đẩu" (chữ Hời) xem khó hiểu, và từ hồi ấy trở đi, trên cù lao Yến thường có Thần hiển linh, cứu nhân độ thế, cầu xin gì cũng được, nên dân trong vùng khắp xa gần đều thiết bàn thờ thờ phụng Ngài.
Trên núi cù lao kia, có một ngọn tháp cao sáu trượng thời ngài Thiên Ý, bên hữu có một cái tháp nhỏ cao hai trượng thờ Thái tử, đằng sau một nhà nhỏ thờ hai con Ngài, bên tả một nhà nhỏ thờ song thân. Trước mặt tháp có dựng một cái bia đá viết chữ Hời như ta đã thấy trên hòn đá án ngữ ngoài cửa biển. Trong vườn của Ngài, hoa quả vẫn tốt tươi, khách ngoạn cảnh có thể hái và ăn tha hồ tại chỗ.
Hàng năm đến kỳ tế lễ, sơn thú và hải ngư về chầu ở cửa điện và người xưa thường kính gọi Ngài là Thiên Y A Na Điện Bà Chúa Ngọc Thanh Phi. Triều vua Nguyễn đã phong Ngài chức "Hồng nhơn Phổ tế Linh ứng thượng đẳng thần", chọn dân cù lao làm "thủy từ" ở đền Ngài.
Có một điều mà tôi lấy làm lạ, nếu ngài quả là một Thiên nữ thời đến đây làm chi, toan sống trọn đời núi non thì lại bổng dưng vượt biển Nam qua bắc kết duyên âu yếm cùng Thái tử rồi lỗi hẹn trăm năm mà trở về núi cũ; đến sau cảnh còn, người mất, gió mây trôi nổi ra oai Thần thánh; như vậy thì hành động bậc Thần thánh không tự chủ được hay sao, thật tôi rất lấy làm lạ."

Đền Pô Klong Girai (Thuận Hải)

Trên phương diện lịch sử thì vùng đất Thuận Hải hiện nay chính là phần đất phía nam của Vương quốc cổ Chăm - Pa, vùng Pandaranga. Những nhà nghiên cứu lịch sử, khảo sát điền dã tìm thấy tại đây còn nhiều kiến trúc đền tháp Chăm - Pa trong giai đoạn suy thoái sau nầy của họ.
Ngôi đền thiêng nầy nằm về phía cực nam của miền Trung trong các quần thể đền đài của Chăm - Pa. Đền Pô Klong Girai cách thành phố Phan Rang chừng 5 cây số về phía tây, gần quốc lộ 20 trên con đường lên Đà Lạt. Cụm di tích kiến trúc Phố Hài và "di tích kiến trúc Hoà Lai" chính là hai quần thể kiến trúc có niên đại khá sớm nếu so vớinhững công trình khác của Vương quốc Chăm - Pa.
Một số nhà khảo cổ học Tây Phương đến nghiên cứu văn hoá Chăm - Pa cho rằng: Các tháp Phố Hài được xây dựng vào đầu thế kỷ thứ IX. Cụm tháp Hoà Lai với hai ngôi tháp hiện còn cho đến nay là một trong những ngôi tháp đẹp về phương diện kiến trúc cũng như điêu khắc, trang trí mỹ thuật Chăm - Pa. Quần thể kiến trúc đền tháp Pô Klong Girai là một trong những di tích văn hoá Chăm - Pa được bảo lưu tương đối vững chắc và cũng được trùng tu về sau nầy.
Đây cũng là di tích kiến trúc đáng chú ý trong nền văn hoá Chăm - Pa.

Tháp Pô Romé ở Thuận Hải


Tại Thuận Hải còn tháp Pô Romé có niên đại vào thế kỷ thứ XVI.
Giai thoại được nói về Pô Romé như sau: Pô Romé sinh tại miền Paril (Phan Rí ngày nay) là đứa con hoang của một thiếu nữ Chiêm Thành, nên bị dân chúng xua đuổi ra khỏi làng.
Tương truyền là khi sinh ra Pô Romé có con Rồng thiêng hiện ra giúp đỡ cho mẹ tròn con vuông. Pô Romé sống lang bạt, theo mẹ đến định cư tại làng Boh Mơ Thu, đất Phan Rang. Romé xin chăn trâu cho vua Mơ Taha.
Romé có tài săn bắn. Một hôm, Pô Romé nằm nhai trầu trên một thân cây ngả xuống, nghiêng mình để nhổ trầu, chợt thấy hai con mắt ở thân cây, toàn thân cây đỏ rực, hiện thành con Rồng.
Từ đó vùng đất nầy được gọi là Vùng Mắt Đỏ (Cheek BhongMeeta) và Pô Romé được xem là nhân vật khác thường. Một hôm vua Chiêm nằm mơ, nghe tiếng Pô Romé đuổi chó dưới bếp. Các nhà chiêm tinh đoán mộng cho biết: đó là vua Chiêm trong tương lai. Nhà vua trọng dụng Pô Romé và gã con gái cho. Chẳng bao lâu thì Pô Romé được nhà vua nhường ngôi. Vua Pô Romé kết hôn với công chúa Bia Than Chi nhưng không có con nối giòng. Những bà phù thủy khuyên nhà vua nên đưa về hướng bắc và sẽ được toại nguyện; nhà vua nghe theo, đến xứ sở của người Rhadé và nhân đó kết hôn với nàng Bia Than Chan.
Về sang nàng nầy sinh được một gái, vào lớn lên được gã cho ông hoàng Phik Cheek. Phik Cheek thường giao du với người nước Việt và cũng biết được tánh háo sắc của Pô Romé, cho nên điều đình chúa Sãi gã nàng công chúa Ngọc Khoa cho Pô Romé. Romé khi thấy công chúa thì mê mẩn tâm thần bèn xúc tiến việc kết hôn gấp và chấp nhận mọi điều kiện của chuá Sãi đề ra.
Thâm ý của chúa Sãi là mượn cớ nầy để chiếm Chăm - Pa. Sau khi kết hôn được ba tháng, thì nàng giả vờ mang bệnh nặng. Nhà vua hoảng hốt liền cho mời những bà phù thủy đến để hỏi ý kiến. Phik Cheek lợi dụng chuyện nầy, âm mưu với những bà phù thủy, khuyên nhà vua nên chặt cây Cam xe để trừ tà. Cam xe vốn là "cây thần" bảo vệ cho nước Chăm - Pa, nhưng vì mù quáng, lại bị xúi giục nên cho người chặt cây.
Nhưng khi những vết đốn vào thân, thì đều hàn gắn lại ngay. Nhà vua tức giận, sai rước kiệu đến nơi, dùng búa thần đốn cây. Cây rên rỉ một hồi rồi ngã xuống. Trong khi đó thì công chúa Ngọc Khoa báo tin cho Chuá Sãi đem quân đánh Chiêm Thành.
Vì mất cây thần cho nên Pô Romé bị bại trận, bị bắt đưa về Thuận Hoá. Con gái của Pô Romé là Pô Romun lên kế ngôi, liền lên đường đi tìm cha mình. Nhưng khi đến nơi thì vua cha đã bị giết. Pô Romun biết được nguyên nhân cái chết của cha mình, liền bắt công chúa Ngọc Khoa ra giết. Chăm - Pa dần dà cũng bại vong. Nhưng đây chỉ là chuyện truyền miệng. Nhiều nhà viết sử không tin đó là chuyện công chúa Ngọc Khoa.

Mô hình của tháp Chăm - Pa

Những người Chăm sinh sống trong vùng Thuận Hải thường gọi những ngôi tháp đền bằng gạch đúc của mình là "Kalan" có nghĩa là "đền và lăng".
Trên nguyên tắc nầy, hầu hết những Kalan mà các tộc người Chăm hiện nay còn thờ phụng lễ bái thường xuyên đều là những đền thờ mang tính chất lăng mộ của người chết, ở đây là vua chuá.
Chẳng hạn như Kalan Pô Tầm ở gần tỉnh lỵ Phan Rí, thờ vị vua có tên là Pô Tầm, Kalan Pô Rômé toạ lạc tại địa phận của làng Hậu Sanh, xã Hữu Ðức, huyện An Phước, tỉnh Thuận Hải, thờ vua Pô Rômé, mà những tài lịêu ghi trong Biên niên sử người Chăm - Pa có ghi: trị vì từ năm 1627 cho đến năm 1651.
Kalan Pô Klong Girai (có nơi ghi là Pô Klaung Garai) tại núi Trầu, ở làng Phù Niên, xã Vạn Phước, thị xã Phan Rang thờ vua Pô Girai. Chức năng thờ mộ chỉ là một trong những chức năng của các tháp Chăm Pa. Điều khó khăn nhất là ở hầu hết các Kalang của Chăm Pa, hiện nay không còn giữ lại được những đồ thờ tự của các vị vua, cho nên, thật khó trong việc đoán định chắc thật về chức năng của từng tháp Chăm Pa một.
Thờ Thần Vua: Những công trình của các vua chúa xây dựng các đền tháp để thờ Thần vua (Vua thường được tôn sùng như Thần) được nhắc đến sớm nhất trong những loại bi ký còn bảo lưu cho đến ngày nay, nhất là bi ký của vua Bhadravarman thứ I (vào thế kỷ thứ VI) viết bằng thứ chữ Phạn, được khai quật được tại vùng Quảng Nam (ngày nay thuộc Quảng Nam - Đà Nẵng), và một số nằm trong những đền tháp tại tỉnh Phú Yên. Trong một số bi ký nói trên của vua Bhadravarman I đã ghi chép lại lãnh địa dành cho vị Thần Bhadresvarasvaman ở Mỹ Sơn. Trong tấm bi ký của Sambhuvarman (vào thế kỷ thứ VI) cho biết: Thánh đường mới được dựng lên, với danh nghĩa là Sambhu -Bhadresvara có nghĩa là mang lại nguồn hạnh phúc cho đất nước Chăm Pa. Từ thời đó trở về sau, những thánh đường do chính triều đình vua Chăm - Pa dựng lên được coi là thánh đường quốc gia.
Về sau, tên của vị Thần cũng được đổi ra Sambhu - Bhadresvara (Sambhu có nghĩa là "hùng mạnh hơn người" còn Bhadresvara có nghĩa là "bảo vệ, che chở". Nhà vua đã dùng thêm chữ Sambhu để tự tấn phong cho mình, nói lên sức mạnh vô địch. Như vậy, Sambhu - Bhadresvara trở thành "vị Thần riêng của nhà vua". Tập tục sùng bái "vua như Thần" đã trở thành một bộ phận trong "tôn giáo dân tộc" cổ truyền của người Chăm - Pa.
Tín ngưỡng Chăm - Pa
Người dân Chăm (Chàm) theo đạo Phật và đạo Bà La Môn. Ngoài những thánh đường thờ "Thần" (và vua) ra, trong kiến trúc của vương quốc nầy lại còn xây dựng những thánh đường Phật Giáo (Vihara). Đây lại là hình thức của các Tu viện, chuyên việc đào tạo tăng tài.
Những bi ký trong thời Hoàn Vương (758 - 859) đã có nhiều đoạn nói về các tổ chức của Tu Viện Vihara. Trong bi ký tại kinh đô Đồng Dương (Indrapura) có viết: Nhà vua rất sùng bái Phật Giáo, cho nên đã dựng lên Vihara trong kinh đô và ngoài dân gian. Những bi ký trong thế kỷ thứ XII của tháp Pô Klong Girai tại Thuận hải cũng đề cập đến việc kiến tạo và trung tu Tu Viện Vihara. Nhưng từ đó trở về sau, thì vết tích các Vihara của Chăm- Pa không còn được nhắc đến. Thay vào đó là những đền thờ Ấn Độ Giáo.
Những bi ký Chăm - Pa viết: Theo nhận định của những tính đồ Ấn Độ Giáo, thánh đường là "dinh thự của Thần". Người Chăm thường gọi thánh đường là "Devalaya" có nghĩa là nơi thờ Thần. Cũng có nơi dùng đến danh từ "Devakutidve" có nghĩa là nơi ngự trị của Thần. Những đền thờ của Ấn Độ Giáo trong Vương quốc Chăm không phải lànơi để các tín đồ đến hành lễ.
Chỉ có những vị theo Bà La Môn đã được "thụ pháp" mới được vào đền thờ, để tổ chức tế lễ. Điều nầy giải thích tại sao nội thất của những đền thờ nầy đều hẹp, dù toàn thể đền thờ chung thì lại rất rộng lớn. Mỗi đền thờ trong khu vực thánh địa đều có chức năng riêng: có đền lớn thì thờ vị Thần chính; những đền loại vừa thì thờ các Thần phụ. Nhỏ hơn thì thờ những bà vợ của các vị Thần, hay những người tùy tùng.
Bên ngoài thờ có những dãy kiến trúc phụ, dùng làm Tàng Kinh Các, Phòng Tăng lữ, Phòng Nhạc Công và Vũ Nữ Tôn Giáo. Trong những đền tháp của người Chăm - Pa, vị Thần được thờ phụng phổ biến nhất là Siva và vật thờ phổ biến nhất là Linga. Linga theo nguyên nghĩa Chăm - Pa là "sinh thực khí của người đànông". Vì Siva và Linga đều mang bản chất "dương tính" cho nên sinh thực khí nam và Siva được đồng nhất với nhau. Thành thử ra khi thờ Thần Siva tức là thờ Linga.
Điều nầy phù hợp với kết luận đã rút ra về khuynh hướng suy tôn Siva làm vị Thần chúa tể trong quá trình phát triển của tháp Chăm - Pa. Thờ sinh thực khí là tín ngưỡng xuất phát từ những cư dân sinh sống bằng nông nghiệp trong thời đại bán khai.
Những người dân du mục không có truyền thống thờ sinh thực khí như vậy; kinh Veda của những người theo Bà La Môn Giáo nói rằng: những kẻ lấy Linga làm "Thượng đế" là kẻ thù của đạo giáo Aryens. Tại Ấn độ, những kẻ lấy Linga làm Thượng đế vốn là tín ngưỡng của người dân Dravidiens; sự xâm nhập của nó vào đạo Bà La Môn và việc thống nhất Siva với Linga đã xẩy ra vào thời kỳ "hậu Veda". Người Chăm - Pa nằm trong khu vực nông nghiệp trong thời phát triển, tức là trước khi Bà La Môn giáo xâm nhập, đã phải có tục thờ sinh thực khí rồi. Miền Trung là miền mang tính chất "thiên về dương tính", cho nên việc thờ "sinh thực khí nam" được phát triển mạnh mẽ hơn. Những Linga thường phân chia ra làm ba loại:
Một loại Linga có một thành phần của hình trụ tròn. Linga nầy thuộc vào loại cổ nhất tìm thấy được trong khu di chỉ Óc Eo (An Giang). Linga về loại nầy có khi gặp cả hàng chục cáiđược dựng thành một hàng hay hai hàng song song với nhau. Ở Ấn Độ, không tìm thấy những Linga kiểu nầy. Như vậy Linga nầy mang dấu ấn của tính chất bản địa Chăm Pa.
Loại Linga thứ hai: cấu tạo hai thành phần. Phần trên thì vẫn là hình trụ tròn như loại trên; phần dưới là một vật thể to hình tròn - ta gọi là "biến thế 2A" có khi hình vuông, được gọi là "biến thế 2B". Biến thể trên mô phỏng theo cối giả gạo như thấy trên các trống đồng hai thạp đồng Đông Sơn và Đồng Thịnh.
Lọai thứ ba: có cấu trúc ba thành phần. Ngoài phần hình trụ tròn ở trên và phần hình dương ở dưới như hai loại trên, loại Linga nầy còn một đoạn hình bát giác xen kẻ vào giữa.
Cấu trúc Linga ba thành phần như kiểu nầy phản ánh ảnh hưởng của "triết lý Bà La Môn Giáo Ấn Độ". Phần hình vuông là âm tính ở dưới, ứng với Thần Brahma sáng tạo. Khúc hình bát giác ở giữa là phần chuyển tiếp, biểu hiện cho Thần Vichnou tức là bảo tồn. Phần trụ tròn (dương tính) ở trên ứng với Thần Siva (Thần phá huỷ). Ngoài ra, nhạc Chăm - Pa cũng được dùng trong những lễ tế tự.


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 23.01.2015.