Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





VỀ KINH NGỤY TẠO





(Bài trả lời cho TT Thích Nhật Từ và
Bà Giáo Sư KYOTO TOKUNO Ph.D. University of Washington).

Tình cờ được người bạn gởi cho một email ghi lại bài do TT. THÍCH NHẬT TỪ giảng, và bài viết của Bà Giáo Sư KYOTO TOKUNO, Đại Học Washington, nói về KINH NGỤY TẠO, trong đó có liên quan đến Kinh ĐẠI THỪA. Thiết nghĩ đây là một vấn đề làm nhiều người tu Phật không khỏi hoang mang. Đề tài này ắt cũng gây ra nhiều cuộc tranh cãi, bởi người theo Thừa nào cũng cho bên mình mới đúng, và bài viết này lại do một Giáo Sư Đại Học viết, đưa ra nhiều tựa đề Kinh, có kèm thêm xuất xứ và thời gian mà nó xuất hiện, càng khẳng định đó đúng là Ngụy Tạo. Nhưng thế nào là mới nên gọi là Kinh Ngụy Tạo? Có nên gọi tất cả những Kinh được viết sau thời Phật nhập diệt là Ngụy Tạo cả chăng? Nếu không thì tại sao? Với tư cách của một cư sĩ đã bỏ ra khá nhiều năm nghiên cứu Đạo Phật, tôi cũng có lý lẽ riêng của mình, dựa theo sử liệu của Phật Giáo để phản biện, xin được trả lời cho hai tác giả để rộng đường dư luận. Vì đây là một đề tài rất là quan trọng, người Phật Tử cần biết để tránh bị dắt đi sai lạc mục tiêu. Bởi nếu tin theo bài phân tích, bỏ hết Kinh Đại Thừa không đọc, là một bất lợi lớn, vì đó là những bài giảng dạy, giải thích của những Tổ chính thức được Truyền Y Bát. Còn nếu không may bỏ thì giờ, công sức, hành trì theo những hướng dẫn của Kinh Ngụy Tạo, thì uổng phí công năng.

Mở đầu là Bài giảng của TT. Thích Nhật Từ. Theo bài giảng này, thì các Tổ Sư Trung Quốc đã ngụy tạo Kinh Phật. Do đó, Tịnh Độ Trung Quốc rất khác với Tịnh Độ trong kinh A Di Đà. Kinh A Di Đà thì ghi 5 tiêu chuẩn để được vãng sinh. Trong khi đó, Tổ Sư Trung Quốc dạy rằng chỉ cần TÍN-NGUYỆN-HẠNH và nhất tâm bất loạn để được vãng sinh. TÍN là có niềm tin về Cõi Cực Lạc. Nguyện là có Nguyện được về nước đó. HẠNH là Niệm Phật. Niệm ngày, niệm đêm, niệm cho phát sanh công đức để được vãng sanh. Diễn giả nêu rõ: Niệm Phật chẳng có công đức gì hết, niệm như phương tiện cột tâm, không khởi lên vọng niệm để thiện tâm phát sanh. Nếu chỉ ngồi niệm Phật mà không hành thiện thì chuyện vãng sanh là bất khả thi, là hoang tưởng. Diễn giả cho rằng gần 2.000 năm qua, từ khi phong trào ngụy Kinh bắt đầu, Tịnh Độ Trung Quốc đã đưa chúng ta lạc ra ngoài dòng pháp của Phật, họ nô lệ hóa đời sống tâm linh của chúng ta bằng vào “phép lạ” của việc niệm Phật.

Diễn giả cho rằng nhiều Thầy cũng biết chuyện ngụy kinh là có thật, nhưng không dám lên tiếng vì sợ đụng chạm đến sinh hoạt của Chùa.

Diễn giả cũng nói rằng Kinh Đại Thừa chỉ xuất hiện sau khi Phật nhập diệt 500 năm, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không biết do ai kết tập, vào thời kỳ nào? Thông thường, phải có ít nhất 1.000 thánh Tăng trong mỗi kỳ kết tập. Các vị Thánh Tổ cũng không thấy được nêu tên trong việc đưa ra Tông phái Đại Thừa. Việc tạo dựng Đại Thừa rất âm thầm, có lẽ bị nhiều vị Cao Tăng chống đối vì có tính cách làm đảo lộn Giáo Lý Đạo Phật. Đại Thừa đưa ra hình tượng A Di Đà và Quán Thế Âm để thu hút những người mê tín, ham thích lối tu hành không cần gắng sức. Đây là việc làm bất chánh, rao bán hàng giả mà tuyên truyền rằng hàng có chất lượng cao! Diễn giả cho rằng Phật A Di Đà và Quán Thế Âm là do các Tổ Sư Trung Quốc dựng lên nhằm mê hoặc tín đồ để họ chỉ biết quỳ lạy, cầu xin. Ngay cả Đức Thích Ca khi sống cũng không có để lại hình ảnh, mà sau khi Ngài mất 400 năm, các nghệ nhân mới tưởng tượng và tạc ra. Rồi từ mê tín rơi vào cuồng tín. Đạo Phật đang bị hủy diệt bởi những “con trùng trong thân Sư Tử”. Người Phật Tử trở thành nô lệ tâm linh, xiển dương giáo thuyết không phải của Đức Thích Ca. Nếu không ý thức thì vô hình chung chúng ta đóng góp cho sự tàn phá Đạo Phật, bởi nhiều người đã cho rằng 45 năm thuyết pháp của Đức Phật là không cần thiết, chỉ cần Lục Tự niệm Phật là đã có thể giải quyết mọi chuyện, và cảnh báo về việc ngoại đạo đang có ý đồ cải đạo của chúng ta. Qua việc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, diễn giả khuyên mọi người nên nhìn thấy dã tâm của người Trung Quốc, và cho rằng như vậy cũng không nguy hiểm bằng việc khiển sử, lèo lái tâm linh của chúng ta để chúng ta thức tỉnh mà vượt thoát cái thứ giáo lý ma quái do họ sáng tạo để trở về Chân Lý Giải Thoát của Đức Phật.

Tiếp theo là bài viết của nữ Giáo Sư TOKUNO, Đại Học Washington nói về Kinh Ngụy Tạo. Theo Giáo Sư, Giới chuyên môn Tây Phương dùng chữ Kinh Ngụy Tạo để gọi văn học Phật Giáo phát triển nhiều ở khu vực Á Châu, giả mạo những văn bản Phật Giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ. Kinh Ngụy Tạo có đặc điểm chung là loại văn học vốn thuộc tôn giáo bản xứ nhưng lại tự cho mình có nguồn gốc hoặc mối liên hệ với Phật Giáo Ấn Độ. Gs. Tokuno trích ra vài Kinh Ngụy Tạo, đặc biệt là của Phật Giáo Đông Á, mạo nhận chính nó là Giáo Pháp của Đức Phật, tự nhận là Kinh. Đôi khi mạo nhận lời luận giảng về Kinh từ một vị Thầy có tiếng tăm của Phật Giáo Ấn Độ, tức tự mạo nhận là LUẬN. Một số tuyên bố xuất phát từ tuệ giác của các đấng Giác Ngộ ở Ấn Độ hoặc người được truyền thừa Tuệ Giác đó từ một dòng phái chính thức. Vì dụ như các Bộ Tánh Thư Quý Báu (Gterma) của Tây Tạng. Một số Kinh Ngụy Tạo được soạn thảo theo văn phong kinh điển kiểu kể chuyện, như Bộ Tiền Thân Đức Phật (Jakata). Kinh Ngụy Tạo luôn tuyên bố hoặc cố ý ám chỉ rằng nó xuất nguồn từ Ấn Độ. Các Bộ Kinh Trung Quốc hay Tây Tạng luôn để mở hay bỏ ngỏ với mục đích cho phép sự tiếp tục thêm vào dễ dàng các bản Kinh mới từ Ấn Độ qua nhiều thể kỷ, tạo cảm hứng và khích lệ sự sáng tạo ra các bản Kinh gọi là Kinh Ngụy Tạo. Kinh Pali của vùng Nam và Nam Á trái lại đã “cố định” rất sớm trong lịch sử. Điều này khiến khó có thể thêm vào đó những nội dung nào khác. Nữ Gs. cho rằng rất khó khăn khi xác quyết một văn bản về mức độ giả tạo cũng như làm nhái các văn bản Phật Giáo của các tác giả ngụy Kinh, đòi hỏi các chuyên gia thư mục phải có kiến thức rất rộng về Phật học mới có thể truy tìm, đặc biệt khi chúng được tạo ra bởi những người thông hiểu lý thuyết và thực hành trong Phật Giáo, nhất là khi họ còn có thêm kỹ năng văn chương. Khi tranh luận trong việc loại bỏ các yếu tố ngoại lai ra khỏi thánh điển có thể đưa Đạo Phật vướng vào sự chỉ trích của các đối thủ về mặt tôn giáo và tư tuởng Đạo Lão, Đạo Khổng. Có khoảng 450 tựa đề Kinh Ngụy Tạo Trung Quốc liệt kê trong danh Mục Đại Tạng Kinh. Nhưng con số thật sự gần đến 550, lần lượt được tìm thấy trong các văn bản và bản thảo tại Trung Quốc và Nhật Bản, Khoảng chừng 2/3 còn tồn tại đến nay, đã chứng minh cho tính lợi hạnh của kinh Phật ngụy tạo trong bản xứ và cũng chứng minh cho sự kiện người Trung Quốc tiếp tục tin dùng loại văn bản này. Trong đó có cả nhà phân tích thông tuệ như TRÍ DI (538-597), người hệ thống hóa trường phái Thiên Thai của Đạo Phật Trung Quốc. Sự bùng nổ của hiện tượng ngụy Kinh lan rộng tại các vùng khác thuộc Đông Á, nhưng nhiều nhất là tại Trung Quốc. Người ta đã tìm thấy trong kho Đôn Hoàng ở Trung Á vào thế kỷ 20, các bản thảo từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 11. Và tại Nanatsu-dera ở Nagoya Nhật Bản. Năm 1990 phát hiện cho thấy cả ngụy thư của Trung Quốc lẫn Nhật Bản. Điều kinh ngạc nhất là cuốn Kinh PILUO SANMEI JING – the Scripture on the Absorption of Pliuo, một cuốn kinh giả mạo nhưng được chứng thực trong Đại Tạng Kinh soạn bởi nhà sư học giả nổi tiếng ĐẠO AN (312-385), trước đó thì kinh này không ai biết. Bản thảo kinh Phật tại Nhật Bản chỉ là bản sao của Bộ ngụy thư có sớm nhất từ Trung Quốc. Vài kinh ngụy tạo rất khéo léo trong sự tổng hợp tài liệu của Phật Giáo Nguyên Thủy từ Ấn Độ mà không nói gì về nguồn gốc tộc hệ của chúng. Tuy thế, một số kinh ngụy tạo khác tuyên truyền về những loại đức tin và những loại thực hành phổ biến, tiêu biểu cho văn hóa bản địa, đồng thời thêm vào một cách vụng về, cẩu thả những yếu tố Phật Giáo nhắm mục đích giải thích cho cái tựa đề là Kinh. Đa số các Kinh ngụy tạo Trung Quốc rơi vào hai cực đoan khi ca ngợi các đức tin và thực hành Phật Giáo như phương tiện để thu hoạch lợi ích vừa trần gian vừa tâm linh. Sau đây là những phê bình có chọn lọc về những nguyên cớ cho sự xuất hiện của Kinh giả tạo, đồng thời phán ánh cái cách mà Giáo Pháp của Đức Phật đã bị đóng khung và bị suy diễn. Trước hết là hai ví dụ kinh ngụy tạo từ học thuyết ĐẠI THỪA, ủng hộ một lý thuyết hay một cách thực hành không có phiên bản tương ứng trong Phật Giáo Ấn Độ.


   1/- KHỞI TÍN LUẬN (Dasheng Qisin lun), tái tạo Phật Giáo chính thống bằng cách tổng hợp ba khuynh hướng chính của học thuyết Ấn Độ: TÁNH KHÔNG (Sunyata), A LẠI DA THỨC (Alayavijnana) và THAI TẠNG GIỚI (Tatha Gatagarbha).

Kinh này nhằm đặt ra một Bản Thể Luận cho tâm trí con người. Theo đó, tâm trí có thể đồng thời vừa Vô Minh vừa có Tánh Giác Nội Tại. Sau khi xuất hiện ở thế kỷ thứ 6, Bộ Luận Khởi Tín có lẽ đã trở thành ví dụ nổi bật của sự tác động của kinh ngụy tạo vào sự phát triển của hệ tư tưởng Phật Giáo Trung Quốc, vì nó trở thành chất xúc tác cho sự hình thành các học thuyết của các Giáo Phái bản xứ như Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Thiền Tông TQ.


    2/- Trường hợp thứ hai là cuốn Kinh KIM CANG ĐỊNH (Jin’gang samei jing Vajrasamadhi sutra) được tạo bằng sự pha trộn hỗn tạp của tất cả học thuyết Đại Thừa, nhằm cung cấp một nền tảng cho một hệ thống thực hành Thiền và khẳng đinh hiệu quả Giải Thoát của hệ thống đó. Đây là 1 trong những bản Kinh lâu đời nhất của Thiền Tông Trung Quốc và Đại Hàn.

Một số kinh ngụy tạo thêm vào nguồn dẫn và sự suy diễn với mục đích tăng cường một giá trị hay quan điểm nào đó của Đạo Phật với môi trường bản xứ. GIỚI LUẬT, nền tảng của Giải Thoát Phật Giáo đã được kinh ngụy tạo thể hiện nổi bật như một chủ đề. Thí dụ như Kinh Phạm Võng. Kinh này thay đổi một phần Giới Luật của Bồ Tát Đạo bằng cách thêm vào khái niệm Hiếu của Đạo Khổng. Có Kinh ngụy tạo đưa ra Giới Luật nhấn mạnh một cách đặt biệt vào giới Cư Sĩ. Các ngụy kinh này dạy hướng dẫn đạo đức cơ bản cho cư sĩ, như Ngũ giới, Thập thiện, sự quan trọng của Cúng Dường. Tất cả được dựng trong học thuyết của Nghiệp và Tái Sanh. Năm Giới của Cư Sĩ được cho là điều kiện đủ để đạt tới Giác Ngộ của Phật, một con đường cực kỳ đơn giản vạch ra để động viên sự tham gia của cộng đồng cư sĩ vào thực hành Đạo Phật. Khái niệm Hiếu thể hiện rất rõ trong ĐẠI BÁO PHỤ MẤU TRỌNG ÂN, đặt căn bản trên giáo huấn cụ thể của người con bất hiếu và thúc đẩy anh ta phải báo đáp cha mẹ, phải hy sinh bằng cách cúng dường Tam Bảo. Loại Kinh này là kinh ngụy tạo phổ biến nhất vào thời Trung cổ. Luật Nghiệp và Tái Sanh được đề cập ở trên là một chủ đề có khắp mọi nơi hay một hậu cảnh của Kinh ngụy tạo, thí dụ Kinh Thập Điện Diêm Vương, minh họa giáo lý Đạo Phật Ấn Độ cho độc giả Trung Quốc bằng mô tả sự thanh tẩy sau khi chết. Kinh Ngụy Tạo là sản phẩm ở những không gian và trong những thời gian đặc biệt, hoặc phê phán tình trạng tôn giáo nào đó, hay phê phán toàn thể xã hội, cả cấp quốc gia mà chính sách của nó thực hiện đối với Đạo Phật. Những phê phán như vậy thường thể hiện trong khái niệm về thuyết Mạt Thế gọi là Thời Mạt Pháp truyền vào từ các nguồn Ấn Độ. Kinh NHÂN VƯƠNG mô tả sự thoái hóa tất cả các tầng lớp xã hội, sư suy đồi, biến dạng Đạo Phật, buông lơi Giới của Phật Tử. Giải pháp được đề xuất cho khủng hoảng này là sự hoàn thiện Tuệ Giác, cái được tin là có thể khôi phục trật tự tôn giáo xã hội, ngay cả bảo vệ được sự diệt vong của đất nước, đặc biệt là trong giới cầm quyền, ít nhất là vì nó khẳng quyết về việc bảo vệ quốc gia. Kinh Tỳ Kheo Nguyệt Quang đưa ra một giài pháp khác cho thời Mạt Pháp: Nó tiên tri một đấng cứu thế xuất hiện vào lúc khủng hoảng và suy đồi đã đến lúc cực điểm. Một thông điệp cứu thế như vậy không thể không có cội nguồn từ Phật Giáo Ấn Độ - giáo phái thờ Phật Di Lặc là một ví dụ. Nhưng sự đề xuất một đấng cứu thế trong thế giới hiện tại có thể dễ bị giải thích cho một sự lật đổ chính trị và là thách thức cho nhà cầm quyền thế tục. Kinh này là một kinh ngụy tạo được tìm thấy tại Đôn Hoàng 1400 năm sau lúc có bằng chứng là nó được sáng tác. Tác giả kết luận là chỉ chạm đến một phần rất nhỏ về chuyện kinh Phật Giáo ngụy tạo, và cho rằng ngay cả khi làm rõ thì Kinh Ngụy Tạo vẫn chiếm một chỗ quan trọng trong lịch sử Phật Giáo như sự đổi mới và thích nghi để nối liền văn bản từ truyền thống Phật Giáo Ấn Độ với tôn giáo, văn hóa xã hội bản địa Trung Quốc, cung cấp tài liệu cho các nhà nghiên cứu đối chiếu với các thánh điển, các kinh trong các truyền thống tôn giáo khác nhau”. Đến đây là hết phần trích bài viết của Gs Tokuno. Đọc bài này, ta thấy nổi bật các điểm sau: Ngoài nói về Kinh Ngụy tạo thì hàm ý chê Kinh Đại Thừa:

1/- Kinh Đại Thừa “xuất hiện sau Phật nhập diệt 500 năm. Không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không biết do ai Kết Tập? Vào thời kỳ nào? Vì thông thường phải có ít nhất 1.000 thánh Tăng trong mỗi kỳ Kết tập”. Đại Thừa đưa ra hình ảnh A Di Đà và Quán Thế Âm để thu hút người mê tín ham thích lối tu hành không cần gắng sức. Đây là việc làm bất chính, rao bán hàng giả mà tuyên truyền rằng hàng có chất lượng cao!

2/- Việc tạo dựng Đại Thừa rất âm thầm, có lẽ bị nhiều Cao Tăng chống đối.

3/- Các Tổ Sư Trung Quốc dựng lên Phật A Di Đà Phật và Quán Thế Âm nhằm mê hoặc tín đồ để họ chỉ biết quỳ lạy cầu xin… Người Phật tử trở thành nô lệ tâm linh, xiển dương giáo thuyết không phải của Đức Phật Thích Ca. Nếu không ý thức thì vô hình chung ta đóng góp cho sự tàn phá Đạo Phật, khi cho rằng chỉ cần Lục Tự niệm Phật mà đã có thể giải quyết mọi chuyện. Diễn giả kêu gọi Phật Tử cần thức tỉnh vượt thoát cái thứ giáo lý ma quái do họ sáng tạo để trở về Chân Lý Giải Thoát của Đức Phật. Là một cư sĩ đã có gần 40 năm học hỏi, nghiên cứu Giáo Pháp của Đức Thích Ca qua những Bộ Kinh Đại Thừa, tôi xin được trả lời về những vấn đề được 2 tác giả nêu ra như sau: Về việc tạo dựng Đại Thừa không phải “rất âm thầm có lẽ do nhiều Cao tăng chống đối, một việc làm có tính cách đảo lộn Giáo Lý Phật”. Theo lịch sử Đạo Phật, ĐẠI THỪA, và PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY xuất hiện cùng lúc. Sự phân chia bắt đầu từ kỳ Kết tập lần thứ 2, sau Phật nhập diệt khoảng 100 năm. Do có sự bất đồng quan điểm giữa các vị trong ban lãnh đạo Đạo Phật thời bấy giờ. Từ một khối, họ chia ra làm 2 nhóm. Một Nhóm là các vị Trưởng Lão, gọi là THƯỢNG TỌA BỘ, cũng gọi là TIỂU THỪA. Về sau đổi thành PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY. Nhóm còn lại gọi là ĐẠI CHÚNG BỘ hay ĐẠI THỪA. Nhưng thật ra, tính về nguồn gốc, thì ĐẠI THỪA là nhóm đi theo đường Truyền mà người đứng đầu là Tổ thứ Nhất chính là Đức CA DIẾP, đã được Đức Thích Ca truyền Y BÁT. Tổ thứ Hai là Ngài A Nan. Tổ thứ Ba là Ngài Thương Na Hòa Tu. Tổ thứ Tư là Ngài Ưu Ba Cúc Đa. Tổ cuối cùng là Lục Tổ Huệ Năng của Trung Quốc, là Tổ thứ 33. Tất cả Tổ của ĐẠI THỪA đều được liệt kê trong danh sách, có tất cả là 33 Vị. Như vậy, chính Tiểu Thừa hay Phật Giáo Nguyên Thủy chỉ mới xuất hiện từ kỳ Kết tập Thứ 2, tức là sau khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm! Do bất đồng nội bộ. Lý do thì Bên nhóm các Trưởng Lão cho là bên Đại Chúng Bộ, tức ĐẠI THỪA, có nhiều cải cách, không giống như những gì Đức Thích Ca đã thuyết trước kia. Từ đó bên Phật Giáo Nguyên Thủy không hề đá động đến các Tổ trước đó và cả những vị được truyền nối về sau.

Trước kia tôi cũng đọc sơ qua và biết có sự phân chia như vậy, rồi không quan tâm đến nữa. Nhưng nhờ bài giảng của TT. Thích Nhật Từ, nêu lên nghi vấn, cho rằng “việc tạo dựng Đại thừa rất âm thầm, có lẽ lúc bấy giờ cũng có nhiều vị Cao tăng chống đối, do có tính cách đảo lộn giáo lý Phật, cho nên chẳng có kết tập, chẳng biết ai là người chủ tọa, chứng minh cho sự ra đời của Đại Thừa” nên tôi mới tò mò mở lại lịch sử của 33 vị Tổ để đối chiếu, thì thấy có điểm đáng lưu ý là: Ngài Thương Na Hòa Tu lúc đó là Tổ thứ Ba. Khi Ngài qua nước Sất Ly, gặp 1 người tên Ưu Ba Cúc Đa mới 17 tuổi xin theo hầu làm thị giả. Qua đối đáp, Tổ Thương Na Hòa Tu nhận ra đây là người có khí lượng Đại Thừa nên nhận, và chỉ 3 năm sau thì Ngài Ưu Ba Cúc Đa đắc pháp và được Truyền Y Bát cho làm Tổ thứ 4. Lúc đó Ngài mới 20 tuổi. Sự việc này trùng khớp với việc tách ra của các Vị Trưởng Lão, vì trong lịch sử Đạo cũng có ghi là khoảng chừng 100 năm sau khi Phật Nhập Diệt. Có lẽ các vị Trưởng Lão thấy rằng Tổ lại đi truyền Y Bát cho một chàng trai trẻ, mới vô tu được có 3 năm, trong khi mình đã tu lâu năm và là bậc Trưởng Lão trong Tăng Chúng, nên bất mãn. (Điều này do suy luận của riêng tôi khi đối chiếu 2 việc trong cùng thời điểm, không có ghi trong lịch sử Đạo Phật. Có thể đúng mà cũng có thể sai). Nhưng nếu sự việc diễn ra đúng như tôi suy diễn, thì theo thường tình ai cũng nghĩ là tu lâu phải cao, phải giỏi hơn người mới vào đạo. Không biết rằng trong Phật Pháp có câu: “Mê nhất kiếp, Ngộ nhất thời”. Mê hay Ngộ là do cái Tâm sáng hay tối, không phải là do tu nhiều năm hay ít năm. Có người tu cả đời mà vẫn không THẤY TÁNH. Về phần Kinh, theo tài liệu ghi lại, thì sau khi Đức Thích Ca nhập Niết Bàn khoảng 4 tháng thì Ngài Ca Diếp sợ rằng nếu không gom lại các Giáo pháp mà Ngài đã thuyết thì e rằng với thời gian các đệ tử sẽ quên, nên lúc đó Ngài quy tụ 500 vị đã đắc Quả A La Hán để cùng nhau Kết Tập. Phần Pháp thì do Ngài Anan - người được cho là có thể kể lại những gì Phật đã thuyết “như nước trong bình rót ra, không thiếu một giọt” - đọc lại. Phần Luật thì do Ngài Ưu Ba Ly, người được gọi là “Đệ Nhất Trì Giới” kể lại. Hội đồng thẩm định là những vị A La Hán, vì các ngài là những đệ tử chính tai đã nghe Phật giảng Pháp, chỉ cần Ngài Anan nhắc lại là các Ngài sẽ nhớ ra và xác nhận. Ngài Ca Diếp là người được Truyền Y Bát đầu tiên làm chủ trì. Nhưng thời điểm đó cuộc Kết Tập chưa ghi chép lại thành văn bản, mà tất cả chỉ ghi nhớ rồi học thuộc lòng, rồi thuật lại cho những ai muốn học hỏi gọi là “Khẩu Truyền”. Theo các nhà nghiên cứu thì ngay cả 4 Bộ Kinh đầu tiên có sớm nhất là 218 năm sau khi Phật nhập Niết Bàn, lúc đó mới được kết tập bằng chữ viết (theo sử liệu Nam truyền). Như vậy, kể cả 4 Bộ Kinh đầu tiên cũng không xuất hiện thời Phật hiện tiền, mà sau đó ít ra là 218 năm. Trước đó toàn là Khẩu Truyền. Thời điểm xuất hiện của những Bộ Kinh đầu tiên thì các vị Đại Đệ Tử đã Kết Tập thời kỳ đầu đã về Niết Bàn cả rồi. Có lẽ là ít ra phải đến đời đệ tử thứ 3 hay thứ 4, liệu có “tam sao thất bổn”? Tuy vậy, điều đó không quan trọng, vì tuy là Khẩu Truyền, nhưng các Tổ bên ĐẠI THỪA vẫn có người Chứng Đắc để kế tục nhau. Điều mà bên Phật Giáo Nguyên Thủy không hề đề cập đến, nhưng rất là quan trọng cho người học Đạo Phật: Đó là việc TRUYỀN Y BÁT. Trong khi Phật Giáo Nguyên Thủy cố tình bỏ quên, không nói đến, nên con cháu đời sau hoàn toàn không biết đến việc này, thì bên phía Đại Thừa vẫn kế tục nhau cho đến Tổ thứ 33. Cũng do bên phía không có Y Bát cố tình tìm mọi cách để chiếm đoạt. Kể cả sẵn sàng giết người giữ nó. Việc đó kéo dài mãi, mức độ đe dọa ngày càng tăng, đến độ Ngũ Tổ khi truyền cho Lục Tổ thì đặn “Phải dấu đi, không truyền nữa, vì người giữ có thể nguy hiểm đến tính mạng” thì mới ngưng. Đọc Pháp Bảo Đàn Kinh ta thấy Lục Tổ Huệ Năng mấy phen suýt chết. Ngay sau khi được Truyền là Ngũ Tổ phải đưa Ngài ôm Y Bát trốn đi xứ khác. Phải mai danh ẩn tích, trốn lánh, trà trộn trong đám thợ săn đến 15 năm dài. Vậy mà họ cũng chưa từ bỏ ý định. Khi Lục Tổ bắt đầu ra Hoằng Pháp thì họ lại tiếp tục. Hết phóng hỏa đốt Chùa, đến cử người tới trộm pháp. Cho Sư Chí Triệt tới ám sát Ngài, chém đến 3 dao, thấy Lục Tổ không chết mới hoảng sợ buông đao sám hối. Nhiều năm sau đó, Chí Triệt trở lại làm đệ tử của Ngài! Trước thời Ngũ Tổ thì sự tranh chấp không biết xuất phát từ đâu. Nhưng ngay thời Lục Tổ Huệ Năng thì phe tranh dành định chiếm đoạt Y Bát toàn xuất phát từ Chùa Ngọc Tuyền của Sư Thần Tú. Bản thân Sư trước kia là Giáo Thọ trong Chùa của Ngũ Tổ mà không được Truyền Y Bát. Lẽ ra không được quyền giảng pháp những cũng mở ra để giảng dạy. Đệ tử lại tôn Sư lên là Tổ Thứ Sáu, nhưng vì ai cũng biết Lục Tổ Huệ Năng là người chính thức được truyền, nên cố tìm mọi cách chiếm đoạt Y Bát để “hợp thức hóa” cho Thầy mình! Qua đó ta có thể đánh giá mức độ tu hành của họ. Nếu họ dành được Y Bát không hiểu Chánh Pháp sẽ ra sao! Việc Truyền Y Bát mang ý nghĩa như sau: “Người đang Giữ Y Bát, thấy đệ tử hay người nào đó, không cần biết già hay trẻ, tu lâu hay mới, học nhiều hay ít, thuộc dòng dõi sang cả hay hạ tiện, chỉ cần THẤY TÁNH, là ấn chứng cho là đã Chứng Đắc, và trước khi nhập diệt thì trao lại Y BÁT là vật được truyền từ đời Đức Thích Ca - để người giữ nó được trao cho sứ mạng thay mình cầm nắm Tăng Chúng và giữ gìn, phát huy Đạo Pháp - theo như lời Đức Thích Ca đã dặn dò từ lúc trao cho Ngài Ca Diếp. Về Kinh ĐẠI THỪA chỉ xuất hiện 500 năm sau khi Phật nhập diệt, có liên quan đến việc TRUYỀN Y BÁT của Đạo Phật. Từ thời Đức Thích Ca tại thế thì Người Chứng Đắc mới được TRUYỀN Y BÁT. VIỆC Truyền Y Bát có nghĩa là người đang nắm giữ, thấy người sau đã đầy đủ LÝ CŨNG NHƯ HẠNH, nên giao Y bát như vật để làm tin, cho mọi người biết đây là người chính thức thay Phật để cầm nắm Tăng Chúng và phát huy Giáo Pháp. Người Chứng Đắc là Phật đang thời, vì vậy, những gì Vị đó thuyết thì cũng giống như Phật thuyết, không khác. Do vậy, các Ngài có giảng hay viết Kinh thì cũng không có gì phải thắc mắc. Đường tu cũng đâu có khác đường đời. Cũng là lý thuyết, thực hành. Trường đời cũng đâu phải chỉ có lớp Bác Sĩ tốt nghiệp đầu tiên và duy nhất. Mà về sau, tất cả sinh viên trường Y nào sau thời gian học, đủ trình độ, kiến thức chuyên môn, thi đủ điểm, thì đều là Bác Sĩ như nhau. Như vậy, nếu có Bác Sĩ nào mới ra trường mà viết một đề tài nào đó về chuyên môn của mình, chúng ta có thể kết luận là họ không có quyền viết, chỉ có lớp Bs. đầu tiên là được viết chăng? Đạo Phật cũng vậy. Người tu học nếu đã Chứng Đắc thì cũng đạt đến trình độ hiểu biết như các vị đi trước, có toàn quyền diễn đạt lại theo cách của mình. Đó là lý do mà Gs. Tokuno viết: Rất khó khăn khi xác quyết một văn bản về mức độ giả tạo cũng như làm nhái các văn bản Phật Giáo của các tác giả ngụy Kinh, đòi hỏi các chuyên gia thư mục phải có kiến thức rất rộng mới có thể truy tìm, đặc biệt khi chúng được tạo ra bởi những người thông hiểu lý thuyết và thực hành trong Phật Giáo”. Qua đây, ta biết rằng Gs. Tokuno chỉ là một nhà nghiên cứu thuần túy, không phải là một người tu học theo Đạo Phật. Vì nếu có tu học theo Đạo Phật, bà sẽ hiểu rằng Người thông hiểu lý thuyết và thực hành trong Đạo Phật mà có khả năng viết ngụy Kinh có thể là người thật sự chứng đắc, là “Phật đương thời”, có toàn quyền thay Phật để cầm nắm tăng Chúng và phát huy Đạo Pháp. Như vậy, các Ngài hoàn toàn có quyền viết Kinh. Việc có Ngụy Kinh là điều hiển nhiên. Vì ai vào tu một thời gian, thấy chút gì đó cũng muốn viết ra để phổ biến. Cho nên đến nay đã tràn lan. Thật, giả chỉ người nắm vững Giáo Pháp mới phân biệt được. Ngay cả Chính Kinh cũng bị những người “Y KINH GIẢI NGHĨA”, hiểu sai, Hành sai, làm sai lạc ý nghĩa thật sự của Đạo Phật chân chính. Thí dụ như cho rằng Niệm Phật ngày đêm sẽ phát sinh công đức để được vãng sinh. Rồi thay vì dùng “Hương” của những việc làm tốt đẹp dâng cúng lên Chư Phật, tức là Sự Giải Thoát của Tâm Mình, thì đốt Nhang làm bằng bột gỗ, cúng lên tượng đồng. Thay vì dùng những Hạnh mà Phật đã Hành, tượng trưng cho TƯỚNG TỐT, 80 vẻ đẹp của Phật rồi Hành theo đó, gọi là CHẠM, KHẮC TƯỢNG PHẬT CHO MÌNH, thì dùng vàng, đồng, xi măng, thạch, cao, đổ thành Tượng, rồi thắp hương trần tục để thờ cúng. Thay vì thực hành theo lời Kinh dạy, thì mang Kinh ra mà Tụng ngày mấy thời. Biến Đạo Phật thành Tà Đạo mà Kinh Kim Cang của Đại Thừa đã viết: “Nhược dĩ Sắc kiến ngã. Dĩ âm thanh cầu Ngã. Thị nhân hành tà đạo. Bất năng kiến Như Lai”. Do vậy, chúng ta không thể nhìn vào những người hiểu sai, hành sai lời Kinh dạy mà gán cho đó là do các Tổ Đại Thừa, hay Kinh Đại Thừa dạy sai. Chúng ta cần phân biệt cho rõ, không thể gom tất cả những tác phẩm viết sau thời Phật giảng cho đó đều là Kinh ngụy tạo, mà chỉ nên nói về những quyển kinh được viết bởi những người CHƯA THẤY TÁNH, CHƯA CHỨNG ĐẮC. Không thể nói là Ngụy Kinh đối với những quyển Kinh ĐẠI THỪA do các Tổ được TRUYỀN Y BÁT viết, dù các Ngài không nêu rõ danh tánh hay thời điểm viết Kinh, mà dùng văn phong y như những lời ngày xưa Phật đã dùng. Cũng bắt đầu bằng “Ta nghe như vầy…” hay “Chính tôi được nghe” như là do chính Ngài Anan kể lại. Cũng không thể vì qua một vài hành động lỗ mãng của người Trung Quốc mà kết luận rằng Đạo Phật do người Trung Quốc truyền là sai. Vì NĂM VỊ TỔ SAU CÙNG ĐƯỢC TRUYỀN Y BÁT LÀ NGƯỜI TRUNG QUỐC. Vị đầu tiên mà Trung Quốc gọi là SƠ TỔ chính là Ngài ĐẠT MA, là Tổ thứ 27 của Ấn Độ, đã đi thuyền 3 năm mới tới Trung Quốc. Sau khi diện bích 9 năm thì bắt đầu ra thuyết giảng. Chính Ngài đã Truyền Y Bát lại cho Tổ đời thứ nhất của Trung Quốc. Sau đó các Tổ đó lần lượt truyền xuống. Từ 5 vị Tổ của Trung Quốc, Đạo Phật mới lan truyền sang các nước Châu Á như Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bổn mà đa phần kinh điển của nước ta đang dùng đều được dịch từ những Tạng Kinh của Trung Quốc. Tất nhiên, là người sáng suốt, thì bổn phận của người sau chúng ta là cần chọn lọc trong số các sách Giảng, Luận tràn lan đó, quyển nào thật sự là Ngụy Kinh, làm cho người tin theo đó trở thành mê mờ để khuyên Phật Tử đừng tu học theo đó. Như vậy buộc bản thân người chọn lọc cũng phải biết chọn được Ngọc giữa rừng đá cuội! Đọc Kinh ĐẠI THỪA ta thấy trong đó không hề cổ súy cho việc tu hành mà không cần gắng sức. TU NGHĨA Là SỬA. Vì vậy, vấn đề của người TU là phải biết CẦN SỬA Ở ĐÂU? SỬA NHƯ THẾ NÀO? Không phải gắng sức nhiều đã là đúng. Phần những vị Phật, Bồ Tát mà kinh Đại Thừa tả, không phải là để mọi người quỳ lạy, van xin, mà đó là để tả CẢNH GIỚI BẤT NHỊ, tức là CẢNH GIỚI diễn ra TRONG NỘI TÂM CỦA MỖI NGƯỜI, mà Kinh gọi là “PHÀM THÁNH ĐỒNG CƯ”. Do ngày xưa, khi Phật thuyết pháp thì ngôn từ chưa đủ để diễn tả phần VÔ TƯỚNG trong Tâm, nên Ngài phải “Nhân Cách Hóa” những tình trạng diễn ra trong Nội Tâm mà ta thấy: PHẬT, tượng trưng cho những tư tưởng thánh thiện, thanh cao, tốt đẹp. CHÚNG SINH tượng trưng cho những tư tưởng xấu, ác. Vì vậy mà cần có những tư tưởng trung gian để làm công việc giáo hóa cho những tư tưởng còn mê lầm đó bỏ đi những cái xấu. Tư tưởng trung gian đó Kinh gọi là BỒ TÁT. Bồ Tát này có nhiệm vụ lắng nghe những động tịnh của Chúng Sinh để cứu giúp, vì thế nên có tên gọi là QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT. Tôi không có nghiên cứu đường lối tu hành của bên Phật Giáo Nguyên Thủy, không biết đường lối tu hành bên đó như thế nào? Kết quả về đâu? Nhưng theo hiểu biết của tôi về bên Đại Thừa, thì cho rằng mọi việc tốt, xấu, lành, dữ đều do Cái Tâm điều động. Cũng một cái TÂM, khi suy nghĩ điều lành, thì đó là TÂM PHẬT. Khi suy nghĩ điều ác thì gọi là TÂM CHÚNG SINH. Tu hành chính là làm công việc Giáo Hóa những tư tưởng xấu trong Tâm, cho tất cả đều hướng Thiện. Muốn vậy, người tu Phật cần phải “NỘI QUANG PHẢN CHIẾU” để thấy chúng sinh trong TÂM mình mà giáo hóa chúng. Việc giáo hóa này cũng gọi là ĐỘ SINH. Độ hết CHÚNG SINH thì sẽ được Giải Thoát hay còn gọi là Thành Phật. Phần còn lại thì đều là Phương Tiện mà Đức Thích Ca dùng để dẫn dắt: Như Tây Phương Cực Lạc. Đông Phương Tịnh Quốc. Tịnh Độ, Niết Bàn vv... Do con người đã quen buông lung, trong một bước không thể nào bỏ ác, hành Thiện, vì thế mà GIỚI, HẠNH được đặt ra để đưa họ vào khuôn phép. Con người quen tiếp xúc với ngoại cảnh qua 6 cửa ngõ: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý mà Phật gọi đó là LỤC CĂN. Lục Căn này mỗi cái đều có sự hiểu biết riêng. Cái Biết của Mắt gọi là NHÃN THỨC. Của TAI gọi là NHĨ THỨC. Của Mũi gọi là TỶ THỨC. Của Lưỡi gọi là THIỆT THỨC. Của THÂN gọi là THÂN THỨC. Của Ý gọi là Ý THỨC. Khi các pháp bên ngoài qua Lục Căn đưa vào thì Đạo Phật gọi là LỤC NHẬP. Tất cả đưa vào thì có bộ phận tiếp nhận, phân tích và xử lý rồi đưa ra phản ứng. Hoặc là Thích, hoặc là Ghét. Tất cả những phản ứng không ngoài 3 món là THAM, SÂN và SI. Bộ phận này Phật gọi đó là cái TÂM. Đại Thừa cho rằng cội nguồn Thiện, Ác, Khổ, Vui đều bắt đầu từ đây, nên phải nhắm vào đó mà TU, mà SỬA. Vì thế, TU theo Đạo Phật của Đại Thừa được gọi là TU TÂM. Ngũ Tổ dạy: “Nếu không Thấy được Bổn thể Tâm thì học pháp vô ích”, “Giải Thoát hay ràng buộc cũng do Tâm”. Vì thế, Giữ Giới cho nhiều, 250 hoặc 350 mà cái Tâm buông lung thì cũng vô ích mà thôi. Theo đó, tất cả Giáo Pháp, tất cả những phương tiện mà Đức Thích Ca đặt ra chỉ nhằm cho con người CẢI ÁC, HÀNH THIỆN để có được cuộc sống an lành, hạnh phúc. SỐNG GIỮA CẢNH ĐỜI ĐẦY PHIỀN NÃO, mà Thoát Phiền Não. Được như Hoa Sen, sống trong bùn mà không vương mùi bùn, mà Đạo Phật dùng làm biểu tượng. Đó là mục đích của Đạo Phật khi đưa ra Giáo Pháp để hướng dẫn cho con người. Phật ngôn có câu: “Như nước biển chỉ có một vị mặn, Giáo Pháp của ta cũng chỉ có một vị Giải Thoát mà thôi”. Vậy thì Giải Thoát khỏi điều gì? Điều gì ràng buộc để phải Giải Thoát? Giải Thoát đó phải tìm ở đâu? Những điều đó đều được giải thích rõ trong Kinh Đại Thừa. Hoàn toàn không có mê tín, không Thần Quyền. Không xem Phật, Bồ Tát như là những vị Thần Linh. Không dạy Thờ Phật. Chỉ dạy Tự Tin, Tự Độ. Tin sâu Nhân Quả. Do đó, chúng ta không thể gom hết những Kinh viết sau thời Phật là Ngụy Kinh. Vì như thế, vô tình chúng ta phủ nhận Di Ngôn của Đức Thích Ca về việc Truyền Y Bát. Phủ nhận luôn Chư Tổ là những vị được Phật Thích Ca dặn dò để nối truyền Pháp môn, đã tiếp tục khai sáng Giáo Pháp của Đạo Phật mà đôi chỗ vì thời xưa chưa đủ ngôn ngữ để diễn tả. Điển hình là Tổ Đạt Ma và Lục Tổ Huệ Năng là hai vị giải thích rất rõ về tất cả những gì Phật Tử đã hiểu lầm trong Sáu Cửa vào Động Thiếu Thất và Pháp Bảo Đàn Kinh. Trong Phật Pháp không có ranh giới giữa quốc gia này với quốc gia khác. Giữa người ở trong chùa hay ở ngoài. Giữa Nam hay Nữ, mà chỉ phân ra MÊ và NGỘ. Vì con người thì tri thức, tâm tình không khác gì nhau. Thời nào cũng giống như thời nào. Cũng vẫn là Yêu, Ghét, Giận, Hờn, Tham, Sân, Si. Nhưng buổi đầu khi mới nhóm họp Tăng Chúng thì người tu cần có hình tướng để phân biệt với những người không tu và các nhóm tu theo đường lối khác. Nhưng dần dà, qua các Tổ khai sáng, thì việc tu hành theo Đạo Phật chỉ là để THOÁT KHỔ, THOÁT PHIỀN NÃO. Ngay tên TỲ KHEO mà Phật đặt cho Tu sĩ cũng chỉ có nghĩa là; BỐ MA, PHÁ ÁC, PHÁ PHIỀN NÃO. Như vậy, người làm công việc đó lẽ nào do thiếu đi hình tướng mà không có thành quả giống như người ở trong Chùa, đầy đủ hình tướng? Do vậy mà TU SĨ hay CƯ SĨ thì việc Điều Phục Cái Tâm nào khác gì nhau? Tại sao ta cứ phải vin theo những hình thức ngày xưa để cho rằng nhất định phải là Tu Sĩ, phải Xuất Gia, ở trong Chùa mới tu hành được? Người đời cũng cho là “Chiếc áo không làm nên thầy tu”. Thời gian đã chứng minh có biết bao nhiêu người đầy đủ hình tướng tu hành mà buông lung, phá Giới? Như vậy thì Đại Thừa cho rằng ở đâu? Mặc gì? Làm gì? cũng có thể TU được có gì sai? Đạo Phật là phải cứu độ cho bá tánh, tại sao cho rằng chỉ người Xuất Gia mới được cứu? NGỮ của Xuất Gia là rời nhà, vô Chùa. Nhưng NGHĨA thật sự của XUẤT GIA là RA KHỎI NHÀ LỬA TAM GIỚI. Và Phật đã dạy: Y NGHĨA, BẤT Y NGỮ. Phật Thọ Ký cho tất cả Chúng Sinh, đâu có dành đặc quyền cho giới nào? Hơn nữa, việc tu hành chỉ cần Điều Phục Cái Tâm, thì đâu cần đòi hỏi phải là người độc thân, phải tập trung riêng một nơi nào đó mới tu được. Có vậy Đạo Phật mới “bình đẳng tế độ” được. Trong một khu rừng, có gai gốc, hầm hố, vô số thú dữ, nhưng cũng có hoa đẹp, dược liệu. Không thể vì một lóng bị sâu mà bỏ cả cây mía! Trung Quốc có những kẻ xấu, nhưng cũng có đến NĂM TỔ CHÍNH THỨC của Đạo Phật được chính TỔ ĐẠT MA là Tổ thứ 27 mang Chánh Pháp từ Ấn Độ truyền sang Ấn chứng, lần lượt truyền cho nhau. Cũng có Đức Khổng Tử, Lão Tử mà thuyết của các Ngài được cả thế giới khâm phục. Do vậy, theo tôi, là người muốn tu hành theo Đạo Phật thì nên tìm hiểu cho kỹ, phân biệt chánh, tà, rồi sau đó sẽ chấp nhận theo Thừa nào. Đừng vội như có một số Tỳ Kheo thời Phật giảng, mới vừa nghe Phật thuyết rằng “Thân này là ổ chứa nhóm tội lỗi, không nên chấp vào đó”, đã vội thuê người giết mình! Không nghe tiếp để thấy Phật nói: “Nhưng đó cũng là nơi phát sinh công đức tu hành, thành tựu Phật quả”! Bỏ cái Thân rồi lấy gì tu tập? Theo tôi, nếu thật sự là Phật Giáo Nguyên Thủy, đúng như nghĩa của hai từ Nguyên Thủy, thì lẽ ra các vị không được bỏ qua bất cứ lời dặn dò nào của Đức Thích Ca mới đúng. Vậy thì các vị nghĩ sao về Di Ngôn TRUYỀN Y BÁT của Ngài? Việc đó là sự thật, đã diễn ra, còn ghi lại trong lịch sử Đạo. Việc làm đó để chứng tỏ rằng khi Đức Thích Ca đã đưa ra lý thuyết “Phàm Sở Hữu Tướng Giai Thị Hư vọng” thì đương nhiên Ngài biết rằng Thân Phàm của mình sẽ không tồn tại mãi để giữ gìn Giáo Pháp đã đưa ra, cần có người nắm đầy đủ Lý, Hạnh cũng tròn đầy, để tiếp nối. Và cứ tiếp tục như thế để ngọn ĐUỐC PHÁP mãi soi sáng trong thế giới Vô Minh. Nhưng chính sai lầm của các vị Trưởng Lão ngày trước, tách ra khỏi đường truyền Chánh Pháp do Phật để lại, không chấp nhận dưới quyền của Tổ mới – là người thay mặt cho Phật đương thời - Ngược lại, còn tuyên truyền, chống đối những người chính thức thừa hành lời dặn dò của Phật, để thế hệ con cháu về sau xem đó như là việc làm bất chánh, cho rằng những người Đại Thừa rao bán hàng giả mà tuyên truyền là hàng có chất lượng cao! Nếu nhìn lại diễn tiến của Đạo Phật từ lúc mới thành lập Tăng Đoàn, thì Tổ, là người được trao cho trách nhiệm cầm nắm Tăng Đoàn. Như vậy, nhóm chống đối, tự tách ra, không chấp nhận dưới quyền lãnh đạo của Tổ đã được ủy nhiệm, thì cũng đồng thời chống lại lời dặn dò của Đấng Đạo Sư. Lịch Sử Đạo Phật còn sờ sờ ra đó, không thể chối cãi. Có lẽ những ai còn tự nhận là Đệ Tử của Phật cần xét lại để đừng tiếp tục gieo tiếng oan cho Đại Thừa, bởi vừa bất lợi cho bản thân, vì không được học hỏi Giáo pháp do chính những người thật sự Đắc Pháp truyền lại, vừa là người phản lại Di Ngôn của vị khai sáng Đạo mà mình đang tôn kính, đang theo học, thậm chí đang rao giảng! Phật DI LẶC mà Kinh đề cập chính là sự thành tựu của người đã điều phục xong LỤC TẶC, tức là SÁU TÊN GIẶC NƠI MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN, Ý mà ta thấy Tượng của Ngài có 6 đứa bé leo trèo bu quanh, còn Ngài thì vui cười thoải mái. Đó chỉ là hình ảnh để diễn tả sự an lạc của người đã thành tựu! Cho nên hiểu sai Ý Phật, lời Kinh, đọc mà cứ Y NGỮ, không tìm NGHĨA để Y, thì dù có đọc ngay Chính Kinh cũng biến Chánh Pháp thành Tà Pháp. Người Tu Phật là người xem cuộc thế là giả tạm. Ngay cả cái Thân mà họ còn không cho đó là Thật. Từng sát na họ phải canh chừng, không để cho niệm xấu trồi lên. Họ thấy vạn pháp là Không, thấy cảnh đời, lợi, danh, bon chen là phiền não, thì đâu có mưu đồ để tranh giành với ai, chỉ lo điều phục THÂN, TÂM, lo “Thu thúc Lục Căn” vì cho rằng Phiền Não, Đau Khổ đều xuất phát ở đó. Cho nên suy đoán rằng việc Kinh viết về Đức Di Lặc như một đấng cứu thế trong thế giới hiện tại “có thể bị hiểu lầm thành một sự lật đổ chính trị và là một thách thức cho nhà cầm quyền của chế độ thế tục” quả là một bôi bác cho Kinh Đại Thừa. Một lần nữa, xin nhắc lại: Tất cả Phật, Bồ Tát, Chúng Sinh, kể cả rồng, thuồng luồng, núi Tu Di, gò nỗng, hầm, biển… trong Kinh, đều nói về Cảnh Giới NƠI NỘI TÂM CỦA CON NGƯỜI khi chưa tu hành. Và Cảnh TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC, hay ĐÔNG PHƯƠNG TỊNH QUỐC, là cảnh của một cái TÂM ĐÃ ĐỘ THOÁT HẾT NHỮNG CHÚNG SINH LAO XAO trong đó. PHẬT DI LẶC XUẤT HIỆN là nói về CÕI TÂM ĐÃ ĐIỀU PHỤC XONG, LỤC TẶC đã trở thành SÁU ĐỨA TRẺ CON, VÔ HẠI. Không có một Đức Di Lặc nào sẽ xuất hiện từ trên trời cao hay xuất hiện ra đời như hàng Nhị Thừa vẫn hiểu lầm rồi mong đợi. Bên nào cũng cho mình mới đúng là Chân Truyền, mới dạy đúng Chánh Pháp của Đức Thích Ca. Nhưng phía ĐẠI THỪA thì rõ ràng có Đường Truyền, bắt đầu từ Tổ CA DIẾP, do chính Đức Thích Ca ấn chứng và Truyền Y bát để làm tin, kéo dài cho đến Tổ thứ 33. Còn các vị lãnh đạo tinh thần bên PHẬT Giáo Nguyên Thủy bắt đầu từ đâu? Do ai ấn chứng? Có lẽ cũng còn nhiều điều cần xét lại. Chính kết luận của Gs TOKUNO thêm một lần nữa, chứng tỏ là Gs chỉ là một nhà nghiên cứu thuần túy - dù rất công phu - nhưng chưa từng bước Đạo, nên chưa có cái nhìn của người thật sự hiểu và Hành theo đường lối tu hành theo NHẤT THỪA như Kinh ĐẠI THỪA hướng dẫn. Vì thế, Bà Gs chưa biết thế nào là “Nội Quang phản chiếu” để thấy tất cả những gì Kinh viết, đều mô tả những cảnh trong NỘI TÂM của con người. Cũng may. Nếu luận này được viết ra vào thời các bạo chúa mà họ nghĩ là phải chính xác - bởi do một đại trí thức viết - thì những người theo Đại Thừa tránh sao khỏi tội mưu đồ làm phản, biết đâu không thoát tội tru di tam hay cửu tộc! Như thế, càng chứng tỏ lời Phật dạy: “Y KINH GIẢI NGHĨA TAM THẾ PHẬT OAN” đã gần 3.000 năm vẫn còn nguyên giá trị. Xin hoan hỉ đón nhận ý kiến phản bác để học hỏi thêm. Trân trọng.


Tháng 11/2014



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 12.01.2015.