Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





VỀ CUỘC “BÀN GIAO” GIỮA HAI THẾ HỆ THƠ








Năm 1975, đất nước đã thống nhất, nhiệm vụ lịch sử trọng đại nhất của dân tộc ta đã hoàn thành. Và như thế, cùng với cả dân tộc, các nhà thơ thế hệ chống Mĩ về cơ bản, cũng đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang nhất của mình với tư cách là các nhà thơ - chiến sĩ, dù có nhà thơ không trực tiếp cầm súng ra trận. Tất nhiên, nhiệm vụ này vẫn được tiếp tục và những thành tựu nghệ thuật của thế hệ này, vẫn được phát huy, không ít người trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, nhưng thành tựu cao nhất của cuộc đời nghệ thuật của mình, lại ở những năm sau, thậm chí sau khá xa so với mốc lịch sử 1975. Tầm quan trọng và những đóng góp to lớn của thế hệ này, với các sáng tác tâm huyết và đầy quả cảm của mình, trước và sau năm 1975, là lực lượng chủ yếu tiếp tục đi suốt một chặng đường khá dài khác trong những năm đổi mới Đất nước, đã có trong nhiều tham luận của các nhà thơ, nhà nghiên cứu tại Hội thảo này, do đó, tôi xin phép không nói đến. Điều tôi quan tâm là : Có hay không cuộc “bàn giao” giữa hai thế hệ thơ và nếu có thì nó diễn ra thế nào, kết quả thế nào... Tất nhiên chữ “ bàn giao” được dùng như một quan niệm, với ý nghĩa tưởng tượng.

    Tôi nghĩ: Đã có một cuộc “bàn giao” giữa hai thế hệ thơ trước và sau năm 1975, thực chất là sau năm 1986, mà theo tôi có lẽ là không thành công. Sở dĩ tôi nói vậy là tôi đặt nó bên cạnh cuộc “bàn giao” lần thứ nhất, các thế hệ nhà thơ trước và sau năm 1954, mà ta thường gọi là thế hệ các nhà thơ chống Pháp và thế hệ các nhà thơ chống Mĩ. Cuộc “bàn giao” này, theo tôi là thành công. Về đội ngũ các nhà thơ và về cảm hứng chủ đạo của nghệ thuật, nó nối liền nhau, thành một hơi thống nhất, một sợi chỉ đỏ xuyên tâm, kết dính mọi tài năng, mọi tấm lòng, mọi tác phẩm, trong một chủ đề lớn của nghệ thuật là chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Sự thống nhất của nó đến mức như Chế Lan Viên viết: “Những năm toàn đất nước có chung tâm hồn, có chung gương mặt / Nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ in nhau”. Vậy nên Tế Hanh mới viết: “Đọc câu thơ đồng chí tưởng thơ mình”. Còn cuộc “bàn giao” lần thứ hai này, khác hẳn. Bởi vì nhiệm vụ chiến lược của hai thời kì, thời kì đánh giặc ngoại xâm và thời kì xây dựng một đất nước kiểu mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử, hội nhập với thế giới sau hơn 30 năm chiến tranh, tương ứng với sự ra đời, hình thành và phát triển của hai thế hệ thơ khác nhau, là khác hẳn nhau. Khác về nội dung, tư tưởng và các phương pháp nghệ thuật. Và theo tôi, đó cũng là điều thật đáng mừng. Bởi nó sẽ là động lực lớn để có sự phát triển vượt trội, còn thực tế có vượt trội được hay không lại là một việc khác. Dù rằng, ít hay nhiều, ở thời điểm hiện nay, cả hai thế hệ này, đều không vươn tới cái mình muốn, để lại một khoảng trống rất lớn ở giữa…
    Đọc thơ Việt bây giờ là trực tiếp tiếp xúc với cái khoảng trống ấy. Có lúc nó rõ rệt đến mức, khiến một nhà thơ bạn tôi ở nước ngoài, đã hỏi tôi rằng: Anh đứng về phía nào, khi bên này các ông bà, tức là các nhà thơ chống Mĩ “trống đánh xuôi”, còn phía bên kia là các anh chị, tức các nhà thơ trẻ hậu chiến, hình thành và phát triển sau đổi mới 1986, với các trào lưu hậu hiện đại là “ kèn thổi ngược”. Tôi không rõ sự xa cách đó, có đến mức ấy không và cách đặt vấn đề như thế, có đúng hẳn không? Nhưng tôi thấy rõ là nó có khoảng cách, và cái khoảng cách ấy, làm cho thơ của cả hai bên đều giảm sút độc giả. Lý do ư? Có nhiều lý do... Nếu ai cho ý kiến này là có cơ sở thì người đó sẽ có cách giải thích tương ứng hợp lí, trong đó có cả vấn đề của internet và thị trường. Có lúc tôi lại nghĩ: Rất có thể, từ đó, những đột phá mới sẽ ra đời chăng? Tôi hy vọng thế...
    Các nhà thơ xuất hiện sau 1975, chủ yếu là sau 1986, đang xác lập một hệ thống thẩm mỹ mới, qua các xu hướng nghệ thuật mới, có những trường hợp mới hẳn, nghĩa là người ta thấy ở đó, nó ít, hoặc không còn dính dáng gì với truyền thống của quá khứ, trong đó dòng chảy chính là thơ chống Mĩ… Suy cho cùng, nó cũng có cái hay của nó và tôi ủng hộ. Nó hé ra một cuộc cách mạng mới về nghệ thuật thi ca mà tôi chờ đợi và hy vọng. Nhưng cuộc cách mạng ấy, rốt cuộc đã không xảy ra. Lý do chính có lẽ là trong các đồng nghiệp của tôi ở thế hệ mà tôi tạm gọi là “hậu hiện đại ” này, không có những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, không có những Phạm Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận của thế hệ mình…, cũng không có cả một Hoài Thanh của thế hệ mình nữa. Nghĩa là lực lượng ấy, chưa đủ sức thuyết phục cho một cuộc ra quân giành chiến thắng. Trong thơ ca, lý luận không bao giờ giải quyết được vấn đề. Khát vọng vươn tới của các đồng nghiệp trẻ của tôi, mà tôi thấy đã có, rất sung sức, thậm chí là rất bạo liệt, cũng không giải quyết được vấn đề. Chỉ có sáng tác mới giải quyết được những vấn đề của sáng tác. Mà sáng tác, thì các bạn trẻ có thể chưa tới được cái cần phải tới, để ngã ngũ các giá trị… Có lẽ phải chờ thêm ít lâu nữa chăng?
    Hiện nay, thế hệ sáng tác sau năm 1975 hoặc sinh ra sau năm 1975, đã làm chủ văn đàn. Họ hiện ra trong một quầng sáng mới. Đọc họ sẽ nhận ra một điều: họ chả nợ nần gì với quá khứ, chả bị ràng buộc gì với quá khứ, như thế hệ chúng tôi. Đó cũng là cái hồng phúc của một thế hệ đã ra khỏi chiến tranh, hoặc không biết thế nào là chiến tranh, không biết thế nào là ăn “mì nắp hầm” hay mộc mạch, và khi ra trận “nhìn thẳng quân thù mà bắn”, hoặc xông thẳng vào những lưỡi lê của giặc trong các trận đánh giáp lá cà. Họ cứ thế mà đi thẳng vào tương lai, với vốn văn hóa được trang bị đầy đủ, dáng đi thanh thoát và đầy tự tin. Còn họ đi được đến đâu và đạt được những thành công gì về nghệ thuật, lại là một vấn đề khác.
    Thế hệ thơ chống Mỹ của chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, một số người còn sức, đang làm những phần việc cuối cùng. Cái mà họ cần vươn tới để lấp chỗ trống, đó là tính hiện đại với các yêu cầu mới, khả năng tự vượt qua các giới hạn, để đưa thơ mình ra với thế giới, đồng thời đến với đông đảo người đọc ngày hôm nay, với những yêu cầu của ngày hôm nay, và tạo được các nhịp cầu đi tới trong các tìm tòi nghệ thuật, các xu hướng nghệ thuật mới, có ý nghĩa mở đường, cho các nhà thơ thế hệ sau. Rải rác cũng có những “bứt phá”, nhưng rời rạc và lẻ tẻ. Cái làm cho họ không vươn tới được cái cần vươn tới đó, chính là “rào cản” của bản thân mình, ở ngay trong chính bản thân mình. Có “vấn đề xã hội” không? Có! Nhưng cái chính vẫn là sức sáng tạo và tầm vóc trí tuệ, tài năng của cá nhân nhà thơ. Đã thế, một hệ thống lý luận mới cần phải ra đời để song hành với các thế hệ sáng tác khi Việt Nam hội nhập với thế giới. Hệ thống lý luận ấy, chúng ta chưa có, hoặc có thì chưa đủ sức thuyết phục, chưa đủ sức thay thế. Vì vậy mạnh ai nấy làm. Trong khi đó, chúng ta chưa có sáng tạo văn chương nào, tạo được hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh những bậc thang giá trị mới, để bạn đọc có niềm tin, với sự đồng thuận cả về thực tiễn và lý luận… Điều mà Tố Hữu đã làm được trong thời của ông, cùng với nhiều nhà thơ, nhà văn tên tuổi khác.
    Các nhà thơ thế hệ chống Mĩ đã đi suốt chặng đường sáng tạo đầy gian nan của mình trong suốt 50 năm qua, để lại cho nền văn học dân tộc nhiều tác phẩm xuất sắc, với những tên tuổi quan trọng đã đồng hành cùng nhân dân, mà tôi biết đã có trong tham luận của các nhà văn khác, nên tôi không nói lại. Thấm nhuần trong đó là một chủ nghĩa nhân văn mới, dựa trên nền tảng vững bền của truyền thống dân tộc. Vào cuộc đổi mới, chính các nhà văn này đã có cái cũ để mà đổi ra cái mới, với nhiều sáng tạo tiếp theo, hiện thực nới rộng ra, phản ảnh nhiều chiều của cuộc sống mà trước đó không thể có được. Tuy thế, tôi cảm giác khá rõ là ở nhiều nhà thơ, nội lực có đuối tầm và không ít nhà thơ đã dừng lại trong sự chờ đợi của bạn đọc. Và như vậy là đã có một khoảng trống sau mình. Các nhà thơ thế hệ chống Mĩ có lỗi về việc đó không? Theo tôi là không. Bởi bất cứ thiên tài nào, cũng có những hạn chế của mình, của thời đại mình, huống chi là lớp chúng tôi, tiếp bước các nhà thơ thời chống Pháp: “ Lũ chúng ta, bọn người tứ xứ / Gặp nhau hồi chưa biết chữ / Quen nhau từ buổi một hai...” Mỗi thế hệ phải làm tròn phận sự của mình rồi ra đi. Và ở chỗ thế hệ trước dừng lại trong đường biên của mình, thế hệ sau phải vượt qua.
    Tạo ra một đường biên rộng với cái đà lớn của truyền thống dân tộc, đó là cái công lớn của thế hệ các nhà thơ chống Mĩ, để các nhà thơ lớp sau, từ đó mà bay lên, bay lên bằng đôi cánh riêng của mình, của thế hệ mình, theo đường bay do những sáng tạo cá nhân của mình vạch ra, với chất liệu mới và hệ thống tư duy mới. Nếu hiểu đó chính là cái vốn liếng nghệ thuật mà thế hệ chúng tôi trao lại cho các bạn, và xem xét từ góc độ này, thì cuộc “ bàn giao” thứ hai, của thế hệ các nhà thơ chống Mĩ cho thế hệ các nhà thơ sau Đổi mới, theo tôi lại là thành công.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 12.01.2015.