Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Một Thoáng Đạo Trời





(Tiếp theo và hết)


H. Cấp Địa phương Giáo hội được tổ chức thế nào?

T. Mỗi quốc gia có Hội Đồng Giám Mục, gồm các Giám mục của quốc gia ấy, đứng đầu là vị Chủ tịch HĐGM.

Quốc gia chia làm nhiều Tổng Giáo phận, đứng đầu là vị Tổng Giám mục, mỗi Giáo phận có một Giám mục Chính tòa và có thể có Giám mục Phó và Phụ tá.

Mỗi Giáo phận lại chia thành nhiều Giáo hạt, mỗi Hạt có Linh mục Hạt trưởng đứng đầu.

Mỗi Hạt lại gồm nhiều Giáo xứ, mỗi Giáo xứ có Linh mục chánh xứ đứng đầu, có thể có một hay nhiều Linh mục Phụ tá tùy xứ lớn hay nhỏ.

Mỗi xứ có Hội đồng Mục vụ cộng tác với cha chánh xứ trong việc điều hành. Mỗi xứ lại có thể có các họ lẻ tùy thuộc Giáo xứ.

Người tín hữu đi bất cứ đâu trên thế giới trình giấy Rửa tội đều được địa phương đón nhận và giúp đỡ về mặt tinh thần và có thể cả phương diện vật chất nữa. Điều này cho thấy tính phổ cập của đạo, đúng với danh nghĩa của mình là đạo Công giáo, đạo chung của mọi người, mọi nước, mọi thời.


NHẬN ĐỊNH


Vấn đề thứ nhất, cũng là điều quan trọng nhất: Tin chắc chắn có Thiên Chúa, có Ông Trời, Ông Trời có mắt.

Quan niệm: “Có Chúa hay không có Chúa” là vấn đề đức tin nằm ngoài phạm vi của khoa học, của cảm giác. Đây là một tiền đề (Axiom), thật ra tiền đề “có Chúa” dễ tin hơn tiền đề “không có Chúa”. Nhà Bác học Newton đã làm một mô hình thái dương hệ rất đẹp để trên bàn, một ông bạn vô tín ngưỡng tới khen và hỏi “Ai đã làm ra vậy?”. Newton hóm hỉnh “Tự nhiên mà có đấy thôi!”. Ông bạn không tin, bấy giờ Newton mới trả lời “Thế tại sao cậu lại tin cả vũ trụ kỳ diệu, chuyển động nhịp nhàng này lại không cần Đấng sáng tạo?”. Khi đã có niềm tin cơ bản vào một Đấng Chí Tôn tạo dựng muôn loài thì mọi thắc mắc (về đạo Trời) đều được giải đáp dễ dàng, kể cả các phép lạ của Chúa Giêsu trong Tân Ước (Tiến sĩ vật lý Phan Như Ngọc).

Chính sự hiểu biết về những quy luật tuyệt vời của vũ trụ vĩ đại và kỳ diệu đã đem đến cho tôi niềm tin sâu sắc về sự hiện diện của một Đấng quyền năng tối thượng đã sáng tạo vũ trụ, cái mà con người không thể lãnh hội bằng lý trí của mình, Đấng ấy chính là Đức Chúa Trời của tôi” (Albert Einstein, trong The Universe and Dr. Einstein của Barnett Lincoln, trang 95).


Vấn đề thứ hai: Con người có linh hồn thiêng liêng không bao giờ tan biến, chính bởi vì được chia sẻ sự sống của Thiên Chúa. Linh hồn được ghi nhận qua hai tài năng là lý trí và ý chí hay tự do (loài vật không có). Tuyệt đại đa số trong nhân loại tự cổ chí kim tin con người có linh hồn được gọi bằng nhiều cách: Linh hồn, hương hồn, vong linh, vong hồn, hồn thiêng…


Vấn đề thứ ba: Ơn cứu rỗi tức là hạnh phúc vĩnh hằng. Các tôn giáo nói chung chủ trương tự mình tu luyện, làm lành lánh dữ để đạt ơn cứu rỗi. Đạo Công giáo chủ trương vẫn phải tự tu luyện nhưng chỉ sức mình mà thôi thì không thể đạt ơn cứu rỗi, tức là chiếm được hạnh phúc đời đời, mà chủ yếu phải có ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu là Ngôi Thứ Hai Chúa Trời xuống thế chỉ đường, đồng thời chịu nạn chịu chết trên cây Thánh giá, lập công trạng lớn lao vô cùng có thể đền tội thay cho loài người, mở ra nguồn ơn tha thứ, đem lại hạnh phúc đời đời. Chỉ có Thiên Chúa giáo mới có Đấng Cứu Thế chịu nạn chịu chết đền tội thay cho nhân loại, không có vị sáng lập đạo nào đã làm như vậy, các ngài chỉ vạch đường cho người ta tự đi bằng sức lực và đôi chân của mình.

Vài trường hợp cụ thể giải thích lý do cần Đấng Cứu Thế: Một anh thanh niên nóng nảy đấm vào mặt bạn mình, tội tương đối lớn. Nhưng cũng cái đấm ấy anh đấm vào mặt bố mẹ anh, tội lớn quá sức rồi. Cũng cái đấm đó anh đấm vào mặt ông vua của thời phong kiến, tội không thể thứ tha, đem đến án tử hình anh và tru di tam tộc hay cửu tộc anh.


Tội xúc phạm đến Chúa nặng vô cùng, loài người sức có cùng không thể đền được tội vô cùng.

Cách nay mấy năm, một vụ sập hầm mỏ ở Chilê, gần 100 công nhân bị giam trong hầm tối cách mặt đất 700m, đội cứu hộ với những phương tiện hiện đại nhất đã khoan lỗ thông khí, tiếp nước, đồ ăn rồi đào bới mở đường tiếp cận, phải mất gần một tháng mới cứu được các công nhân khỏi chết. Nếu chỉ để họ tự tìm đường đi lên thì chẳng bao giờ và cũng chẳng ai lên được. Ơn cứu độ của loài người cũng phải nhờ Đấng Cứu Thế như vậy. “Thiên Chúa đã định cho Đức Kitô phải đổ máu mình ra làm hy lễ đem lại ơn tha tội cho những ai tin” (Rm 3,25).


Vấn đề thứ tư: Ơn cứu rỗi chỉ được bảo đảm qua việc Chúa Giêsu sống lại. Tất cả các bài thuyết pháp của các Tông đồ đều có trọng tâm là Chúa Giêsu đã sống lại: “Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều này” (Lc 24,46-48). Đây là sự kiện lịch sử, nghĩa là việc ấy đã xảy ra trong thời gian và không gian nhất định. Đây cũng là phép mầu lớn nhất trong Kinh Thánh và là cột trụ của toàn bộ Giáo lý Công giáo. Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì tất cả Giáo lý Công giáo sụp đổ: “Nếu Chúa không sống lại thì đức tin của anh chị em là hư không” (1Cr 15,14). Sự kiện người chết tự mình sống lại là điều ngoài sức tưởng tượng của con người, từ xưa tới nay chưa từng xảy ra và từ nay đến tận thế cũng sẽ không xảy ra, vậy mà các Tông đồ, các môn đệ và hơn 500 chứng nhân dám quả quyết Chúa Giêsu đã sống lại, họ còn đem cả mạng sống mình mà bảo đảm tính xác thực thì chỉ có thể xảy ra ở một trong hai trường hợp sau đây:

. Một là những người này điên, mất trí hoàn toàn (nhưng nếu có điên thì một hai người thôi chứ lấy đâu ra một lúc cả 500 người điên như vậy – hơn nữa điên thì không thể nhất trí được với nhau).

. Hai là quả thật những người này đã qua trải nghiệm: Mắt thấy tai nghe, tay đã chạm tới như trường hợp Thánh Tôma đòi xỏ ngón tay vào lỗ đinh và thọc bàn tay vào vết đâm cạnh sườn Chúa (Ga 20,25), hay như Thánh Phêrô đã quả quyết: “ Chúng tôi đã cùng ăn uống với Ngài sau khi Ngài từ cõi chết sống lại” (Cv 10,41).

Ngày nay liệu có ai đó dám ra công trường đông người mà tuyên bố: “Ông nội tôi đã chết, chôn ba ngày rồi mới sống lại” không? Giả như có người dám làm như vậy thì liệu người ấy có sẵn sàng chịu mất việc việc làm, nhà cửa, phải tù tội, bị tra tấn và chịu chết vì lời tuyên bố ấy chăng? Và liệu người ấy có chinh phục được ai không? Những câu hỏi này buộc chúng ta phải suy nghĩ về lời làm chứng của các Tông đồ và những người tin theo Chúa Giêsu. Lời chứng đó chỉ có thể là sự thật mà thôi.


Vấn đề thứ năm: Kiếp sau vĩnh hằng nhưng sẽ như thế nào? Niềm tin có kiếp sau vĩnh hằng là phổ biến, bằng chứng là ở khắp nơi người ta vẫn cúng giỗ, tưởng niệm nguyện cầu cho người đã khuất, nhất là ông bà, cha mẹ, tổ tiên của mỗi người. Nhưng kiếp sau sẽ như thế nào? Chỉ với sự suy luận của chúng ta, chúng ta cũng thấy rằng:

. Kiếp sau sẽ là thế giới “phẳng”, không biên giới, không lãnh thổ manh mún, không phân biệt màu da, chủng tộc, địa vị (nếu có phân biệt thì chỉ phân biệt người làm điều lành, kẻ làm điều dữ ở trần gian này).

. Kiếp sau sẽ chỉ có một vị Chí Tôn thống lãnh toàn diện, không còn vua chúa nào khác: “Ai tự xưng là vua tức là kẻ thù của vua” (Ga 19,12). Không còn cảnh mỗi giáo chủ làm “vua” một cõi, lại còn một số người không theo giáo chủ nào… Tất cả chỉ còn một mối, chỉ có một vị Chí tôn quyền năng vô đối đã tạo dựng trời đất muôn loài muôn vật, sẽ xét xử, thưởng phạt công minh, mọi người phải quy phục. Vương quốc của Ngài sẽ thiên thu vạn đại, phúc cho ai được vào vương quốc ấy và cũng khốn cho ai bị loại khỏi vương quốc ấy.

(Nói về công bằng xã hội, nhiều người bi quan) – “Nhà triết học người Đức, Kant không bi quan như vậy. Theo ông, công bằng nếu là thì tương lai ở thế giới bên này, đương nhiên sẽ là thì hiện tại ở thế giới bên kia. Không một ai có thể thoát khỏi luật nhân quả hiển nhiên này. Điều đó càng chứng tỏ rằng một cuộc sống sẽ được tiếp tục sau khi chết và sự hiện diện của Thượng Đế để giải quyết công bằng. Như vậy có nghĩa là con người không thể tự mình thực hiện công bằng mà phải nhờ vào bàn tay Thượng Đế”.

(Hà Thúc Minh – Báo Xưa và Nay
số 357, tháng 6/2010, trang 12-14).


Thi sĩ Đỗ Tâm Linh có một vấn nạn về kiếp sau: Tiên cảnh ở đâu?


Con người sống chết lẽ thường

Nào ai biết được Thiên Đường ở đâu?

Biết bao người đã nguyện cầu

Đến khi chết cũng nằm sâu dưới mồ,

Còn linh hồn ở nơi mô?

Có ai hiểu được dẫn cho biết cùng.

(Tập thơ Tâm Linh, trang 48 Nxb. Thanh Niên – 2010)



Lưu ý điều chót:

Mọi điều phúc họa ở kiếp sau đều tùy thuộc sự chọn lựa đúng, sai của mỗi người. Kiếp sau không còn có thể đổi thay được nữa, muốn lập công thêm cũng không được, muốn phạm tội ác thêm cũng không được, vì xác hồn đã tạm chia lìa, không còn kết hợp với nhau để cùng hành động nữa. Ngày đó cũng không còn niềm tin và niềm hy vọng nữa vì mọi sự đã rõ như ban ngày. Người ta được thấy nhãn tiền, được biết đích xác, sẽ chỉ còn tình thương, hạnh phúc của kẻ lành và sự ân hận, nỗi đau đớn của kẻ dữ mà thôi. Đó chính là Thiên Đàng và Địa Ngục vậy.


KẾT LUẬN


Nếu kiếp sau vĩnh hằng, chỉ còn một mối, chỉ còn một vị Chí Tôn chi phối mọi người, mọi sự thì điều quan trọng nhất là ngay khi còn sống, mỗi người hãy chọn tôn thờ đúng vị Chí Tôn đó, và thành tâm giữ đạo của Ngài. Nếu cả đời mình đã tôn thờ một vị thần minh hay giáo chủ nào đó, mà ở kiếp sau vị ấy lại chính là Đấng Chí Tôn thì đời mình thật lên hương, trái lại, nếu vị đó không phải là Đấng Chí Tôn thì kể như đời mình “lúa”! “Xôi cũng hỏng mà bỏng cũng không”, mất “cả chì lẫn chài” (cả xác lẫn hồn, cả đời này lẫn đời sau). Cho đến hơi thở cuối cùng, bạn vẫn còn tự do lựa chọn, tự do thay đổi. Chết là chấm dứt khả năng chọn lựa hoàn toàn và vĩnh viễn.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 12.1.2015.