TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



NGUYỄN KHÔI



* Sinh năm 1938
* Quê quán : Đình Bảng - Huyện Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh

* Hội viên :
- Hội Nhà Văn Hà Nội
- Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội
- Hôi Dân tộc học Việt Nam
* Ủy viên BCH Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam
* Chuyên viên cao cấp, nguyên Phó Vụ Trưởng Vụ Dân Tộc Văn Phòng Quốc Hội


ĐÃ XUẤT BẢN :

. Trai Đình Bảng (thơ) 1995,2000
. Gửi Mường bản xa xăm (thơ) 1998
. Trưa rừng ấy (thơ) 2005
. Bắc Ninh thi thoại (khảo cứu) 1997,2000,2004
. Cổ pháp cố sự (tùy bút) 2003
. Xứ Thái mù sương (tùy bút) 2001
. Tiễn dặn người yêu, Khun Lù Nàng Ủa, Út Ơ về Kinh, Ỳ Nọong-Nàng xưa, Tiếng hát làm dâu...(dịch-chuyển thể) 1996,2003 ....



THƠ


* CON MẮT PHÚ YÊN
* GỬI BẠN XỨ ĐOÀI XA XỨ
* VỚI ĐÀ LẠT
* KHÓC NGUYỄN MAI
* VỀ HÀ NỘI
* AO LÀNG
* VỚI SA PA
* THĂM HÀN SƠN TỰ
* DẠO PHONG KIỀU LỘ
* NHỚ LỖ TẤN
* QUỐC NGỮ
* QUA BẾN TẦN HOÀI
* ĐẾN TÂY HỒ NGẮM CÔ SƠN NHỚ TỐ NHƯ
* CHÚT NIỀM RIÊNG Ở THƯỢNG HẢI
* THƯỞNG CHÈ LONG TỈNH
* PHỐ CỔ TÔ CHÂU
* Ô DẠ ĐỀ
* VỚI CÂY NGÔ ĐỒNG
THƯƠNG NGƯỜI THƠ KHÓC ĐƯỜNG THI


















BẮC NINH THI THOẠI






Lời dẫn :

Bắc Ninh thi thoai của Nguyễn Khôi (Đình Bảng) đã tái bản nhiều lần ở Việt Nam , độc giả trong và nước đánh giá cao giá trị nghệ thuật của tác phẩm này .
Xin trân trọng lần lượt giới thiệu cùng bạn đọc


Việt Văn Mới





BÀI 5


Đ ến đời Lê , thơ của thi sỹ Kinh Bắc - Bắc Ninh đã mang nặng chất "học giả". Những thi sỹ là Trạng nguyên , Tiến sỹ , Cử nhân , các vị quan lớn xuất hiện nhiều trên thi đàn . Trong Hội Tao Đàn của vua Lê Thánh tông với 28 vị (nhị thập bát tú) thì 2 trong 3 vị phó nguyên suý là nguòi Kinh Bắc . Thơ cung đình , thù tạc kể cả Hán lẫn Nôm phát triển ở mức độ cao.

Vì đây là " Thi Thoại " (nhàn đàm bàn chuyện làm thơ của dân Kinh Bắc - Bắc Ninh , bàn chi trong lúc trà dư tửu hậu) chứ không phải "thi tuyển '(tuyển chọn thơ) nên những câu thơ , bài thơ " dẫn " ở đây chỉ là để " bàn " chuyện làm thơ mà thôi. Tuy vậy thời Lê là thời đỉnh cao của làng thơ Kinh Bắc , nên cũng xin sơ bộ thống kê một số thi tập như sau :

- Thái học sinh Vũ Mộng Nguyên (người Tiên Du) đỗ cùng Nguyễn Trãi , phò Lê Thái Tổ, làm đến Tế tửu, Quốc tử giám , đã để lại mấy chục bài thơ cách luật, phong cách trang trọng mực thước.

- Trần Khản (quê Tù Sơn) làm tới Chính sự viên tham nghị có tập thơ Phục Hiên , có bài thơ sau :

Công danh đạo đẳng mạc hồi đầu

Phú quý phù vân để dụng cầu

Bất đố bất tham tuỳ vận ngộ

Tứ hưu chi ngoại cánh hưu hưu

Tạm dịch :

Công danh chõ vỡ ngoảnh mặt đi

Phú quý phù vân chuốc làm gì !

Tuỳ phận chẳng tham , không ghen tỵ

Biết thân tự chế... thiết chi chi

( Lý Thanh dịch )

- Thái Thuận (tiến sỹ 1475) đã đạt tình thì kín mà ý thì sang :

Bến Hoàng Giang Tức Cảnh

Nhà cỏ tuôn làn khói

Thuyền nán ghé mái bồng

Trẻ con ba tốn tóp

Bắt cáy dọc bên sông

Thái Thuận còn có bài :

Sông Muộn Giang

Bãi phẳng triều lên ngập

Nhà nông sớm vội cầy

Vắt trâu nghe mấy tiếng

Cò trắng giật mình bay

- Nguyễn Thiên Tích (Nội Duệ - Từ Sơn Bắc Ninh) đậu tiến sỹ năm 1431 đời vua Lê Thái Tổ , nguòi cương trực , làm đến Binh Bộ Thượng thư , kiêm Tế tửu Quốc tử giám .

Ông có Tiên sơn tập 4 quyển .Thơ ông theo đúng âm luật Đuòng , bài thơ ông viết trong khi đi sứ bên Tàu , nhưng hồn thì ở quê :

Làm Trong Thuyền

Đêm lặng trăng như vẽ

Trời rét tuyết thành hoa

Thuyền côi nghìn dặm khách

Chiêm bao : đang ở nhà .

- Tiến sỹ Đàm Văn Lễ 18 tuổi (sinh 1432) người làng Lãm Sơn (Quế Võ) làm quan tới Thượng Thư trải qua các đời vua Lê Thánh Tông , Lê Hiến Tông. Ông nổi tiếng trung trực , sau lại bị vua Uy Mục căm giận đầy vào Quảng Nam và bị giết chết ở Nghệ An.

Thơ thiên nhiên của ông lấy cảm xúc chân thành làm nền cho thi hứng :

Đêm Ba Mưa Tết, Ngẫu Cảm Nên Thơ

Năm mới hầu sang cũ chán rồi

Thói đời lật lọng , nghĩ thương ôi !

Chuyện thường năm tháng còn yêu ghét

Phụ bạc nhân tình chớ trách ai

- Tiến sỹ Nguyễn Xung Y (Nguyễn Nhân Phùng) người làng Kim Đôi (Quế Võ) , thành viên của Tao đần nhị thập bát tú do Lê Thánh Tông chủ xướng . Ông đã sáng tác " Tiêu Tương bát cảnh " bằng quốc ngũ đượm hồn thơ Việt :

Mưa Đêm Trên Sông Tiêu Tương

Ngàn Tương thuở rụng hạt mưa

Lã chã thâu đêm gió đưa

Rọt tiếng vàng , cao lại thấp

Rung cành ngọc , nhặt thì thưa

Đành anh tai khách nằm chăng nhắp

Lai láng lòng thơ hứng có thừa

Sớm dậy xem rồng mọc cháu (sừng)

Nghìn hàng đổng (nhiều) lạ hơn xưa.

- Hoàng Đức Lương, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1478) quê ở làng Cửu Cao (Văn Giang) sau tới ở thôn Ngọ Kiều (Gia Lâm) rất nổi tiếng với Bộ "Trích Diễm Thi tập" tuyển thơ từ thời Trần đến đầu đời Lê với 15 quyển. Những lời bàn luận về thơ của Hoàng Đức Lương đã góp phần qúy báu vào gia tài lý luận văn học cổ nước ta vốn không phong phú lắm.Ông viết "Cổ nhân đối với thơ, có người ví với chả cá, có người ví với gấm thêu. Chả cá là vị ngon nhất đời, gấm thêu là sắc đẹp nhất đời, ai biết ăn, biết ngắm đều biết qúy trọng, không coi thường bó phí....".

Thơ Hoàng Đức Lương giản dị, kiệm lời, kiệm chữ nhưng lại mang nặng những suy tưởng, triết lý sâu xa về cuộc đời, về vũ trụ bao la, về cuộc hành trình bất tận của con người trên nẻo đường nhân gian mà không ai biết được đâu là điểm khởi đầu, đâu là chỗ cư trú cuối cùng của kiếp người?

Đạo Thượng

Lộ viễn vô tận đầu,

Cổ kim trường qúi khứ

Kim nhân vị khẳng hưu,

Cổ nhân tại hà xứ?

Tạm dịch :

Đường xa dường bất tận

Lữ khách mải trước sau

Người nay nào đã nghỉ

Người xưa ở nơi đâu?

(Trên Đường - Lý Thanh dịch)

Thôn Cư

Tàm ám tàng chính miên,

Thiềm đê yến sơ nhũ

Lực quyện hạ sừ qui

Trú vĩnh cưu thanh ngũ (ngọ)

Tạm dịch :

Tằm đang cuộn ngủ trong dâu,

Ém vừa sinh nở ló đầu dưới hiên

Bừa về vác mỏi vai êm,

Nghe tu hú họi ngang thềm bóng trưa

(Ở Làng - Lý Thanh dịch)

Với Hoàng Đức Lương : Văn chương lá có nhan sắc, chả thế mà thi tập của ông có chọn lựa (trích) ra từ những bài thơ diễm lệ của một thời.

*

Tiến sĩ Thân Nhân Trung (1418-1499) quê làng Nếnh (Việt Yên), là phó đô nguyên súy Hội Tao Đàn của vua Lê Thánh Tông. Thơ ông được vua khen là "thợ khéo tay vô địch" được ban một bộ áo long bào tuyệt đẹp "cánh cầu vô địch thủ, tài tác cổn long y ".

Vâng Họa Thơ Vua : Đạo Làm Vua

Nghiền ngẫm uyên thâm kế thánh thần

Rộng truyền pháp chế - phép trời ban

Chăm dân - tam đại noi gương trị

Luyện võ, bốn mùa mở cuộc săn

Chín khúc sửa - xây điều chính sự

Tám quyền cử - truất khéo công tâm

Ngôi hoàng sừng sững ngời muôn thuở

Thế nước thạch bàn vững ngàn năm.

Cùng thời có cặp vợ chồng tài sắc nữ sĩ Kim Hoa - Phù học sĩ, thơ rất trữ tình :

Ý Xưa

Sen lá như dù biếc

Sen hoa tựa má đào

Nhớ ai chưa gặp mặt

Thơ thẩn mãi bên ao

(Hàn lâm học sĩ Phù Thúc Hoành)

Mùa Hạ

Gió cây lựu tơi bời

Trên đu tha thướt dáng người giai nhân

Oanh vàng ủ rũ thương xuân

Một đôi tiếc cảnh tần ngần trên cây

Dừng kim rủ thấp đôi mày

Nương song hồn mộng xa bay cuối trời

Cuốn rèm ai cứ gọi hoài

Để hồn em chẳng được bay tới chàng

(Ngô Chi Lan)

_____________________________________________

CÒN TIẾP...


NGUYỄN KHÔI
(ĐÌNH BẢNG)


© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ.



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC