Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (13)



Bắc Thuộc Lần 2

Người Việt- Hùng Cứ Hương Thôn






Sau Tam Quốc. Các triều Đông Tấn (317-420). Lưu Tống (420-479). Nam Tề (479-502). Lương (502-557) nối nhau cầm quyền ở miền Nam nước Tàu và cai trị Giao Châu.

Hậu Tam Quốc- Dao liềm sắc bén cùng cắt
    Nhà Tấn (266- 420) là một trong sáu triều đại tiếp Tam Quốc và trước Nam Bắc triều ở Tàu. Nhà Tấn do họ Tư Mã lập. Nhà Tấn Thống nhất nước Tàu sau Tam Quốc.
    Nhà Tây Tấn bắt đầu từ Tư Mã Ý, đại thần nhà Ngụy thời Tam Quốc. Năm 239. Ngụy Minh Đế Tào Tuấn chết. Vua nhỏ Tào Phương bù nhìn. Cha con Tư Mã Ý nắm quyền.
    Năm 251. Tư Mã Ý chết. Hai con Tư Mã SưTư Mã Chiêu thay nhau cướp quyền. Tư Mã Sư phế vua Ngụy Tào Phương, lập Tào Mao. Tư Mã Sư chết. Tư Mã Chiêu thay. Năm 260. Tào Mao muốn khử Chiêu, bị Chiêu giết và lập Tào Hoán (tức Ngụy Nguyên Đế).
    Họ Tư Mã cai quản nước Ngụy, mạnh nhất trong số ba nước. Nước ThụcNgô dân cư thưa thớt và ít của cải hơn, dần dần bị Ngụy lấn át.
    Năm 263. Ngụy đánh Thục, nhanh chóng diệt Thục. Đầu năm 264. Lưu Thiện- Vua Thục đầu hàng.
    Năm 264. Tư Mã Chiêu chết. Tư Mã Viêm, con cả Chiêu thay. Tư Mã Viêm lên ngôi, lập nhà Tấn, là Tấn Vũ Đế (266- 290).
    Năm 280. Tấn Vũ Đế thu nốt nước Ngô, bắt vua Tôn Hạo. Nước Tàu lại được Thống nhất. Tấn Vũ Đế bành trướng cai trị, phía Bắc đến Trung tâm Triều Tiên, phía Nam đến hết Giao Châu.
    Nhà Tấn chia hai giai đoạn. Nhà Tây Tấn 266- 316. Nhà Đông Tấn 317- 420
    Nhà Lưu Tống (420- 479) là triều đại đầu tiên trong số bốn Nam triều ở Tàu.
    Nhà Lưu Tống do Lưu Dụ lập ra, họ của ông cùng với tên gọi triều Tống sau này. Nhà Lưu Tống cũng gọi là nhà Nam Tống, do nó là một triều đại thuộc Nam triều, là một trong các triều đại kinh đô đặt tại Kiến Khang (nay là Nam Kinh).
    Nam triều Tề (479 - 502) là triều đại thứ hai của các Nam triều ở Tàu. Sau nhà Tống (420- 479), trước nhà Lương (502- 557) thuộc về thời kỳ Nam Bắc triều (420- 589). Quốc hiệu Nam Tề xuất phát từ câu Đao lợi nhẫn tề ngải chi (dao liềm sắc bén cùng cắt).
    Trong lịch sử nước Tàu các thế lực thống trị sản xuất các loại tư tưởng đa hình, biến dạng.
    Thống trị nhà Hán sản sinh tư tưởng cai trị Phản Khổng dối trá. Thống trị Tam Quốc sản sinh tư tưởng cai trị Tào Tháo gian hùng lừa đảo. Thống trị hậu Tam Quốc sản sinh tư tưởng cai trị Dao liềm sắc bén cùng cắt.
    Nhà Lương (502 - 557 ), còn gọi nhà Nam Lương, là triều đại thứ ba của Nam triều trong thời Nam- Bắc triều ở Tàu. Sau thời Nam Tề trước triều đại Trần. Kinh đô đặt tại Kiến Khang (nay là Nam Kinh). Lương Vũ Đế Tiêu Diễn sáng lập nhà Lương.
    Năm 587. Nhà Lương bị Tùy Văn Đế diệt.
    Một số học giả cho rằng triều đại này đại diện cho "thời kỳ hoàng kim" của nước Tàu cổ đại. Nhiều sử gia cho rằng nhà Lương diệt vong bởi sự kết thúc thời trị vì của Lương Kính Đế Tiêu Phương Trí. Năm 557. Ông buộc phải nhường ngôi cho Trần Bá Tiên, người sáng lập nhà Trần.
Giao Châu từ Ngô sang Tấn đặt bày
    Sau khi đánh chiếm lại được Giao Châu từ tay nhà Tấn (271), Đào Hoàng đã xin với Tôn Hạo đặt thêm hai quận Vĩnh Bình và Tân Xương trên cơ sở tách khỏi quận Giao Chỉ và đặt thêm quận Cửu Đức tách khỏi quận Cửu Chân. Giao Châu cuối thời Ngô sang Tấn gồm các quận: Giao Chỉ, Vĩnh Bình, Tân Xương, Cửu Chân, Cửu Đức và Nhật Nam.
    Thời Nam Bắc triều, địa giới hành chính Giao Châu như thời Lưỡng Tấn, có điều chỉnh chút ít.
    Thời Lưu Tống (420- 479). Đặt thêm quận Tống Bình (nay là Hà Nội) tách từ quận Giao Chỉ và đặt quận Nghĩa Xương.
    Thời Nam Tề (479- 502) có sự thêm bớt một số huyện ở các quận.
    Thời Lương Vũ Đế cải cách hành chính nước Tàu, chia đất đặt thêm nhiều châu nhỏ. Tại Giao Châu chia quận Giao Chỉ đặt ra Hoàng Châu và quận Ninh Hải. Lấy quận Cửu Chân lập ra Ái Châu. Lấy quận Nhật Nam đặt ra Đức Châu, Lợi Châu và Minh Châu.
Người Việt- Hùng cứ hương thôn
    Bắc thuộc lần II. Người Việt thâm canh trồng lúa hai mùa trong một năm, tăng năng suất. Sử Tàu thời này gọi lúa chín hai mùa là “Lúa Giao Chỉ”.
    Đồ sắt phát triển giúp năng suất trồng trọt tăng nhanh và đời sống tạm no đủ. Tiếp nối văn hóa ao hồ của Tổ Tiên Việt, các công trình thủy lợi, đắp đê sông và đê biển được tiến hành. Kênh ngòi được đào phục vụ trồng trọt và giao thông,
    Sản xuất nông nghiệp tốt tươi. Sản phẩm của người Việt bị các triều đình Tàu vơ vét, tô thuế nặng nề. Lượng thuế nông nghiệp, nhà Hán thu từ dân Việt là 13,6 triệu hộc lúa, nhiều hơn so với những vùng như Mân, Quảng, Điền, Kiềm của Tàu.
    Các nghề chính của người Việt thời kỳ này là rèn sắt, đúc đồng để làm dụng cụ lao động, đồ dùng gia đình (bình, đỉnh, chậu, bát, chén, đĩa…) và vũ khí (kiếm, dao, kích, lao, mũi tên...)
    Nghề gốm phát triển. Sản phẩm có đồ dùng thường ngày như bát, chén, đĩa, nậm, mâm, khay, nồi, chõ… hay đồ thờ như đỉnh, đèn, bình hương, thìa, đũa sành) và tượng thú.
    Nghề làm gạch ngói dùng cho các công trình kiến trúc thành quách, chùa tháp, mộ táng. Hai nghề phụ phổ biến nhất là nghề dệt và đan lát. Các loại vải đều được nhuộm thành nhiều màu khác nhau.
    Người Việt biết dùng mía nấu mật làm đường, gọi là thạch mật. Lúc đó người Tàu chưa biết làm đường bằng mía nên thạch mật của Giao Châu trở thành cống phẩm quý cho Tàu.
    Những ngành thủ công nghiệp khác trình độ tinh xảo: mộc, sơn then, thuộc da, nấu rượu, làm đồ đá… Sự phát triển thủ công nghiệp của người Việt, bị kìm hãm do các triều đại Tàu cai trị. Họ bắt nhiều thợ thủ công giỏi, nghệ nhân về xây dựng tại kinh đô Tàu.
Làng và sông- Con đường Giao Chỉ
    Ngoài hệ thống sông ngòi tự nhiên, việc đào đắp kênh mương, làm cho làng thôn Việt dễ dàng giao thương. Các thư tịch cổ Tàu nói rằng các nước phương Nam và phương Tây muốn đến Tàu đều phải đi theo Con đường Giao Chỉ. Từ thời nhà Hán, thuyền buôn các nước Java, Myanma, Ấn Độ, Parthia (Ba Tư), La Mã đều qua Giao Chỉ. Họ coi Giao Chỉ như một trạm dừng chân quan trọng để đến Tàu. Thời Nam Bắc triều, thuyền các nước này và các tiểu quốc bờ biển Sumatra, Sri Lanka… đều qua lại buôn bán với các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.
    Theo Hậu Hán Thư Vương quốc Parthia mua tơ lụa từ đất nhà Hán bán lại cho La Mã lãi rất cao. Triều đình La Mã muốn sai sứ giao thương với triều đình nhà Hán nhưng Parthia cố ngăn trở không cho La Mã tiếp cận để mua hàng trực tiếp của Hán. Năm 166. Triều vua Hán Hoàn Đế, Hoàng đế La Mã là Marcus Aurelius Antoninus sai sứ theo đường từ Nhật Nam đến dâng ngà voi, sừng , đồi mồi cho nhà Hán. Lần đầu tiên La Mã thông với Tàu, qua quận Nhật Nam của Giao Chỉ.
    Việc buôn bán ở Giao Châu hầu hết do người Tàu khống chế. Lời lãi thu được, Tàu vơ đầy túi tham về Tàu. Các triều đại Tàu có chính sách đánh thuế thương mại với các tàu thuyền buôn của nước ngoài rất nặng.
Ngôi làng Việt- Thành trì Văn minh Đông Sơn
    Trước khi bị Tàu cai trị và biến thành quận huyện, xã hội Việt cổ hình thành trên nền tảng nghề trồng lúa nước rực rỡ ở đồng bằng châu thổ sông Hồng. Hình thái nhà nước sơ khai dựa trên chế độ thủ lĩnh địa phương là Lạc tướng.
    Từ đầu công nguyên trở đi, nền văn minh Đông Sơn bị giải thể về cấu trúc. Nhưng Tinh hoa của nền văn minh Đông Sơn không bị mất. Tinh hoa Đông Sơn hòa vào sự sống và sáng tạo nền văn hóa dân gian của các xóm làng Việt cổ. Mặt khác đã chuyển hóa với những thể chế văn hóa, văn minh ngoại lai từ Tàu và Ấn Độ. Do đó, dần dần đã tạo nên một sắc thái văn hóa- văn minh mới là văn hóa Việt- Hán, Văn hóa Tượng Lâm, Văn hóa Chăm Pa, Văn hóa Chiêm Thành.
    Sự sinh tồn của người Việt trong làng Việt là thành trì kim cương giữ Văn minh Đông Sơn tồn tại muôn đời. Nhà nào cũng thờ Tổ Tiên, thờ Thổ công, vị thần trông coi gia cư, giữ gìn hoạ phúc cho cả nhà. Làng nào cũng thờ Thành hoàng, vị thần cai quản che chở cho cả làng. Sự thờ phụng đó gắn với những Tinh hoa Đông Sơn di truyền vào nếp ăn, nết ở, trồng cấy, sản xuất, xây dựng làng Việt.
    Thống trị Tàu hậu Tam Quốc, thời Bắc thuộc lần II với “văn hóa” Dao liềm sắc bén cùng cắt chỉ nắm được tới cấp huyện, không khống chế được hạ tầng cơ sở của xã hội Việt cổ là các làng. Sử Tàu thừa nhận những thủ lĩnh người Việt vẫn Hùng cứ hương thôn cùng những phong tục cổ truyền Tổ Tiên Việt: Lễ hội Trống Đồng, Thờ tế Trống Đồng. Dùng Trống Đồng đánh giặc và nhiều tục lệ cổ khác vẫn được giữ: cạo tóc hay búi tóc, xăm mình, chôn cất người chết trong quan tài hình thuyền, nhuộm răng, ăn trầu…
    Làng là vùng trời riêng của người Việt. Trong khi văn hóa Phản Khổng Tàu trọng nam khinh nữ thì văn hóa Việt cổ tôn trọng vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội. Những người đàn bà phi thường như Trưng Trắc, Trưng Nhị, Triệu Thị Trinh xuất hiện Lẫm liệt mở Bình Minh. Đó là sức mạnh Tâm linh Mẹ Việt- Đạo Mẫu.
    “ Dựa vào ngọc phả, Thần tích, ngày nay chúng ta biết Tổ Tiên Bách Việt trên đất Việt 5000 năm trước đã có Đạo Sa Bà hay Sa Môn giáo. Phả cũ nói rõ đất Việt là Trung tâm giáo chủ của 37 Vương quốc theo Đạo Sa Bà. Cách đây trên 2.500 năm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tu và Giác Ngộ. Đạo Phật đã nở hoa kết trái nơi đất Việt rất sớm, nhờ nền tảng Đạo Sa Bà của Bách Việt.
    Bằng chứng là khắp nước Việt ngày nay, các chùa đều đặt trước Tam Bảo một tòa tượng Cửu Long. Đó là chín con Rồng tượng trưng cho chín con suối và chín ngôi mộ các vua Hùng đã sinh ra chín họ Hùng Vương gọi là Thủy Tổ Cửu Tộc. Tòa tượng Cửu Long còn là biểu tượng Rồng Tiên. Tượng Hương Vân Cái Bồ Tát, hình một vị sư đầu trọc, mặc váy, một tay chỉ lên Trời, một tay trỏ xuống Đất đứng trong vòng Càn Khôn của Tòa tượng Cửu Long”.
(Đi Tìm Tổ Tiên Việt- NXB Văn hóa Thông Tin- 2014)

Dao liềm không cắt nổi Trống Đồng Đông Sơn

    Trống Đồng Đông Sơn là biểu tượng của Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa Việt rực rỡ huy hoàng ở một Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mà Trung tâm là khu vực Đền Hùng và ba con sông chính rộng lớn của đồng bằng Bắc Bộ (sông Hồng, sông Mãsông Lam) vào thời đồ đồngthời kỳ đồ sắt sớm.
    Hình chạm khắc trên Trống Đồng Đông Sơn cho ta thấy những hình người thổi kèn, các vũ công đầu đội mũ lông chim trĩ, chim công (một loài chim đặc sắc phương Nam nhiệt đới), nhà sàn của cư dân vùng nhiệt đới Đông Nam Á, bộ sưu tập về các loài chim cổ mà ngày nay nhiều trong các số loài đó đã tuyệt chủng.
    Các sinh hoạt văn hóa của cư dân Đông Sơn được mô tả phong phú trên các hoa văn rất sắc nét của Trống Đồng. Không thể cãi bàn. Người Tàu không dám nhận Kinh Dịch diệu huyền là của họ. Kinh Dịch hiển linh trên từng nét vạch đứt, vạch liền của Trống Đồng mà các nhà nghiên cứu Việt cổ phi phàm của Việt Nam trước, nay đã và đang dày công nghiên cứu.
    May mắn cho những trang sử được chạm khắc trên Trống Đồng Đông Sơn và các sản phẩm chất liệu đồng, đã giữ cho người Việt Đông Sơn những chứng cứ về văn hóa, nghệ thuật Đông Sơn- di truyền không năm tháng. Mà cái thứ Dao liềm sắc bén cùng cắt man rợ của thống trị Tàu, phải chào thua.
    Nghệ thuật Đông Sơn cho ta thấy sự cảm nhận tinh tế của các cư dân thời đó qua khả năng chạm khắc, tạo hình tinh tế và một đời sống ca múa nhạc phong phú.
    Đồ dùng Đông Sơn gồm có các loại thạp, có nắp hay không nắp, với những đồ án hoa văn trang trí phức tạp, những thổ hình lẵng hoa có chân đế và vành rộng, các loại gùi, vò, ấm, lọ, chậu. Qua đó làm chứng cứ về một xã hội phức tạp trên cơ sở các đại gia đình, các dòng họ trong cộng đồng làng xã đã định cư ổn định xây nền Văn Minh Lúa Nước Sông Hồng, sông Mã.
    Người Đông Sơn trang sức bằng các loại vòng tay, vòng ống ghép, nhãn, hoa tai, móc đai lưng, bao tay, bao chân, ví dụ như bao tay và bao chân tìm thấy ở di tích Làng Vạc, Nghệ An
    Nghệ sĩ tạc tượng Đông Sơn để lại cho chúng ta nhiều loại tượng người, tượng thú vật như cóc, chim, gà, chó, hổ, voi... trong tâm thức Trầu Cau phồn thực.
    Nhạc sĩ Đông Sơn đã diễn tấu các loại chuông nhạc, lục lạc, khèn, trống đồng…
    Số lượng Trống Đồng Đông Sơn tìm được cho đến nay trên vùng đất Việt Nam khoảng 140 chiếc, chiếm già nữa số lượng trống loại này hiện đã biết ở Đông Nam Á.
    Nền Văn hóa Đông Sơn được đặt tên theo địa phương, nơi các dấu tích đầu tiên của nó được phát hiện, gần sông Mã- Thanh Hóa.
    Năm 1924. Một người câu cá là Nguyễn Văn Lắm đã ngẫu nhiên tìm được một số đồ đồnglàng Đông Sơn ven sông Mã- Thanh Hóa. Tiếp đó là những cuộc khai quật của một viên thuế quan Pháp yêu khảo cổ tên là L. Paijot, người đầu tiên khai quật thấy các hiện vật thuộc một nền văn hóa lớn mà 10 năm sau đó, năm 1934, đã được định danh là Văn hóa Đông Sơn. Tên của ngôi làng Đông Sơn trở thành tên của cả một nền văn hóa rực rỡ thuộc thời đại kim khí cách đây 2000- 3000 năm.
Nền Văn hóa Đông Sơn là sự phát triển liên tục và kế thừa từ các thời kỳ tiền Đông Sơn trước đó là Văn hóa Phùng Nguyên đến Văn hóa Đồng ĐậuVăn hóa Gò Mun. Nhiều dấu tích đặc trưng cho văn hóa Đông Sơn cũng được tìm thấy ở một số vùng lân cận Việt Nam như ở Vân Nam, Quảng Tây, Hải Nam của Trung Quốc, ở Lào hay ở Thái Lan...
    Các yếu tố thuộc về văn hóa ở Đông Sơn không dính yếu tố bên ngoài. Nước Tàu không thể với tới được. Thời điểm Văn hóa Đông Sơn phát triển rực rỡ nhất (thông qua niên đại xác định bằng C14) cách ngày nay trên 2.500 năm.
Văn hóa Đông Sơn chế tạo vũ khí, xây thành, lũy
    Vũ khí Đông Sơn rất phổ biến, đa dạng về loại hình, độc đáo về hình dáng và phong phú về số lượng. Nỏ thần của vua Thục Phán An Dương Vương bắn mỗi phát ra hàng loạt mũi tên đồng làm cho quân Triệu Đà khiếp vía kinh hồn. Mũi tên Cỗ Loa có các loại hình cánh én, hình lao có họng hay có chuôi, loại 3 cánh có chuôi dài. Ngoài ra còn có giáo, lao, dao găm, kiếm, qua, rìu chiến... Rìu chiến có đến gần 10 loại: các loại rìu xéo (hình dao xéo, hình thuyền, hình hia, hình bàn chân) rìu lưỡi xoè cân, rìu hình chữ nhật, rìu hình dao phạng. Dao găm có các loại lưỡi hình lá tre đốc củ hành, đốc bầu dục hay có chuôi là một tượng hình người, có loại dao găm lưỡi hình tam giác, cán dẹt hay tròn. Khải giáp gồm có các tấm che ngực có hình vuông hay hình chữ nhật, áo giáp gồm các vảy đồng buộc lại với nhau, có hoa văn trang trí đúc nổi. Ở Hà Nam còn tìm thấy cả giáp che ngực và mũ chiến bằng đồng.
    Nếu Tàu có chiến xa trong chiến tranh thì người Việt Đông Sơn lại có thuyền chiến lớn, chở được nhiều người, đủ các loại vũ khí, cơ động rất tài tình trên vùng sông nước của các con sông lớn nhỏ thuộc đồng bằng Sông Hồng. Voi chiến của các cư dân Đông Sơn là nỗi khiếp nhược cho kẻ xâm lăng.
    Khi Tần Thủy Hoàng đánh chiếm Bách Việt. Người Bách Việt kết hợp với sông nước và kỹ thuật vũ khí cao cường, nên đội quân đông hàng chục vạn của Tần Thủy Hoàng phải thất bại thảm hại trước một dân tộc phương Nam. Trước đó quân Tần chưa hề nếm mùi thất bại khi thống nhất lãnh thổ Tàu.
Trầu cau phồn thực Tình Mẹ Việt
    Tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người. Con người phồn thực sinh nở. Cỏ cây, vạn vật phồn thực để bảo tồn sự sống. Tín ngưỡng phồn thực là bản chất của sự sống. Với người Việt tín ngưỡng phồn thực nguyên thủy luôn tồn tại. Người Việt cổ thờ sinh thực khí nam và nữ và thờ cả hành vi giao phối. Dấu tích phồn thực khắc ghi Trống Đồng và tất cả các loại hình nghệ thuật Việt cổ.
    Người Việt tôn sùng cây cối, các loại cây lương thực chính. Các sản phẩm làm từ gạo nếp, gạo tẻ đã có hàng nghìn năm và truyền mãi mãi. Các loại bánh, trái cây, món ăn, thức uống đặc trưng của người Việt đã đi vào huyền thoại ứng dụng vào đời sống, bằng văn hóa dân gian, truyền khẩu. Các làng Việt có cây đa cổ thụ, dân tôn thờ và bảo vệ từ thế kỷ này sang thế kỷ khác.
Sử cổ Tàu (TCN) ghi:
    “Người Việt yêu cuộc sống đầm ấm, cấy trồng, vun cây hoa lúa làng xã, thích định cư dài lâu và có truyền thống coi trọng mồ mả của tổ tiên. Họ ít phiêu lưu, chinh chiến, yêu hòa bình, yêu ca hát, lễ hội, nhảy múa, bơi lội chài lưới trên sông nước, biển cả, hải đảo…”
    Những người thuần Việt chân quê, trong sáng, giữ được bản chất Trẻ Thơ mà Thượng đế sáng tạo ra loài người. Họ gắn từng hơi thở với không gian Địa lý của họ. Họ sống & chết trong Đất Tổ Tiên khai phá, tạo thành Không gian Tâm linh. Họ quyết liệt chống tư tưởng cai trị Phản Khổng, Tào Tháo gian hùng lừa đảo, Dao liềm sắc bén cùng cắt… mà những thế lực thống trị nước Tàu rắp tâm đồng hóa, hủy diệt Văn hóa Việt, dai dẳng, liên tục.
    Tục ăn trầu là quốc hồn Việt cổ, qua Sự tích trầu cau. Tục ăn trầu lan đến hầu hết các cư dân Nam đảo và Đông Nam Á. Sử Tàu mô tả tục uống trà của người Việt cổ có từ xa xưa, khi người Hán ở Trung Nguyên chưa biết đến trà.
    Người Việt cổ biết dùng hóa chất và các loại nhựa, sơn cây dùng để nhuộm răng đen, mà mãi đến giữa thế kỷ XX còn khá phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.
    Cuộc sống theo tín ngưỡng phồn thực và trọng thiên nhiên, sống hài hòa với thiên nhiênthuyết Âm- Dương, Thiên Địa Nhân hợp nhất… gốc nguồn Trầu Cau.
    Nghệ thuật chôn cất người chết mà các nhà khảo cổ học đã tìm thấy trên đất Bắc Bộ đến miền Trung Việt Nam. Mộ thuyền là một cách chôn cất độc đáo của người Việt cổ thuộc văn hóa Đông Sơn.
    Năm 2004. Các nhà khảo cổ học tìm thấy thêm một ngôi mộ bên triền sông Cửu An, thuộc thôn Động Xá, xã Lương Bằng- Kim Động- Hưng Yên. Đó là một con thuyền độc mộc chở người Đông Sơn vào giấc vĩnh hằng từ 2.500 năm trước. Khi nắp quan tài bật mở, người ta thấy tất cả bùn đất tích tụ từ thiên niên kỷ I TCN phủ kín hiện vật. Khi lớp bùn được gạt ra, nhìn thấy người chết đặt nằm ngửa, thân bó vải, hai tay để xuôi, chân duỗi thẳng. Có một số đồ gốm, hạt thực vật thân thương được chôn theo.
Thăng Long- Hà Nội 2014
    Đêm Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh. Đâu đây Dạ Khúc Huyền Trân man mác, buồn thương. Điệu Nam Ai, Nam Bình, gợi hồn Việt cổ nơi Vương quốc Chăm Pa, nhớ Quốc hồn Mẹ Việt- Trầu Cau- Hồn Văn hóa Đông Sơn. Bởi thoát văn hóa Tàu phản Khổng, mà hợp hôn cùng Văn hóa Ấn Độ cổ:
    “Sông Hương lặn sóng vô lượng kiếp/ Bến Phu Văn Lâu, tụ nước trong nguồn/ Thơm hồn Người- Đất- Trời xứ Huế/ Đêm Huyền Trân ca Nam Bình, Nam Ai/ Ngàn vạn năm ai nhớ sông Hương/ Như Huyền Trân- Con vua Trần hiển Phật/ Môi thắm má đào, thân liễu yếu/ Dâng non sông cẩm tú, hưởng an hòa/ Ơ…Hò ơ… Giọng hò thương Huế/
    Nức nở đàn bầu, ríu ran đàn nguyệt/ Huyền Trân thao thức gọi phụ vương/ Trăm lạy vua cha! Nỗi đoạn trường/ Nước non ngàn dặm ra đi/ Sóng lướt thuyền Hoa, dội bước sầu/ Mượn màu son phấn đền nợ nước/ Vì giang san, con gắng gánh gồng/ Điện ngọc cung vàng nơi đất lạ/ Xao xác lòng con nỗi nhớ nhà/ Nhạc hồn Mẹ Việt đồng xanh lúa/ Theo dấu chân con, khúc biệt hành”.

(… Còn tiếp ...)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 16.12.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn