Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Đôi Điều Về Văn Bia

“Truyền Thống Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định”





Đ ất Gia Định (chỉ cả khu vực Nam Bộ) được chính thức thành lập và quy hoạch quản lý hành chính từ năm 1698, cách nay tròn 317 năm do dòng họ chúa Nguyễn có công mở đất về phương Nam và sau đó thống nhất đất nước Đại Việt với tên mới Việt Nam cho tới nay. Dải non sống gấm vóc nối liền thành một bản đồ hình chữ S tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ và ôm sát biển Đông rộng mở ra Thái Bình Dương. Đây là một vị trí vô cùng thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và phát triền đất nước, đoàn kết hội tụ của trên 54 dân tộc có mặt từ xa xưa trên cõi đông nam châu Á.

    Tưởng rằng từ đó, dân tộc Việt Nam vui hưởng tự do, độc lập, hạnh phúc trên một non sống gấm vóc toàn vẹn. Không ngờ, tới năm 1859 quân đội viễn chinh Pháp kết cấu với quân Tây Ban Nha đem tàu chiến tới đánh chiếm Gia Định vào giữa thời kỳ hình thành đô thị Sài Gòn và Chợ Lớn (mở rộng thêm Biên Hòa ở miền Đông và Tân An ở miền Tây). Cụ đồ Nguyễn Đình Chiều – nhà thơ yêu nước đã từng chạy loạn từ Gia Định xuống Bến Tre do giặc Pháp gây ra đã đau lòng nhìn thấy tình cảnh “nhà tan cửa nát” như sau :
    Bến Nghé của tiền tan bọt nước
    Đồng Nai tranh ngói nhuộm màu mây !
    Nhân dân miền Nam với tinh thần bất khuất, yêu nước, dũng cảm ở khắp nơi đã đứng lên kháng chiến với vũ khí thô sơ như dao mác và tầm vông vạt nhọn…chống lại quân thù ngoại xâm từ phương Tây lần lượt đặt nền móng cai trị một thuộc địa từ Nam tới Bắc gần 100 năm (1859-1954) và thêm 20 năm (1955-1975) bị đế quốc Mỹ tạm chiếm.
    Cuộc chiến chống ngọai xâm ở miền Nam trước sau kéo dài gần 120 năm do nhân dân cả nước đoàn kết một lòng với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (từ đầu năm 1930) bằng một cuộc đấu tranh mới, một phương thức vận động toàn dân mới đã giành được thắng lợi để thống nhất đất nước Nam Trung Bắc một lần nữa vào năm 1975 và đưa dải non sông gấm vóc hình chữ S này có cả biển Đông (gồm cả hai quần đảo Hòang Sa-Trường Sa) tiến lên xây dựng và phát triển hội nhập vào sự tiến bộ, văn minh của khu vực và thế giới.
    Đất Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn trở thành căn cứ địa kháng chiến và cách mạng cho cả Nam Bộ và cả nước từ ngày chống Pháp, đánh Mỹ cho đến thắng lợi vẻ vang. Ngày nay, nhớ lại công lao to lớn của cha ông qua nhiều thế hệ máu chảy đầu rơi, căn cứ địa có truyền thống chống ngoại xâm anh hùng mà người kế thừa sự nghiệp bảo vệ và xây dựng được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc này phải thể hiện sự biết ơn, uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, nên đã tiến hành thực hiện một công trình xây dựng “văn bia” truyền lại đời đời cho con cháu giống như “Văn bia Trấn Biên” (ở Biên Hòa – Đồng Nai).
    Lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định xưa) cho thực hiện cuộc thi viết văn bia và kết quả có ba bài văn được chọn để trưng cầu ý dân xa gần. Ba chọn một. Để tham gia góp ý, tôi xin mạo muội nêu lên một số ý kiến cho ba văn bia này. Tuy là “ múa rìu qua mắt thợ” đối với các bậc lão thành và đàn anh tác giả ba văn bìa nhưng tôi mạn phép có đôi điều muốn nói, mong được miễn chấp.
1-Văn bia của GS Vũ Khiêu :”Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, đất linh thiêng rợp bóng anh hùng”.
   -Về các tiểu mục :
   Từ đi mở cõi : đề nghị sửa lại : Từ ngày vào Nam mở cõi (1698) , lấy mốc năm Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược “lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định”.
   Từ giặc Pháp kéo vào Gia Định : đề nghị sửa lại : Từ thời giặc Pháp đánh chiếm Nam Bộ (1859).
   Mùa thu tháng Tám (1945) : đề nghị sửa lại : Cách mạng tháng Tám (1945).
   Quét sạch thực dân Pháp (1954) : đề nghị sửa lại : Nam bộ kháng chiến (1946-1954).
   Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định quật cường chống Mỹ cứu nước : đề nghị sửa lại: …quật khởi chống Mỹ cứu nước (1956-1975) : “quật cường” nghĩa tiêu cực (chỉ tự làm cho mình mạnh), còn “quật khởi” nghĩa tích cực, mạnh hơn như khởi nghĩa.
   -Về câu chữ :
   Đất linh thiêng rợp bóng anh hùng : đề nghị sửa lại : hội tụ, vì “rợp bóng” chỉ vật thể (bóng cờ, bóng cây, bóng người...) chỉ “ảnh” chớ không phải người, không thực, còn “hội tụ” chỉ tập hợp, tập trung, huy động, vận động…có thực chất, hữu hình, mạnh mẽ. (giống như tụ nghĩa anh hùng).
   Trong đoạn đầu : “khơi sông phá thổ” : đề nghị sửa lại : phá đất (nghĩa rộng hơn).
   -Đoạn 2 : Cờ Trương Định dọc ngang trời đất : đề nghị sửa lại : …dọc ngang Đồng Tháp , xác định địa danh hoạt động.
   Thơ Đồ Chiểu rung chuyển núi sông : đề nghị sửa lại : …Cửu Long , vừa xác định địa bàn, vừa đối với “Đồng Tháp”.
   Máu anh hùng sôi sụt toàn dân : đề nghị sửa lại : toàn dân sôi sụt máu anh hùng. (câu chữ ngược, khó hiểu)
   Đầu Đốc phủ bên trước chợ : đề nghị sửa lại : trước chợ bêu đầu Đốc phủ (Đốc phủ viết hoa), câu chữ xuôi dễ hiểu.
   Bến Nhà Rồng lồng lộng nước mây xanh ; đề nghị sửa lại : lộng gió trời mây.
   Cờ cách mạng dạt dào Công hội đỏ : đề nghị sửa lại : Cờ cách mạng phất cao Công hội. (hiểu là Công hội phất cao cờ cách mạng – và không có Đỏ vì Công hội Nam kỳ khác với Công hội đỏ Bắc Kỳ). Từ “dạt dào” như “xôn xao” nghe mềm yếu.
   -Đoạn 3 : Những Tổng Bí thư dũng cảm, anh minh : đề nghị sửa lại : …dũng cảm, chí khí. Từ “anh minh” nghe mùi tư sản. “Chí khí” chỉ “ý chí” và “khí tiết”.
Nào Nguyễn Thị Minh Khai cùng Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần : đề nghị được thêm Nguyễn An Ninh, một trí thức tiến bộ có tinh thần gắn kết với Đảng Cộng sản và giới thiệu Thanh niên cao vọng đảng cho Tân Việt cách mạng đảng của Hà Huy Tập (sau hợp thành Đảng cộng sản) để câu dưới có bốn chiến sĩ kiên cường (bỏ chữ cùng) đối với câu trên có bốn Tổng Bí thư.
   Tài tú : đề nghị sửa lại : Ưu tú.
   Khí thế vươn cao mọi chỗ : đề nghị sửa lại : mọi chốn đối với ở trên : khắp nơi.
   Đoạn 4 :
   Lập ấp, rào làng : đề nghị sửa lại : “xây ấp chiến lược” để chỉ rõ mô hình giam nhốt dân, cách ly với cách mạng của địch..
   Hủy diệt sinh linh… con sâu ngọn cỏ : đề nghị sửa lại : hủy diệt sinh thái…cành cây ngọn cỏ.
   Đoàn biều tình như bão biển dâng cao : đề nghị sửa lại : như sóng biển dâng cao.
   Đặc khu Rừng Sác cùng đặc công chiến đấu, tàu thùy tắc nghẽn dòng sông… đề nghị sửa lại : Chiến khu Rừng Sác đặc công thủy chiến đấu, tàu thù  thân xác tan hoang…”Đặc khu” tên gọi của địch. Từ “tắc nghẽn” không hợp lý.
   Tết Mậu thân… luôn tới bốn câu cuối : đề nghị sửa lại : …tổng tiến công, Mỹ - ngụy run sợ khiếp vía
   Biệt động Sài Gòn – Gia Định đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào
   Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử như mưa sa bão táp
   Giải phóng miền Nam oanh liệt như Điện Biên Phủ thứ hai.
2-Bài Văn bia của tác giả Dương Trọng Dật :
   -Nhận xét chung : Bài văn viết theo “nói lối” mong lung và mơ hồ quá. Không phân đoạn theo tiến trình lịch sử của miền Nam và thời kỳ đấu tranh của dân Nam Bộ, đã làm cho nội dung bài văn khó hiểu, lẫn lộn thời gian và sự kiện, biến cố. Dùng nhiều câu chữ xưa, nhiều hình tượng và ẩn ý mang tính “bác học” trong văn bia truyền thống cách mạng là không phù hợp, trái lại làm cho bị hiểu lầm !
   -Ý kiến về câu chữ và ngữ pháp : Ở câu mở đầu dẫn chuyện văn bia “Từ thuở mẹ Âu Cơ mở nước” và “Một cõi bờ riêng ngang dọc trời Nam” là hai hình ảnh chưa xác thực vì lúc đầu mở nước, chưa có “trời Nam” thời vua Hùng, đất Văn Lang.
   Câu “Máu đòi máu Nam Lân vang tiếng mõ” là hình ảnh phản cảm đối với dân Nam Bộ hay cả dân tộc Việt Nam. Xưa, nay nhân dân ta quật khởi, đấu tranh, giải phóng chống ngoại xâm chỉ vỉ khát vọng hòa bình và đòi độc lập dân tộc, dân chủ, tự do chớ không trả thù, không đòi nợ máu ! (Dùng từ “đòi nợ máu” nghe quá tàn ác, vô nhân đạo không phải bản chất của dân Việt).
   Không đúng thực tế khi nói “Đầu rơi trên Ngã Ba Giồng” vì các vị liệt sĩ này bị quân Pháp xử bắn, chớ không xử chém đầu ! (Cọc trói người vẫn còn tới nay).
   Cụm từ “Hồn Tổ quốc bơ vơ” cũng không chuẩn xác. Dân ta từ cổ chí kiêm, dù có thời bị nô lệ, mất nước tạm thời do ngọai xâm hay bị kẻ thù chiếm đóng nhưng không hề “mất hồn” nhất là “Hồn Tổ quốc” nên không hề “bơ vơ”. Nếu “bơ vơ” thì làm sao tập hợp được toàn thể nhân dân trong cả nước, lung lay được tinh thần kẻ đi chiếm đóng, kẻ thù run sợ, hoang mang. Hồn sông núi có linh thiêng thì mới có tiếng gọi của non sông, Tổ quốc.
   “Bẻ nạng chống trời” thường để chỉ người có “chí lớn”, ngang tàng trong thiên hạ để đánh đổ cường hào, ác bá, sâu dân mọt nước như thể “anh hùng Lương sơn bạc” chống với triều đình hủ lậu phong kiến phương Bắc, kể cả “chống trời” như huyền thoại “Nữ hoa đội đá vá trời” xứ người. Dân tộc ta không hề “chống trời” vì “trời” đối với truyền thống dân tộc là thiêng liêng, cao cả, che chở trong tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc. Các anh hùng, các nhà cách mạng của nhân dân ta như tác giả văn bia kể tên không hề “bẻ nạng chống trời” mà luôn là kiên cường, nghe theo và đi theo Đảng vinh quang để đấu tranh chống ngoại xâm, chống thực dân đế quốc giành độc lập, tự do cho Tổ quốc dù là phải hy sinh mạng sống. “Biển người đi cuồn cuộn nước triều đông” không rõ nghĩa bằng :” …cuồn cuộn như nước triều dâng”.
   “Mang hào khí Đông Á ngàn đời” : Tại sao là hào khí “Đông Á” ? “Đông Á’ là mộng bá chủ của phát xít Nhật đối với cả thế giới và châu Á hay Đông Nam châu Á. Nhân dân Việt Nam không hề có hào khí “lai căn” đó. Trích lại lời của tướng Trần Bình Trọng” đời Trần căm thủ nói với giặc (quỷ nước Nam) là ý nói nước Đại Nam, Đại Việt với phương Bắc. Chớ không xưng “quỹ nước Nam” với kẻ thù là thực dân Pháp. Từ “Nam” ở đây không đúng.
   Ở Đọan kết văn bia, dùng lại câu “Nam quốc sơn hà” cho Sài Gòn – Gia Định là hoàn toàn lệch lạc. Như vậy, ý tác giả muốn đề cao “Miền Nam” với đất nước Việt Nam nói chung nhưng lại nguy hiểm vì miền Nam – Nam Bộ không phải là “Nam quốc” (Nước Nam), có ý nghĩa như miền Nam biệt lập với Việt Nam, ngược lại với câu “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam” ở trên, nhắc lại tinh thần câu trả lởi của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo nước ngoài khi đề cập tới “Nam kỳ tự trị” của thực dân Pháp : “C’est la chair de notre chair, c’est le sang de notre sang” hoặc “Dân tộc Việt Nam là một. Đất nước Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.
3-Văn bia của Lê Quang Trang :
   -Nhận xét chung : Bài văn có phân đoạn, phân kỳ rõ ràng theo dòng thời gian hình thành và phát triển của Nam Bộ, kể cả lồng vào các giai đoạn bị thực dân xâm chiếm, cai trị và sự quật khởi của đồng bào, chiến đấu của dân quân và các tầng lớp nhân dân, nhất là kể từ khi có Đảng.
Dùng nhiều câu chữ bình dân, dễ hiểu gần gũi với tiếng nói người miền Nam.
   -Ý kiến về câu chữ :
   Hai câu mở đầu mang tính khái quát cao để chỉ lưu dân từ Bắc vào Nam để định cư, khai phá để an cư lạc nghiệp. Câu đầu nói chung và chỉ ra địa danh chung “lấy đất Nông Nại” của thống suất Nguyễn Hữu Cảnh :”Đây, lưu dân Đồng Nai- Gia Định”… Cùng bản địa Bến Nghé – Sài Gòn…”
Kế đó, từ “Tăng giao thương” không rõ nghĩa bằng “Mở giao thương”, vì trước đó không có giao thương ở miền Nam, nên không thể là “tăng” được.
Nhưng nói “Vang danh Hòn ngọc Viễn đông” không phù hợp và xác đáng bằng câu “Nổi tiếng…” nghe có âm hưởng Nam Bộ chân chất. Đề nghị bỏ câu “Xứng đáng Nam phương trù phú” vì không cần thiết.
   Đoạn 2, ở câu đầu nên thay từ “muốn” bằng từ “quyết”, thấy đúng hơn. Thực dân thi hành chính sách nô lệ “quyết liệt” với quyết tâm cao chớ không “mong muốn” suông. Chữ “bất trung” đối với các anh hùng Nam Bộ thời kỳ này là đúng nhưng trong văn bia không nên để y như vậy mà nên chuyển đổi thành kiên trung (không dấu ngoặc kép) có ý nghĩa mạnh mẽ hơn.
Trứng chọi đá” đối với “Chấu đá voi” rất hay nhưng lại không ổn ở từ “Chấu” không sử dụng tiếng “đơn” như vậy vì khó hiểu. Mà tiếng Việt phải dùng đủ từ kép “Châu chấu” chỉ loài côn trùng mong manh, yếu đuối..
   Đoạn 3, câu : “Trong đêm đen” đối với “Giữa mờ mịt” đối chưa chuẩn. Nguyên câu này chưa ổn về câu cú, chữ nghĩa nhất là dùng chữ “xuất dương” cho thanh niên Nguyễn Tất Thành là không phù hợp. Thời đó, chưa có tên “Cảng Sài Gòn”. Từ “Công hội đỏ” lại không đúng, mà chỉ là “Công hội” thôi. (Công hội đỏ chỉ xuất hiện ở miền Bắc do ông Nguyễn Đức Cảnh lập sau Công hội ở miền Nam do Bác Tôn Đức Thắng lập sau khi ở Pháp về nước).
Đề nghị sửa lại cả hai câu, hai vế : Trong nô lệ, từ bến nhà rồng, Nguyễn Tất Thành tìm đường cứu nước. Giữa đau thương, về xưởng Ba Son, Tôn Đức Thắng lập Công hội.
   Đoạn dài áp chót, rất hay khi đề cập thêm Nghị quyết 15 của Đảng và Đề cương cách mạng miền Nam của ông Lê Duẩn. Từ cơ sở đó, giai đoạn này mở ra quê hương Đồng khởi ở Bến tre, bắt đầu cho thời kỳ vũ trang chống Mỹ cứu nước. Do đó, nên bổ sung “quê hương Đồng khởi” trước Mặt trận dân tộc giải phóng ra đời… Câu “sinh viên đêm lửa trại hát vang” không đúng với thực tế vì giữa đường phố Sài Gòn thời đó bị giặc bao vây không sao đốt lửa trại được, mà chỉ hè nhau, kéo nhau, nắm tay xuống đường và ngồi lì giữa đường để “chống”, để hát ca như “hát bài ca xuống đường”, như câu “đất ta ta ở, đường ta ta ngồi”. Nên xin thay “đêm lửa trại” bằng “ngồi giữa đường”. Thanh niên, sinh viên chỉ tập họp đốt lửa trại thời Thanh niên tiền phong (ở suối Lồ ô và vườn Tao đàn) chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa ở Sài Gòn năm 1945.
   “Bệ phóng niềm tin”“buổi dựng xây đời” nghe không ổn ! Đề nghị sửa lại “Nâng dậy hay nâng cao niềm tin” và “buổi tạo dựng cuộc đời”
   Đoạn kết rất hay. Chỉ bốn câu rất đối nhau từng cặp để gút lại nội dung văn bia. Nhưng vế “vì Dân, vì Nước” ở trên đối với vế “với Đảng, với Dân” ở dưới lại chưa chuẩn vì lập lại chữ “Dân”. Có thể đổi “với Đảng, với Quân” để đủ cân xứng “Đảng, Nước, Dân, Quân – một tổng hòa cơ bản khái quát tạo nên độc lập, tự do cho đân tộc và đất nước.
   Hai câu đối cuối cùng rất mạnh mẽ và đáng nhớ nhưng nên thay đổi từ “truyền cùng” bằng “dâng cao” để vừa đối xứng vừa rõ nghĩa “ :
Vinh quang sáng ngời ngàn năm – Hào khí dâng cao vạn thuở !

(05/01/2015).


. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 12.01.2015.