Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Hát Ví Dậm Trên Sông Lam

Năm mới mừng

“dân ca Ví, Dặm” xứ Nghệ-Tĩnh

trở thành Di sản Thế giới






    Dân ca Nghệ Tĩnh với các thể  hát ví, hát dặm là máu thịt của người dân xứ Nghệ, từng có nguy cơ thất truyền, vừa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
    Rất khó để xác định thời điểm ra đời của ví, dặm Nghệ Tĩnh, nhưng các nhà nghiên cứu đều thừa nhận, loại hình nghệ thuật này đã có từ rất lâu đời và nó ra đời gắn với đời sống lao động của người dân vùng này.
"Đặc sản" văn hóa của người Nghệ Tĩnh
    Nhạc sĩ Thanh Lưu, nguyên Trưởng đoàn Kịch hát Nghệ Tĩnh cho rằng, thời xa xưa, trong kho tàng văn hoá dân gian vùng Nghệ Tĩnh, ví, dặm là loại hình tiêu biểu, mang sắc thái bản địa rõ nét nhất, được xem như một thứ "đặc sản" văn hóa quý báu của người dân xứ Nghệ.
   Dân ca Nghệ Tĩnh gồm nhiều thể, trong đó có 3 thể phổ biến nhất là hát ví, hát dặm và hò. Nhạc sĩ Thanh Lưu cho rằng, hát ví thuộc thể ngâm vịnh, theo phương pháp phổ thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể...). Ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co giãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ. Tình điệu (tính biểu cảm) thì tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian thời gian và tâm tính của người hát.
    Ví có những làn điệu tiêu biểu như: Ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví trèo non, ví mục đồng... “Đặc tính chung của ví là trữ tình, nghe trang trải mênh mang sâu lắng, xao xuyến bâng khuâng, ân tình tha thiết. Tuy vậy, vẫn có loại ví ghẹo và ví mục đồng nghe dí dỏm hài hước, nghịch ngợm, hồn nhiên, tươi trẻ”, nhạc sĩ Lưu nói.
    Dặm là thể hát nói, bằng thơ ngụ ngôn (thơ/vè 5 chữ). Dặm có những làn điệu như: Dặm kể, dặm cửa quyền, dặm ru, dặm vè, dặm nối... Khác với ví, dặm là thể hát có tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh phách nhẹ, có nhịp nội nhịp ngoại. Đặc tính chung của dặm là tự sự, tự tình, kể lể khuyên răn, phân trần, cũng có khi dí dỏm châm biếm hoặc trữ tình giao duyên.
Ra đời từ lao động
 
   Nghệ sĩ nhân dân Hồng Lựu, Phó giám đốc Trung tâm Bảo tồn, phát huy di sản dân ca xứ Nghệ cho rằng, ví, dặm Nghệ Tĩnh có một đặc tính khá đặc biệt. Khác với dân ca quan họ Bắc Ninh được hình thành và gắn liền với sinh hoạt lễ hội, đờn ca tài tử gắn với những sinh hoạt tụ hội, nhã nhạc cung đình gắn với những hoạt động nghi lễ trang trọng..., hò, ví, dặm Nghệ Tĩnh gắn với cuộc sống lao động. “Hò, ví, dặm Nghệ Tĩnh luôn có mặt trong mọi sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, không kể bất kỳ thời gian, không gian nào. Người dân xứ Nghệ xưa có thể hát dân ca lúc chèo thuyền trên sông, lúc lấy củi trên rừng, lúc cày bừa, cấy gặt trên đồng, lúc hái dâu, dệt vải, lúc ru em, ru con trong gia đình; trai gái xứ Nghệ hát dân ca lúc hẹn hò, giao duyên, lúc hội hè, đình đám...”, bà Lựu lý giải.
 
   Có thể xem đây là một đặc điểm riêng khi so sánh với dân ca các vùng miền khác. Điều này cho thấy ví, dặm Nghệ Tĩnh có khả năng ứng tác rộng rãi, tự nhiên trong đời sống sinh hoạt cộng đồng. Mỗi một công việc, một làng nghề của xứ Nghệ lại có những làn điệu riêng phù hợp với đặc điểm và nhịp độ của công việc.
    Nhịp điệu của ví, dặm rất phong phú, linh hoạt và tự do, có thể phù hợp với rất nhiều ngữ cảnh sinh hoạt khác nhau, nhiều cung bậc tình cảm, tâm trạng khác nhau của con người.
 
   “Ví, dặm không chỉ là tiếng nói từ lao động, tiếng nói tâm tình mà còn phản ánh đời sống của
người dân xứ Nghệ. Chính vì vậy, nội dung của nhiều làn điệu mang tính thời sự rõ nét. Mỗi giai đoạn với những biến động xã hội đều có thể được phản ánh, lưu lại trong lời ca những dấu ấn riêng, giúp thế hệ sau hình dung được sự kiện, tâm tư, tình cảm... của từng giai đoạn lịch sử”, bà Lựu giải thích.
    Nghệ sĩ nhân dân Hồng Lựu cũng cho rằng, chất liệu ví, dặm sau này đã phát triển thành những ca khúc mang hơi thở và nhịp sống hiện đại. Những ca khúc này đều nổi tiếng, được ưa thích bởi âm hưởng nhẹ nhàng, sâu lắng của nó, như: Xa khơi, Chào em cô gái Lam Hồng, Câu hò trên đất Nghệ An, Tiếng hát sông Lam, Trông cây lại nhớ đến Người, Từ làng Sen, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò xứ Nghệ, Lời Bác dặn trước lúc đi xa, Khúc tâm tình người Hà Tĩnh, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ...

Dân ca Ví dặm được công nhận là di sản văn hóa nhân loại
    Vào lúc 23 giờ 10 ngày 27.11.2014 (theo giờ Việt Nam), phiên họp lần thứ 9 của Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (trực thuộc UNESCO) diễn ra tại Paris (Cộng hòa Pháp) đã chính thức vinh danh Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh của Việt Nam là  di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

    Được biết, năm 2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam đã đưa Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
    Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh của Việt Nam được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã chứng tỏ sức sống của văn hoá truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập vào văn hoá thế giới.
    Phát biểu trước toàn thể kỳ họp, bà Đặng Thị Bích Liên, Thứ trưởng Bộ Văn hóa thể thao và du lịch Việt Nam, nhấn mạnh: "Quyết định tại Kỳ họp thứ 9 của Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 của UNESCO công nhận Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với dân tộc Việt Nam về một loại hình dân ca được thực hành ở các làng quê, gắn bó với mọi việc của con người trong đời sống thường ngày".
    Ông Nguyễn Thiện, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, cho biết: Đây là niềm vinh dự và tự hào chúng tôi sẽ có chiến lược và các kế hoạch với các nội dung cụ thể để phát huy thế mạnh của di sản.
Lễ vinh danh dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh
    Bà Đinh Lệ Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, cho biết Lễ đón nhận Bằng công nhận của UNESCO vinh danh dân ca Ví, dặm Nghệ -Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại sẽ được hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức vào tối 31-1-2015 tại quảng trường Hồ Chí Minh, Nghệ An. Lễ vinh danh sẽ kéo dài 100 phút với chủ đề “Về miền Ví dặm” – sẽ kết nối các miền Di sản trên cả nước.
Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh: Nâng tầm lan tỏa
    Sản sinh trên mảnh đất bao đời chan chứa nghĩa tình, dân ca ví, dặm Nghệ - Tĩnh là tiếng lòng sâu thẳm của cư dân nơi đây. Được kết tinh từ những tập quán sinh hoạt trên vùng đất cách xa những biến cố lịch sử và hợp lưu các dòng văn hóa bên ngoài nên dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh có những nét độc đáo riêng không thể trộn lẫn. Hơn nữa, đây cũng chính là vùng đất của rất nhiều bậc hiền tài, danh nhân và họ trực tiếp tham gia sáng tác, biểu diễn nên dân ca ví, dặm có những thời kỳ tồn tại rực rỡ với lời ca đậm tính văn chương. Điều đó tạo sức sống nội sinh bền bỉ cho dân ca ví, dặm.  

   Cùng với việc sưu tầm, nghiên cứu các thể loại dân ca ví, dặm thì các hình thức biểu diễn, truyền dạy… cũng đã góp phần to lớn trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị của loại hình văn hóa đặc sắc này. Thời gian qua, Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản Dân ca xứ Nghệ (trước đây là Nhà hát Dân ca Nghệ An) không chỉ nỗ lực, cố gắng trong việc bảo tồn mà còn phát huy tốt di sản dân ca ví, dặm quê hương. Chính các làn điệu truyền thống ấy đã được các nghệ sỹ, diễn viên của trung tâm thổi vào hơi thở mới, nhịp điệu mới, lời mới... làm nên thương hiệu “vàng” cho nhiều vở diễn tại các hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc như: Mai Thúc Loan, Vết chân tròn trong bão tố, Danh nhân lớn lên từ câu hò ví, dặm, Soi vào quá khứ, Một cây làm chẳng nên non, Người thi hành án tử hình, Góc khuất đời người, Đường đua trong bóng tối, Lời Người, lời của nước non… Mỗi nghệ sỹ, diễn viên của trung tâm còn là một tuyên truyền viên tích cực, đã chắp cánh cho các làn điệu dân ca ví, dặm xứ Nghệ lan tỏa khắp mọi miền đất nước. Nghệ sỹ nhân dân Hồng Lựu - Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản Dân ca xứ Nghệ cho hay, vở kịch hát dân ca “Lời Người, lời của nước non” đạt kỷ lục trên 1.000 đêm diễn và được công chúng cả nước hồ hởi đón nhận. 

   Không chỉ cơ quan chuyên môn mà người dân nhiều địa phương trong tỉnh cũng rất tích cực trong việc bảo tồn và phát huy vốn quý dân ca. Thời gian qua, tỉnh ta tiến hành xây dựng, nhân rộng các mô hình CLB Dân ca xứ Nghệ là một trong những cách làm có hiệu quả để thực hiện bảo tồn ví, dặm Nghệ - Tĩnh trong nhân dân. Các CLB đó đã được nuôi dưỡng bằng chính niềm đam mê cháy bỏng của những người dân lao động chân chất. Ở đó, chúng ta bắt gặp các cụ bà, cụ ông mái đầu bạc trắng vẫn ngày đêm truyền dạy cho con cháu những lời ca cổ.
 
   Tuy giọng hát không còn trong trẻo, mượt mà, nhưng chính các cụ là người đã truyền lửa dân ca cho lớp trẻ hôm nay. Bà Trần Thị Hoa (73 tuổi) thành viên CLB dân ca Thị trấn Đô Lương thì việc tham gia CLB là để thỏa nỗi lòng yêu thích những làn điệu mộc mạc, đằm thắm từ thuở còn con gái. Trước đây, khi các con còn nhỏ, bà thường hát ru con bằng những câu ví đò đưa, hò chèo thuyền; bà thường dùng những lời ca giản dị để  dạy bảo con cháu. Hay như Nghệ nhân Nguyễn Cảnh Bình ở phường Nghi Hải (TX. Cửa Lò) gần 80 tuổi vẫn cần mẫn đạp xe hết làng này, xã nọ dạm hỏi, ghi âm những khúc hát, điệu hò… Đến nay, ông đã sáng tác được hàng chục ca khúc và nhiều ca cảnh, đã sưu tầm và phổ nhạc được gần chục làn điệu hò, điệu ví của ngư dân vùng biển Cửa Hội, Cửa Lò, như: hò xô nốc, hò làng Mộc, hát bà Đội…  

   Việc Ngoài sự hỗ trợ đắc lực từ hình thức sân khấu hóa, những năm qua, dân ca ví, dặm Nghệ - Tĩnh còn được tiếp thêm sức sống thông qua các hoạt động dạy hát dân ca trên truyền hình và trong các nhà trường. Đó cũng là một trong những cách để dân ca thực sự sống trong đời sống, trở thành máu thịt, thành món ăn tinh thần, thành phương tiện giãi bày tâm tư, tình cảm của con người hôm nay.
   Từ năm 1985, Trường Cao đẳng Văn hóa - Nghệ thuật Nghệ An đã khởi xướng biên soạn giáo trình giảng dạy Dân ca Nghệ Tĩnh và một số làn điệu dân ca các miền. Dân ca được đưa vào bộ môn thanh nhạc và trở thành môn bắt buộc, mỗi học sinh ra trường đều biết hát dân ca. Năm 1996, Đài PT-TH Nghệ An phối hợp Sở VH-TT&DL mở chuyên mục "Dạy hát dân ca" trên sóng phát thanh - truyền hình hàng tháng. Năm 1999, Sở GD - ĐT, Đài PTTH tỉnh phối hợp ra Văn bản liên tịch số 137/CV - LT về tổ chức phong trào hát dân ca trong trường học. Phong trào hát dân ca trong các trường từ bậc tiểu học, THCS, THPT kể cả các trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề trên địa bàn toàn tỉnh phát triển rầm rộ. Nhiều hạt nhân văn nghệ được phát hiện nhờ phong trào hát dân ca. Em Nguyễn Quốc Bảo, học sinh lớp 6C, Trường THCS Làng Sen – Kim Liên (Nam Đàn) từng đạt giải “Nghệ nhân nhỏ tuổi hát dân ca hay nhất” trong “Liên hoan Câu lạc bộ Dân ca xứ Nghệ lần thứ nhất” năm 2012, cho biết: Em hát được dân ca, thuộc nhiều làn điệu, nhiều thể loại là nhờ mẹ. Mẹ em là giáo viên dạy dân ca ở trường, mẹ đã truyền cho em niềm đam mê, tình yêu dân ca mãnh liệt. Mẹ dạy em làm người bằng những câu ví, thể hiện tình yêu thương, chăm sóc bằng chính tiếng hát ru... Cứ thế, dân ca thấm vào em một cách tự nhiên”.
 
   Đặc biệt, tháng 10/2014 vừa qua, Hội thi Tiếng hát dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh lần thứ nhất bậc THCS đã diễn ra thu hút hơn 53 tiết mục tham gia dự thi của các em học sinh đến từ các trường học của 16 đơn vị huyện, thành, thị trong tỉnh. Cô Nguyễn Thị Mai Lan – giáo viên dạy nhạc Trường THCS Làng Sen – Kim Liên (Nam Đàn) cho rằng: Hội thi là hoạt động cụ thể, có tác dụng trực tiếp tới đời sống văn hóa tinh thần đối với tầng lớp thanh, thiếu niên. Là cách làm hiệu quả để bảo tồn phát huy dân ca ví, dặm, mang tính giáo dục cao và thiết thực cho giới trẻ, nhất là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, đó là cách để chúng ta cùng chung tay bảo tồn, phát huy giá trị vô giá mà ông cha ta để lại. 
 
   Để bảo tồn, phát huy giá trị di sản Dân ca ví, dặm xứ Nghệ, thời gian qua, tỉnh ta đã chỉ đạo các ban, ngành liên quan mà trực tiếp là Sở VH-TT và DL vào cuộc tích cực. Cụ thể: Từ năm 1976, chúng ta đã tổ chức Hội thảo khoa học về định hướng thể nghiệm âm nhạc của sân khấu dân ca theo hướng kịch hát truyền thống của dân tộc. Tiếp đó, năm 1984, lần thứ hai tổ chức Hội thảo khoa học về Dân ca xứ Nghệ, xác định phương hướng phát triển cho bộ môn kịch hát Dân ca xứ Nghệ. Năm 1987, hội thảo lần thứ 3 tiếp tục công tác nghiên cứu để định hướng cho phát triển dân ca với tư cách là bộ môn kịch hát. Năm 2002, Hội thảo khoa học 30 năm sân khấu hóa Dân ca Nghệ Tĩnh được Sở VHTT phối hợp Viện Sân khấu tổ chức là dịp tổng kết lại quá trình nghiên cứu, thể nghiệm sân khấu hóa dân ca, đề ra những giải pháp đưa sân khấu hóa dân ca tiếp tục phát triển – xây dựng một sân khấu hóa mới mang đậm bản sắc Nghệ An. Và năm 2011, Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca hò, ví, dặm xứ Nghệ đã diễn ra tại TP. Vinh, nhằm khẳng định những nét chủ yếu, cơ bản của dân ca, ví, dặm và hò xứ Nghệ để thấy rõ những giá trị tốt đẹp – tiến tới đề nghị UNESCO vinh danh Dân ca, ví, dặm xứ Nghệ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp.  Song song với việc tổ chức các cuộc hội thảo từ năm 2012, tỉnh tổ chức Liên hoan Dân ca, ví, dặm xứ Nghệ. Mỗi năm một lần, liên hoan diễn ra vào dịp tháng 5 – Kỷ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với Lễ hội Làng Sen. Đây là một trong những liên hoan thu hút nhiều câu lạc bộ dân ca trong tỉnh tham gia với số lượng diễn viên đông, chất lượng tác phẩm ngày càng đa dạng, phong phú.
 
   Để duy trì, phát huy hơn nữa hiệu quả các CLB dân ca, ví, dặm, năm 2006, UBND huyện Nam Đàn đã ban hành Đề án “Bảo tồn và phát huy hát ví phường vải trong Dân ca Nghệ Tĩnh” với những cơ chế, chính sách cụ thể như tiến hành sưu tầm, truyền dạy, thành lập các CLB tại các địa phương. Khuyến khích, động viên, hỗ trợ một phần kinh phí từ xã hội hóa cho các CLB hoạt động. Hay như huyện Diễn Châu có cơ chế hỗ trợ bước đầu cho các CLB dân ca, sau khi thành lập sẽ được huyện đầu tư 3 triệu đồng để mua nhạc cụ, trang phục biểu diễn. Đồng thời hàng năm mở lớp tập huấn cho hội viên, cho chủ nhiệm các CLB. Thời gian tới, Trung tâm Văn hóa tiếp tục tham mưu cho UBND huyện thành lập thêm một số CLB ở cơ sở và có cơ chế, chính sách phù hợp cho các câu lạc bộ này duy trì hoạt động và phát triển. 
 
 Một số ý kiến về công tác bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ:
 
    Nghệ sỹ Nhân dân Hồng Lựu – người nặng lòng với dân ca và thành danh từ dân ca khẳng định: Những năm gần đây dân ca Nghệ Tĩnh đã thực sự được người dân đón nhận. Và hiện nay, dân ca xứ Nghệ đã và đang có sức sống mãnh liệt trong cộng đồng, thật sự trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu với rất nhiều tầng lớp nhân dân. Nếu UNESCO vinh danh Dân ca, ví, dặm xứ Nghệ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại thì dân ca sẽ phát triển bền vững trong lòng nhân dân, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ…

LỜI KẾT

Âm nhạc dân tộc Việt của cà ba miền Bắc, Trung và Nam đều hãnh diện được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Phi vật thể của Nhân loại:

- Điệu CA TRÙ tại Miền Bắc
Lối hát thơ , thính phòng, cung đình
Điệu CA TRÙ miền Bắc
Ca phối hợp ngón tay, khổ phách
Di sản Nhân loại!

- Điệu QUAN HỌ Bắc Ninh
Lối hát đối đáp Liền anh - chị
Điệu QUAN HỌ ở Bắc Ninh
Lời ca hay, trữ tình, giao duyên
Di sản Nhân loại!
(Cả hai Di sản này được công nhận cùng vào tháng 9-2009)

- Dân ca VÍ DẶM Nghệ - Tĩnh
VÍ, DẶM: ngâm vịnh thơ dân tộc ( lục bát, ngũ ngôn…)
Gắn với cuộc sống lao động...
Giao duyên, tự sự (của người ) dân Nghệ - Tĩnh
Dia sản Nhân loại!
( Di sản mới nhất được công nhận 27/12/2014, đón Bằng vinh danh 31/1/2015)
- NHÃ NHẠC Cung đình Triều Nguyễn tại Huế
Nhạc Huế xư a bác học, tao nhã
Ờ Cung đình, dịp tế lễ
NHÃ NHẠC Cung đình của Triều Nguyễn
Di sản Nhân loại! ( tháng 11-2003)

- ĐỜN CA TÀI T Nam Bộ
Từ Văn học dân gian, Nhã nhạc (cung đình Huế)
21 tỉnh thành Đông, Tây
Có ĐỜN CA TÀI TỬ Nam Bộ
Di sản Nhân loại! (tháng 12-2013, đón Bằng vinh danh 11-02-2014)
(Lời mới bài hát “London Bridge”)

Việc bảo tồn:
    Chúng ta từng nói rất nhiều tới việc các di sản phi vật thể bị khai thác bừa bãi để phục vụ du lịch, để rồi dẫn tới những hiệu ứng tiêu cực trong cộng đồng. Với trường hợp Ví, Dặm Nghệ Tĩnh: Cái sai lớn nhất của chúng ta là luôn tìm cách "kéo" di sản về phục vụ du lịch, chứ không chịu tư duy theo hướng ngược lại. Mỗi loại hình di sản đều có giá trị cao nhất khi được đặt trong không gian đặc thù của nó. Chẳng hạn, thay vì bắt nghệ nhân Quan họ vào nhà hàng, vào Văn Miếu hay ra các điểm du lịch biểu diễn, sao ngành du lịch không nghĩ tới việc đẩy mạnh các chương trình đưa du khách về đất Quan họ, để xem các liền anh liền chị hát Quan họ tại đình làng, với không gian và nếp sinh hoạt quen thuộc của mình?
    - Nhân sắp tới tháng giêng mùa hát Quan họ, chúng ta cúng hát vang ca khúc:
Làng Quan họ quê tôi -Sáng tác: Nguyễn Trọng Tạo
Làng quan họ quê tôi, tháng giêng mùa hát hội, những đêm trăng hát gọi,
Con sông Cầu làm bao xanh ngang lưng làng quan họ xanh xanh
Làng quan họ quê tôi, những chiều bao thương nhớ
Tiếng ca đầu ngọn gió, nón quai thao... người ơi
Nón quai thao (ư) nói gì người ơi
*(ĐK1):
Người ơi..., làng quan họ quê tôi.
Cửa đình hồ bán nguyệt, Chị Cả tựa mạn thuyền
Anh Hai ngồi bẻ lái, quan họ về (mà) là về trao duyên
Liền anh, liền chị hát quan họ mới trên thuyền tại Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội

Ấy quan họ về... là về trao duyên ơ hớ....
Những đêm trăng lên chín nhịp cầu thương nhớ
Tiễn đưa anh đi em hát bài quan họ
Xin gửi cả ánh trăng quê nhà
Trong lời hát tiễn anh lên đường…
Ví dặm Hát quan họ mới trên thuyền tại Hồ Hoàn Kiếm

    - Chúng ta hãnh diện vì 5 nền Âm nhạc Dân tộc cả ba miền Bắc, Trung và Nam trải dài trên mảnh đất hình chữ S thân yêu -đều đã được vinh danh là Di sản Thế giới. Thật là vẻ vang thay cho Đất Việt con Rồng cháu Tiên!


(Tham khảo: Tài liệu trên Sách báo trên Internet)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 23.01.2015.