Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh vẽ :‘Chim / The Bird’ của Võ Công Liêm




THI CA PHẢN KHÁNG







Nếu siêu hình phản kháng (metaphysical rebellion) từ chối tất cả mọi điều để đồng tình vào một hạn chế cho chính nó thời đó là một nghi vấn tuyệt đối tự kết tội cho chính mình, một kiểu thức chấp nhận thụ động hơn là biểu lộ. Nếu đó là một liệt nhược chính nó trong ơn sủng bái của những gì tồn lưu nhân thế và khước từ là quyền hạn để được bàn cải qua từng phần của hiện thực; sớm muộn gì điều đó cũng buộc vào sắc lệnh như cáo trạng – Chí Phèo – thì ai là người đứng ra can thiệp điều này, nhưng; trong cái diện mạo đau khổ đó đưa chúng ta đứng giữa hai vị trí vừa chủ thể vừa khách thể, đối xử qua một tâm tư hoàn cảnh xã hội… Thi nhân đứng trước sự vụ này có thể tức cảnh thành thơ, văn nhân gào lên tiếng tha oán mà thành văn hay đây là tiếng phẩn nộ của đám bần dân; vì tất cả rơi vào hố thẳm, một hố thẳm bi đát mà con người nhận thức trước sự kiện như một tai họa để rồi chấp nhận thương đau; nỗi tuyệt vọng đó sẽ bùng lên trong âm vang của phản kháng siêu hình hay phản kháng tư tưởng; những thứ đó bộc phát (spontaneous) trong tư thế ngấm ngầm và phát tiết với tấm lòng như nhiên qua thi ca phản kháng (rebel poetry). Vị trí này nó nằm trong một tâm thức siêu đẳng giữa văn chương và sẽ đi tới sức mạnh, dù một thứ kiên trì mỏng manh –constantly oscillated between these two extremes: between literature and the will to power, between the irration and the rational, the desperate dream and ruthless action. Giữa sự cớ vô lý và hữu lý, giữa cái mơ tuyệt vọng và cái hành động bất nhân. Lời thơ của thi nhân ẩn chứa bằng một tâm thức phản kháng thụ động; với tất cả những gì xẩy ra trong cuộc sống hiện sinh có thể đưa đến một xúc động khác trong một tư duy bừng dậy. Thi nhân dễ cảm hóa hoàn cảnh ngay cả chuyện ngoài văn chương (thời sự, họp mặt hay ghi chép) là ánh sáng đưa đường dẫn lối từ một hành động thầm kín để dễ bề chấp nhận dọc theo một trạng huống phản kháng trong thi ca dưới mọi hình thức để đại diện sự hiện hữu của mình đang dấn thân. Vị chi; thi ca ít nhiều đã bộc bạch được tâm trạng bi thương hay buồn vui ngay cả hạt lệ cũng nói lên được phản kháng; dù một thứ phản kháng thụ đông và nghi ngờ tuyệt đối (absolute negation). Nghĩa là gì? Đó là tinh thần lịch sử và nghệ sĩ, cả hai cùng muốn tái tạo lại thế giới riêng mình; tiếng nói của thống khổ, biết phận mình như một hoài vọng không bao giờ đạt đến, biết được giới hạn của mình mà lịch sử không biết tới hay biết tới mà đành đoạn thờ ơ. Thi nhân trở nên khát vọng, bởi; thi ca là tiếng nói khát vọng cho tự do. Phản kháng thi ca vừa là mỹ ngữ vừa là mỹ lệ cả hai không còn là bản chất tự tại dành cho thi ca mà bằng ngôn ngữ phản kháng, vượt thoát để tìm thấy những gì là siêu độ, tao nhã, thanh cao. Nó muốn biến dạng cõi thế trước khi hội nhập vào cõi thế. Thi ca tư tưởng được đóng khung ở vị trí cố định. Vũ Hoàng Chương đã có lần thốt :’sinh nhầm thế kỷ’ một thế kỷ hỗn mang, thuồng luồng, dối trá. Saint Exupéry thốt tương tợ:’tôi thù ghét thời đại tôi / I hate my age’. Câu thơ nghe thường mà cả phản kháng. Nhưng; dù tiếng thốt làm cho ta cảm kích bàng hoàng bao nhiêu chăng nữa đó chỉ là tiếng thốt vọng lại, thức tỉnh ta dấn thân lên đường bằng ngữ ngôn thi ca sáng tạo, vượt thời gian để tồn lưu những gì mới lạ bằng tâm thức phản kháng kiêu hùng phù hợp với kỷ nguyên này. Sáng tạo không có nghĩa làm mất sáng tạo qua một ngữ ngôn thi ca mù mờ mà thực sự phải có một cuộc cách mạng thi ca (không nhai đi nhở lại thứ từ chương tích cú, thứ bóp nặn, rặn đẻ câu thơ) không mất hướng đi của thi ca, cũng đừng chế chữ để có được một sáng thế thi ca. Những thứ đó không ai gọi là phản kháng thi ca, ngược lại làm băng hoại và liệt nhược thi ca. Nietzsche cho đó là tinh thần trì độn, Camus cho đó tư tưởng ngu xuẩn. Ta chẳng nên tương nhượng mà dang tay hứng lấy cái điêu tàn đổ lệ trong thi ca và hùa nhau ngợi ca cái vô nghĩa mà hãy quên đi lời ca ai oán, bởi; khóc than, ai oán không nói lên được lòng bi dũng mà nên vin vào đó để mở rộng bờ cõi thi ca mà đi vào. Đó là cơ sở đưa tới một giá trị cho chính nó, cái đó là tinh thần phản kháng.Thi ca phản kháng là người hùng bất diệt của kỵ sĩ không đầu nhưng lại dám đương đầu. Sao thế? Vì làm nên một cuộc cách-mạng-tư-tưởng-thi-ca có nghĩa là đổi mới tư duy mở rộng thị trường thi ca có khuynh hướng chủ nghĩa thi ca. Vậy chống lại phản kháng lập tức phá vỡ sự đoàn kết, lập tức thủ tiêu danh hiệu của mình. Xử sự như thế cũng do từ vị kỷ (egoistic) mà ra. Và trở nên tự tôn cái danh xưng của mình (cái nầy cũng do trình độ hiểu biết; bởi do vọng ngã tham dục. Cái trong vẫn còn cái đục trong đó; cho nên hư hại do tự chính nó). Tư tưởng phản kháng không thể xóa ký ức nhưng phải tôn trọng và biết tới cái giới hạn của nó. Khởi từ cơn dấy động của phản kháng mà ý thức được tính chất chung để đưa thi ca phản kháng vào truyền lưu. Trong cơn thử thách trước sóng gió vai trò của văn nhân là chịu đựng mọi thử thách từ bộc phát hay ngẫu nhiên đều chất chứa một tinh thần phản kháng như một đặc định. Cái tôi thi ca không còn là cái tôi chính mình mà cái tôi suy tư ‘cogito’ để không còn cô đơn chính mình vì triệt được cái bản ngã tự tại để đi vào cái ngã nhất thể thời mới thấu triệt tư tưởng. Mượn câu nói truyền thống của Descartes làm nền :’Tôi phản kháng vậy thì tôi hiện hữu’ như một thể tài để vượt thoát tư tưởng. Hiểu được thế thì không còn vướng mắc, vu vơ trong vòng luẩn quẩn hóa chất, cái thứ ‘chemical’đã không biến chất mà trở nên hóa trị; chất liệu này không thể tồn tại mà cơ hồ chỉ là thứ đạp đuôi (stepping-on), tái sinh (recycled), a-dzua, lập ngôn (repeatation). Làm thơ không chứa mấy thứ đó. Mà; cần có sáng tạo thi ca.

   Hàn Mặc Tử cũng có thể là Xuân Diệu đều có ít nhiều cảm thức sống dậy và được coi như điều không thể tin được, bởi mỗi người có một khắc khỏi khác nhau nhưng cùng một ý thức bừng dậy với một sức vương tới để đến cổng thiên đường. Coi như đây là một cơ bản tối hậu tương phản, họ muốn nêu ra nhiều lý do hoặc không có lý do và hệ thống hóa cái vô chứng cớ. Vô hình nhưng lại hữu hình. Chính vì vậy mà tạo được một sắc thái thi ca hiện đại vừa trong sáng vừa ẩn tàng với một chất liệu độc đáo. Phải chăng đây là đường lối lãng mạn thi ca mà nhà thơ thường dẫn độ qua một lộ trình mẫu mực mà họ tìm thấy trong thơ và trong cái thực thể của cuộc đời. Họ đã thần thánh hóa (deified) như lời thệ nguyện chuyển hóa từ kinh nghiệm sống cũng như trong hành động để thành thơ: ‘run như run thần tử thấy long nhan’ (HMT) hay tiếng cầu cứu bi thảm: ‘phượng trì’ rồi lại ‘phượng trì’(HMT). Tiếng thơ nghe như sống thực lời tha oán. Nhà thơ du nhập cảnh giới vào thơ bằng một cảnh trời lung linh để lãng mạn hóa câu thơ: ‘của trời cao chói lói mỗi triều ngày’ (XD) hay:‘gió vẫn đầy ngàn nội bốn phương bay’(XD).Vần điệu của thi nhân làm nên là ở cái chỗ hồn nhập hồn làm cho thơ có tính siêu thoát và hiện đại nhờ vào tư duy phản kháng.
   Siêu thực chủ nghĩa đòi hỏi một tâm hồn bung phá để thiết kế cuộc đời bằng những rối loạn bi thương; với Hàn Mặc Tử chỉ cần thấy trong từng câu thơ là từng lời mật thể đoạn trường, một phản kháng nội tại đi vào thơ bằng những gì hỏa mù mà đó chỉ là thứ ánh sáng chớp loè nhất thời –but with the blinding, momentary illumination of flash of lightning cho một âm vang phản kháng. Con đường hiện sinh khai quật những con đường mòn đã đi qua với qiu cách ước lệ là những gì khám phá trong đó. Đã nói; thi ca phản kháng là vượt thoát để đi tới tự do, tự do từ nhiều phương hướng khác nhau nhưng cùng một nhất thể. Những lối mòn khác còn in dấu trên một bình nguyên thi ca; duy trì con đường mòn đó đã không làm nên lịch sử mà chứng cớ cho sự thoái hóa, thoái trào, thoái vị thi ca; làm uổng công sáng tác thi ca, nhất là chạm phải cái vô thức của thi ca phản kháng. Tư tưởng phản kháng đã tìm thấy chân lý tuyệt đối của một nền văn hóa tuyệt đối. –Hàn Mặc Tử và Xuân Diệu là nguồn cơn phát sinh từ cảm hứng, một thứ cảm hứng duy lý tồn lưu bằng một tâm thức phản kháng, thuộc điạ vào tâm hồn thi nhân; chứng minh được những gì phơi mở cho một ước ao tuyệt vọng để rồi thể hiện qua giòng thơ phản kháng, thu nạp vào dòng chảy của hành động hoàn toàn bung phá để tìm thấy tự do vĩnh cửu. Tinh thần tự do là vượt lên trên mọi chật hẹp, nhỏ nhoi, riêng rẽ mà phải làm sao vừa đồng thể vừa nhất thể, do đó thi nhân đứng trước cao trào thi ca là tìm thấy chủ nghĩa anh hùng tinh lọc và kín đáo, một thứ phản kháng siêu hình và mầu nhiệm để đưa thi ca vào tuyệt cú ‘trùng trùng duyên khởi’; ẩn núp trong ngôn từ để biến vào thần thoại triết học mà mỗi giây phút xuất hiện là mỗi ‘đoạn trường tân thanh’. Hào phóng của thi nhân là ngữ ngôn, nó sẽ lăn vào đời như tảng băng im lặng của chịu đựng, và; sợ rằng nguy hiểm của ngữ ngôn xuất thần sẽ tác hại cho một trí tuệ. Một trí tuệ viên giác liệu cái sự cố cuộc đời có viên giác hay không? ‘Tất cả lời nói đều là thành kiến’ (Nietzsche). Cuộc sống tiếp nối đầy trắc nghiệm bởi giới hạn thiên nhiên và xã hội với tính cách ngẫu nhiên và phi lý, do đó mất tự do, thi nhân rơi vào trạng huống bi thảm: tình và đời; vì thế bùng dậy là khơi mào một tâm thức phản kháng, chung quanh là nhầy nhụa, bi đát, họ vẫn đi tìm tự do. ‘Không có tự do ngay từ thuở ban đầu’ (J.P.Sartre trong chủ thuyết Hiện sinh) Hàn Mặc Tử hay Xuân Diệu chỉ còn một thứ tự-do-chọn-lựa để thích nghi hoàn cảnh nhưng rốt ráo cũng không thoát khỏi ngục tù định mệnh . Ấy là nghiệp chướng. Thi ca phản kháng giờ đây là chân lý tối thượng để thoát ly trần thế mà đó là tất định quy luật (déterminisme-loi) mà con người phải nhận như một hàm oan, nhận lấy như khổ sai, đọa đày để rồi phải chết tức tưởi với cuộc tình (Kiều). Lập trường của thi ca phản kháng là phá chấp để vượt thoát tìm tới con đường tự do thênh thang rộng mở kể cả thi hứng bất ngờ hay đột xuất. Tất cả qui về một mối của âm vang, đồng vọng thi ca. Trong hoàn cảnh nào thi ca phải đứng trên lãnh vực tự tại, nghĩa là thống nhất tư tưởng không hệ lụy, không buông thả, không lạc hướng mà làm suy đồi tháp ngà văn thơ.
   Giống như Hàn Mặc Tử là con người phản kháng, chịu đau (đau tình và đau bệnh lý) do đó sanh ra phản kháng (thứ phản kháng chống cự định mệnh) có nghĩa là một hiện hữu lạ lùng; không ao ước, không mang sang để nói rằng thi nhân phản kháng để chống lại những gì mình đang mắc phải mà cho đó là một chứng cớ ngoại phạm, một phản kháng vô biên: tình yêu của con người –Like him; he is one who suffers and who rebelled, each; being strangely reluctant to say that he is rebelling against what he is, gives the rebel’s eternal alibi: love of mankind. Ở đời này không ai là tuyệt đối mà là ta-bà-thế-giới thì làm sao tránh khỏi nhiễu nhương sự thế. Thử hỏi như thế này: ‘Chỉ cho tôi ai là người thánh thiện / Show me one man who is good’ thời chuyện phản kháng là tất yếu; ai trong chúng ta đều phản kháng nhưng âm thầm phản kháng cơ hồ gì cho một HMT hay XD. Đó là bi kịch đời (tragic-social) để lại trong chúng ta. Mà đây là cơn dấy động triền miên, lơ lửng là một phần của phản kháng hư vô (nihilist rebellion). Do đó thi nhân phản kháng là họ tìm thấy sự bất công trong cuộc đời. Một dồn nén tâm tư để thốt trong thơ bằng một ý thức phản kháng, dù là phản kháng siêu hình. Nhưng trong phút chốc bừng sáng, trong cùng một cảm thức đó sự bừng dậy là hợp lý của sự phản kháng và có những gì không thuận lợi cho chính nó, cuồng nhiệt của nghi vấn là dàn trải những gì mà chúng ta kêu gọi để phản kháng. Hoàn cảnh này đẩy đưa những nhà thơ vào con đường bí tỉ, ngậm đắng mà thổn thức sự thế. Cái này gọi là phản kháng tuyệt đối thụ động (Absolute Negation). Trái lại; thi ca phản kháng nó bào thai trong trứng nước một thứ phản kháng siêu hình, hấp thụ một chất lượng phản kháng tinh lọc có nghĩa là phá vỡ cái vỏ cá nhân, tuyệt đối khai trừ tư duy lũng nhạm để tràn lan phát tiết. Tinh thần này vốn xưa kia u hoài, ẩn dật nay bừng dậy như dòng lũ nước bạc trôi về. Cái tinh thần phản kháng là chấp nhận đau khổ về phiá mình để cho thi ca được vượt thoát ra khỏi gông cùm, bóp chẹt tư duy cay đắng mùi đời, vát gậy tầm vông trên đồi núi nọ mà âm thầm phản kháng, một thứ phản kháng nội tại. Cái đó là phản kháng trong cơn đau và phản kháng trong nội thức ray rứt của thi nhân. Đứng trên phương diện luân lý thì thi nhân di hận điều gì mà sinh ra phản kháng? Hỏi như thế thì suốt hành trình này hoàn toàn không dính dáng gì tới phản kháng cả. Theo quan điểm đó mà xét; tinh thần phản kháng đã tràn bờ để đi ra khỏi cõi di hận triền miên. Vậy thì con người phản kháng mang thân phận gì để đối đãi với thi ca? -cái tối đa tột bực là phát ngôn qua thi tứ bằng ngữ ngôn thi ca thì họa chăng tìm thấy tư tưởng phản kháng. Con người phản kháng theo Camus: là hiện diện trước và sau cõi thiêng để nhập thể thành thi ca. Muốn tồn-lại nhân thế vai trò thi nhân là phản kháng để tìm thấy cái trong (in-itself) và cái cho (for-itself) và tại độ với nhau (common-itself) tự nó để qui hợp, phát khởi tồn-lại (existence); thì đó là thi ca phản kháng. Còn đặc câu hỏi do đâu và từ đâu có phản kháng thì cái sự này nó đã có từ khi thành hình điạ cầu; cỏ nó có mặt trên dưới mười ngàn triệu năm, nó cũng đòi hỏi phản kháng để có rung động với gió mưa, sương tuyết; nếu hiểu rốt ráo sự cớ ‘thì hồn tôi xin phản phất chốn trăng sao’(QT) là vậy! Rứa thì có chi chất vấn mà làm cho phản kháng rườm rà, đình trệ, mất chất thi ca. Vậy thì xin đừng đặc câu hỏi mà choáng đường thơ: chi-mô-răng-rứa-ri-hè không còn tại ngoại hầu tra để thẩm xét cái thứ văn chương ba trự con kè-kè, hỗn loạn tâm tư làm mất cái thiêng liêng thi ca!Xin đừng độc-tài-tư-tưởng thi ca, mở khóa để thấy tư do. Khởi từ dấy động phản kháng, nỗi thống khổ tự thức đứng trước cảnh bi thương, đoài đoạn, phân ly mà cần có một tư duy riêng tư cho cái gọi là ‘cogito’ (Descartes) thì phản kháng thi ca mới sống dậy, không còn lam lũ, tù ngục, đọa đày; chấp nhận thương đau để cuộc cách mạng thi ca đi vào miên viễn. Đó là cõi chung mà mỗi thi nhân phải đương đầu mới thấy được giá trị của phản kháng. Còn bằng không thì ngóng cổ chờ mạ đi chợ về thì má sưng; may ra có kẹo để chấm mút…

   Cũng vì vậy mà nhiều thi nhân cận đại đã tiếp thu tinh thần phản kháng, lãnh hội ý chí bừng sáng để thênh thang tìm đến tự do của thi ca, nghĩa là phá vỡ hàng rào cựu ước để có một tân ước thi ca sống dậy. Điển hình ở đây những nhà thơ siêu thực: Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền và Bùi Giáng. Rốt ráo mà nói họ là những anh hùng thi ca đương đại; đầu sóng, mũi gió, phát tiết trước hoàn cảnh nhiễu nhương của vận nước, cái vận đó đã đánh đổ thi ca phản kháng một cách đau đớn vô cùng tệ. Nhóm phản phé nhốt thi tứ vào gông cùm chính-trị-thi-ca. Người yêu thơ đã lãng quên vì vận nước hay vì một nguyên tố nào đó; dần dà thi ca phản kháng thức dậy qua một dặm trường ngủ quên. Do đó phản kháng siêu hình đồng khởi để thi ca phản kháng đứng dậy: ‘mặt trời mọc’ rồi ‘mặt trời mọc’ rồi ‘rưng rưng mùa hoa gạo’cho ta thấy được phản kháng trong ‘như băng trường tình’ của Quách Thoại.Thi sĩ chết trẻ (27 tuổi) nhưng âm vang sáng tạo lừng lẫy bởi biết trọng dụng đường lối thi ca phản kháng. Quách Thoại cùng những văn thơ khác sáng tạo được nguồn sáng tạo vô biên. Quách Thoại chứng minh những gì đã che đậy phản kháng, để lộ sau đó một thứ chứng tỏ vô vị. Ở trường hợp khác; không biết có hay không có, lắm kẻ lại cố tình lãng quên một tư duy phát tiết đầy nồng độ hoặc cho rằng nhà thơ quá khoa trương ở chính mình, nhưng không ngại luồng dư luận đó, thi sĩ họ Quách muốn chứng thực lời thơ của mình bằng một thông điệp bừng sáng giữa kỷ nguyên này. Nói tha tội và đả thông tư tưởng với Quách Thoại; hình ảnh nầy là gợi lên cái bất hạnh của hoàn cảnh, của cuộc đời dành cho thi sĩ. Mà ở đây chúng ta phân tích và tìm thấy cái chất sáng tạo thi ca chớ không ngoài một ý nghĩa nào hơn mà là một đam mê không vị lợi của một ‘poésies’. Quách Thoại làm cho chúng ta hiểu thêm rằng phản kháng của tuổi thanh xuân là hào phóng.-He makes us understand that rebellion is adolescent showing. Cái thứ ánh sáng ‘chói lọi’ đó đã đánh đổ, che đậy của vũ trụ; nhà thơ chọn lựa điạ ngục trần gian và tàn phá còn hơn là chấp nhận cái sự cớ không thể coi đó là chính yếu mà làm cho họ những gì mà họ hiện diện trong một vũ trụ như thể là. –‘Illuminations’ beating against the confines of the world, the poet chooses the apocalypse and destruction rather than accept the impossible principles that make him what he is in a world such as it is. (Metaphisical Rebellion. by Albert Camus) Chắc chắn một điều cảm thức thi nhân nằm trong đó, đó là lòng thương xót cho chính mình. Tại sao? Cái đó là cảm thức đọng lại trong tâm hồn thi nhân được tìm thấy. Chớ hỏi tại sao thì sao tại có thi ca phản kháng. Làm thơ là nhập hồn chớ thấy cái chi-chi sinh tình mà thành thơ cái đó gọi là phiêu lưu chữ nghĩa không chừng biến mình thành ‘vagabond-poetry’! Nhưng lòng xót thương đã gạ gẫm, khinh rẻ, không được phép và không thừa nhận; những thứ ấy đã xáo trộn tâm tư để rồi đưa tới một cảnh giới xa lạ. Đó là một trong những lý do đòi hỏi phải phản kháng. Hàn Mặc Tử hay Xuân Diệu phản kháng vì va chạm thực tế phủ phàng. Chính cái đó đem lại phản kháng vô biên (rebell’s eternal alibi) cho một chứng cớ yêu cầu: tình yêu của nhân loại. Không thể có sự đền bù cho bất công bởi một thăng tiến công lý, ngược lại chúng ta chấp nhận sự ngập chìm trong một thứ công lý không công lý; cuối cùng rồi chúng ta rơi vào lầm lỗi với cái vô hiệu hóa để mà tránh xa (annihilation). Nhưng rồi; người ta sẽ tuyên bố và sáng tỏ rằng cái sự cớ siêu hình hay phản kháng đều là thứ tri thức vô tội vạ mà chỉ đổ thừa, đổ lỗi lên đầu thi nhân như bệnh hoạn phong cùi, thất tình, trù dập đối xử như kẻ phạm tội, xa lánh trần tục và nằm yên bên nấm mồ thầm kín giữa đời này; để rồi Thượng đế phạm tội ác ‘God is then the criminal’ chính trong tôi ác Thượng đế đứng sau đó mà không một ai thấy cái đau đớn của thi nhân. Ngợi ca chỉ biết ngợi ca chớ không biết nguồn thơ là xuất xứ từ phản kháng mà ra. Vì thế phải trấn an tâm hồn để thấy tinh thần thi ca phản kháng nằm trong đó. Bởi vậy; thi ca có cái siêu lý của thi ca thời mới tồn-lại với nhân thế.
   Từ cái lãng mạn của Xuân Diệu đã biến thể trong một tâm tư thoát tục, khơi động một tâm thức phản kháng không cho thấy sự thật của tiến trình, ngoại trừ những thể cách thơ như một cách riêng của thi sĩ. Xuân Diệu thức tỉnh với ít nhiều cải tiến trước mệnh hệ con người, mệnh hệ với thiên nhiên. Xuân Diệu nhìn Thượng đế ở ngôi vị như nhiên trong hình ảnh con người với cái gì cao qúy vàng ngọc ‘mẹ là trời con là hạt sương rung’(XD) Đó là cái nhìn tuyệt đối không còn nghi ngờ tuyệt đối, bởi; khác với Nietzsche ở chỗ ‘Thương đế không chết / God is not dead’ nhưng Người đã đọa ngọa / He has fallen. Mà gìờ đây Hàn Mặc Tử cũng như Xuân Diệu là mặt đối mặt với sụp đổ thần linh / face to face with the fallen deity. Bi thảm nầy đã có đôi phần tương quan với Quách Thại, Thanh Tâm Tuyền và Bùi Giáng. Cả ba thi nhân là một đồng thể của nhứt thể. Bởi; diện tích của tâm hồn tùy thuộc vào mức độ ưu ái của nhà thơ với cuộc đời: ‘lòng hữu hạn ước mơ thương đời vô hạn’ (QT). Thượng đế chỉ là hình tượng, lòng tin ở họ hiện ra nơi đây như một qui ước, tục lệ, họ không vin vào Thượng đế mà coi đó là mệnh hệ, mệnh hệ của tử sinh, của lưu đày, của khủng hoảng tâm thức, họ là kỵ sĩ không đầu giữa rừng gươm / cavalier headless in the black cloak. Hẩm hiu thay! / accursed ! Có thế mới xuất thần, mới ra hồn thi sĩ (Bùi Giáng) hay lấy hình ảnh đó mà ăn diện với siêu hình? Không thể võ đoán cho thi nhân: bộ mặt đó phủ vào nhiều thứ mặt của con người, nỗi buồn đó là nỗi đau thê thảm của vũ trụ. –A face that is more than humam, sad with the sadness of the universe. Thời làm đẹp để làm chi? Ta điên cho đời thấy ta đẹp, là đỉnh cao nhân thế(?) Mà đẹp chỉ là hành động tự sát / beautiful as an act of suicide. Vì thế Thanh Tâm Tuyền: ‘đau như đạn xuyên giữa tim mình’ (Phiên Khúc 20-TTT). Cho nên chi trong một bài thơ kịch ngắn: ‘Khai Từ của Một Bản Anh Hùng Ca’(TTT/1957) là chứng tỏ hùng hồn chất liệu hiện sinh mang chất phản kháng, phản kháng thánh ca, phản kháng của những kẻ đau khổ, phản kháng cuộc đời, phản kháng hư vô là những gì Thanh Tâm Tuyền gắn bó với Sartre, với Rimbaud với Dostoevsky ‘ngoài trời chỉ còn trời sao là đáng kể’(TTT). Những câu thơ trong kịch thơ Thanh Tâm Tuyền là cái ‘éclaircir de l’Être’ cái trong sáng phát tiết hiện hữu là nhập cuộc cùng Nguyễn Du, một tâm trạng đìu hiu, đau khổ, mượn ý dẫn lời là lối thoát tục thi ca của Thanh Tâm Tuyền, một thiết kế hiện sinh trong phản kháng, một ngữ ngôn thầm kín nhưng chan chứa nỗi lòng ‘tôi chờ đợi/lớn lên cùng giông bão/hôm nay tuổi nhỏ khóc trên vai’(TTT). Thanh Tâm Tuyền và Nguyễn Du dự cuộc truy hoan của ngôn từ phản kháng và cùng nhau hòa âm điền dã cho hồn thanh cao. Nhưng ở đây thi nhân không tỏ cái ăn năn hối cải để phải xưng tội với thi ca mà xưng ở đây là lời xưng của thi ca phản kháng. Cái ‘Poésies’ mới là cái đáng nói vì nó đại diện cái gì không thuộc ‘cái tôi’ mà đại diện của tâm trạng chung, cái đáng nể gấp bội (redoubling) là lòng ao ước thâm hậu để chuộc tội với nhân gian. Tinh thần đó phản ảnh rõ nét qua một tư duy phản kháng; thế chấp vào đó như lòng ước ao, ham muốn cho một bày tỏ giản đơn, và; như thế thái độ thi ca tư tưởng tỏ ra khinh đời qua cái khùng khùng, dật dật của Bùi Giáng, biết đâu thay đổi tánh khí thi nhân; điều này cần phải xác định rõ ràng hành tung ‘khật khờ’ là hành tung của phản kháng hay hành tung của người ‘mental illness’ hay đã phản kháng có từ trước cho tới khi nhập cuộc hóa thân của Bùi thi sĩ? Thi nhân hòa nhập với đời, những uẩn khúc cô đơn là tâm thức bùng dậy để bày tỏ tâm thức phản kháng. Thi ca phản kháng ở Bùi Giáng là thi ca tính dục hơn là tình dục, bởi; thi sĩ cô đơn cho nên phát tiết qua thi ca vừa hài hòa vừa thỏa mãn: ‘vén quần phong nhụy cho tà áo bay’(BG) một thứ thi ca ăn ngay nói thật, cái thật phản kháng vì mấy ai phản kháng cái thật ‘lọt cồn sử lịch mai sau’ (BG). Với những tập thơ phát hành trước khi thi sĩ dấn thân vào đời, phá chấp tất cả những thứ ngổn ngang, gò động để đạt cái tư duy phản kháng và đề cao tuyệt đối nghi vấn (absolute negation) có nghĩa rằng thi sĩ hòa nhập vào những hồn tử sĩ qua những lý thuyết khác nhau để có một tuyệt đối đồng tình (absolute assent) và là thứ phản kháng bất thuận, là kết quả của một thứ phản kháng bất tuân phục. Thi nhân họ Bùi muốn có một thi ca vượt hẳn cả trí tuệ (ở những giai đoạn cuối đời làm thơ) nhưng; rốt ráo những giòng thơ đương đại của Bùi Giáng là ‘vi vu tiết điệu vần xoay’ (BG). All this with total lucidity! Đó là những gì phát tiết trong thi ca phản kháng. Ở đây chúng ta đã tìm thấy đặc chất thi tứ trong thi ca của những thi nhân nói trên với tiếng thốt bi thảm của phản kháng phát từ tâm can.

   Thi ca phản kháng đã cho chúng ta một nhận định tinh tế thế nào là thi ca và thế nào là phản kháng dẫu chưa trọn gói tâm tư nhưng ít ra cũng để lại những cảm thức sâu đậm của từng thể điệu thi ca. ‘Poésies’ đã cung cấp ít nhiều chất liệu cho thơ bởi thiên kiến của ảo tưởng hoặc nặng suy tư để đưa dẫn văn chương đến một tư thế cách riêng, tuồng như muốn giữ điều này mà bỏ điều kia và coi đó như một lý thuyết chủ quan mà triệt tiêu tư duy khách quan; mâu thuẩn đó là những gì phản lại thi ca. Vậy thì ‘poésies’ là cái chi-chi? Nó chỉ là lời dẫn nhập cho một đề tài siêu lý thi ca là những gì dự phóng vào tác phẩm tương lai (future work) để hài hòa nhân thế và đó cũng là một tư duy thâm hậu dành cho thi ca của thứ văn chương phản kháng –We can only surmise the contents and which was to have been the ideal end-result of literary rebellion. Nhưng; đó không phải là vấn đề đưa ra mà là một lý giải để minh chứng vấn đề thuộc cương lĩnh khác của những gì tầm thường vì sự cớ tầm thường mà đẩy ta vào một cảm hứng nhạy bén để nói lên được tính thi ca phản kháng.Vượt thoát để đến bờ siêu nhiên (transcendent) và đi vào cõi phi (extraordinarily) của thi ca. Chúng ta phải nhớ rằng; mỗi khi nói đến phản kháng, siêu hình thời đó chỉ là thứ lượt là son phấn chữ nghĩa, là kẻ tôi đòi với văn chương và điều đó vẫn coi như đứa con vô thừa nhận; họa hoằng mới được thương xót nếu hành xử một lòng trung trinh với thi ca. Nhưng mâu thuẩn giữa cái nọ với cái kia vẫn còn dai dẳng không chịu lãnh hội hay tiếp thu mà đứng ngoài vòng cương tỏa của cái-tôi-tự-sát vì con người chưa chịu đả thông tư tưởng, bởi; xung quanh là ruồi muỗi tạo ra mâu thuẩn giữa văn chương và thi ca; cái sự cớ như thế là tuyệt đối nghi vấn, thời phải trải nghiệm qua đoạn đường thử thách, một khởi điểm ban đầu để bung phá cái tồn-lại mới thành tựu một thi ca phản kháng không vướng bụi bặm phi lý trần gian.Theo lý thuyết của Descartes;’Cái phi lý trong bản chất vốn đã có mâu thuẩn’. Thế thời thi ca phản kháng là nạn nhân phi lý? để rồi cũng xoáy trong ngọn gió trào lộng đó! Không thiên vị và chẳng phải tách rời giòng thi ca bất tận; chỉ đòi hỏi ở thi nhân một sáng tạo mới. Ngẫm câu nói này:
   Những bậc tài hoa chỉ một lần xuất thần tuyệt đỉnh và một lần vô vị vô lai chẳng là gì.”Every genius is at once extraordinary and banal” (Metaphysical Rebellion by Albert Camus). Hiểu được, nhận ra được thì phản kháng không còn gì là trừu tượng, chi chít, u mê, quẩn trí mà: ’tôi suy tư cho nên chi tôi tồn-lại’ ./.

(ca.ab.yyc.trăng non.11/2014)

TÌM ĐỌC THÊM :‘Tư Tưởng Phản Kháng’của võcôngliêm trên mạng báo và giấy hoặc email theo điạ chỉ để có thêm những bài tương quan.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 16.12.2014.