Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh vẽ :‘Đêm Ma Trơi / Halloween Night’ của Võ Công Liêm




LUÂN LÝ HỌC







Đông Tây xưa nay đều lấy luân lý đạo đức làm chuẩn; đó là lý thuyết làm người. Không những về mặt tâm lý nhân văn mà còn là một triết thuyết thường đem ra luận bàn để tìm thấy cái đức lý tối thượng như sắc luật, tuy không có văn bản trong luật định nhưng có trong luật định làm người; để phán quyết giữa chánh và tà, bởi; luân lý học là một viện lẽ cho một luật tắc mà con người không thể vượt qua hay vi phạm. Ý niệm này không phải giới thiệu đến cái sự hoàn toàn tuyệt đối hay lấy từ ngữ của tiết nghĩa, nhân đức / virtue và chân phúc / happiness được nói đến như một chứng tỏ minh bạch và thiết thực, nhưng; về sau người ta đã thiết kế bằng một cảm thức chung gần gũi như là một nhận thức rõ ràng để từ đó được phát huy trong khuôn khổ của nền luân lý học / Ethics. Một nền luân lý như nhiên không phân biệt như một khiá cạnh giáo huấn dù ở bất cứ chủng tộc nào. Luân lý học không phải là một khuôn khổ thích hợp với một chứng tỏ trung thực, cho dù được coi như là một sơ yếu cấp thời có nghĩa là sẽ biểu lộ được. –The Ethics does not fit that frame with perfect fidelity, as even a cursory reading will reveal. Luân lý học chỉ dành cho khoa học thực hành, mà còn thuộc về chính trị học. Trong tập Chính trị học của Aristotle / Ethics Aristotle’s Politics*; tập luận án mà ông đã dày công nghiên cứu trong một cảm thức qua từng phân đoạn luận khác nhau, một thứ khoa học chính trị với một cảm nhận gắn liền giữa con người và xã hội liên can đến đến nền luân lý học.Trong tập Luân lý học; Aristotle đã phân tích rành mạch và được coi như những gì là, tất cả là và một sự thật bằng phẳng không thiên vị. Bởi; thực hành khoa học chính trị không thể xem là dễ dàng để học tập một cách riêng biệt, ngay cả những người khác đi nữa hoặc từ những gì thuộc lý thuyết khoa học. Cho nên chi luân lý đem lại cho con người một tinh thần nhân nghĩa lễ trí tín, có phẩm trật từ trong gia đình đến xã hội, nhất về mặt chính trị là cần thiết.

   Tư tưởng của Aristotle sắp xếp bằng một cảm tính thuộc hệ thống triết học, không những kỹ lưỡng mà đặc vào đó một cách dễ dàng cho việc giáo huấn, tỉ mỉ, một số lượng hết sức đầy đủ, kiên trì, một số lượng khác liên kết để cung ứng một khuôn khổ cho lý luận. Khuôn khổ đó nhận ra một cách trong sáng ở những đầu múi khác nhau qua việc định lượng giá trị của nó hoặc giảm đi sự cưỡng bức, đòi hỏi, yêu cầu mà ở một vị trí khác cho việc mở ra đây bằng những cuộc tranh luận đánh giá`. Nhưng; bên trong của khoa luân lý học có một hệ thống trông có vẽ mạnh về sắc luật nhưng lại mất đi tính tự nhiên. Aristotle nói: ‘chức năng, bổn phận của chúng ta là trở nên người lương thiện hoặc đó là thành quả tốt đẹp nhất của nhân loại. Lương thiện là hạnh phúc, hạnh phúc đó là một tác động thuộc về phần hồn trong một hài hòa với đạo đức’ “Our task is to become good men, or to achieve the highest human good. That good is happiness and happiness is an activity of the soul in accordance with virtue”.

Luân lý học và Luân lý biến chất / Ethics and Meta-ethics.

   Bất luận tác phẩm nào nói về triết học luân lý là có trách nhiệm, bổn phận chứa đựng một sự phán xét của hai thể loại khác nhau trong đó. Nó chứa đựng một luật tắc; mặc khác nó minh định một cái gì chứng thực về sự phán xét cho luân lý đạo đức. Hiệu năng đó chắc chắn là cho nhân loại hoặc mẫu thức của con người, hoặc hành động hay là thể loại hành động, là tốt hoặc xấu, đúng hay sai, có đức hay thất đức, tuân phục hay bất tuân; cứ như thế mà luân hoàn hay nghịch lý. mặc khác ; sự lý đó chỉ là ý niệm thường được dùng như chứng tỏ những gì đã thành văn, thành luật, nó chứa ở đây lời khuyên bảo; đó là những gì một đôi khi gọi là luận lý hợp lẽ (logic) của diễn từ về luân lý đạo đức (moral). Khởi từ khi có cái gọi là Luân lý / Ethics. Cùng lúc đó Aristotle đã gợi lên ý nghĩa của luân lý đạo đức là mang tính chất ‘lương thiện / the good’. Do đó đưa ra hai thể loại khác nhau về mặt phán xét. Thứ nhất gọi là ‘đạo đức / ethical’ và mặt thứ hai thì gọi là phi luân lý hay còn gọi là ‘luân lý biến chất / meta-ethical’. Dĩ nhiên là khác nhau, bởi mỗi thứ nó chứa đựng lối hành xử khác nhau trong nghĩa cử của luân lý.
   Điều này cũng đáng lưu ý những gì Aristotle đã tiếp thu trong một vị trí cao độ, không giống như những nhà tư tưởng dựa vào thuyết hiện sinh để lý luận: luân lý; ông nhấn mạnh: không có nghĩa là giảm thiểu để sắp xếp vào quy trình tiến hóa vũ trụ, tất cả những điều đó được diễn tả rõ ràng, xác thực như phải chấp nhận. Nếu những gì không gắn liền vào nhau thời phải rời xa để chúng ta mới thỏa đáng hoặc chúng ta sẽ có thể tin cậy vào một vài thể thức của trực giác luân lý / moral intuition. Bởi; trong sự thật của hiện hữu chính nó không thể là lời giáo huấn một cách rõ ràng về đạo lý. Nó có một quan tâm duy nhất với những gì, và; chúng ta cũng không thể bắt nguồn vào đó để ép buộc từ những chỉ định của sự thật hiện hữu mà là liên can đến luân thường đạo lý –Ontology itself can not formulate ethical precepts. It is concerned solely with what is, and we can not possibly derive imperatives from ontology’s indicatives- ethical implication- Tuy nhiên; điều đó cho phép chúng ta bắt chụp thoáng qua về những thể loại của luân lý, sẽ được mô phỏng như trách nhiệm đối đầu với tình trạng hiện thực của con người. Sự thật của hiện hữu đã lột tả sự thật đến với chúng ta, trong dữ kiện; nguồn gốc và giá trị tự nhiên đã sanh ra luân lý đạo đức. Vậy cho nên phân tâm lý hiện sinh là được miêu tả một thứ luân lý, đạo đức; vì nó đã giải tỏa chúng ta để đi tới cái nghĩa lý của luân thường đạo lý; đạo-phải-đạo-phi-thường-đạo (Lão Tử) của những phương án khác nhau giữa loài người. Chỉ định cho chúng ta thấy những gì cần thiết phải lìa bỏ. Một tâm lý có lợi ích đi theo với những gì thực dụng về tiết hạnh của con người; bộc lộ đến chúng ta tất cả tư duy, tánh tình của con người. Đạo đức con người được phân biệt hai phần. Tâm lý đạo đức và hành vi đạo đức. Tâm lý nói lên cái hạnh bên trong để làm nên cái hạnh bên ngoài. Hành vi thì bao gồm giới luật và việc làm công đức. Hai cái này nhập vào nhau để trở nên cái đức lớn. Công đức khác đạo đức bởi; đạo đức trong kinh điển chỉ là từ ngữ (thiện pháp, bất thiện pháp, bạch pháp và hắc pháp) Hắc-pháp không xa lạ với phi-luân-lý hay còn gọi là luân-lý-mất-chất (meta-ethics). Như vậy đạo đức luân lý là yếu tố sống còn của nhân loại. Ở đây còn có nghĩa khác ở cõi ngoài của vị kỷ và vị tha, ở cõi ngoài của lối đối xử gọi chung là vô tâm –These meanings are beyond egoism and altruism, beyond also any behaviour which is called disinterested. Con người được tạo thành chính con người trong cái đặc quyền của Thượng đế và lòng khoan nhượng hiện ra để thấy được cái tư kỷ của con người; nhưng minh định được đâu tà đâu chính, bởi; cái chung chung đó khó mà đo lường được giữa thực thể của con người và tự-thể (self-cause) nghĩa là nó nằm trong cảm thức thông thường của nguyên nhân thuộc tâm lý và hiệu năng. Đối với con người thì đó là phạm vi nguyên nhân là chủ đề, một thứ trống không của số không đã được xác minh của cái gì cuối cùng như cái nghĩa dành cho chặn cuối; mà những thứ đó như hiện hữu; người ta có thể thốt lên rằng con người thất bại ở chính con người trong cái qui trình tự-thể thì may ra còn tồn lưu nhân thế; cái sự tồn lưu là đam mê mà chỉ còn một cách chọn lựa thỏa mái giữa những chọn lựa khác của lòng đam mê. Ngoài nhiệm vụ xử thế, hành thế đó là nguyên nhân tự-thể của chất sắc đạo đức. Theo Lão Tử trong ‘Đạo Đức Kinh’ cho luân lý đạo đức là con đường, lối về (Way) chính lối đó là Đạo, đạo ở đây là nhân đức (virtue) chớ không phải đạo bắt nguồn từ vật chất là nguyên nhân cấu tạo nên vũ-trụ-bản-thể của tự-thể/self-cause. Cho nên chi; đạo là chỉ cái Không thường hằng và cái Có thường hằng để xây dựng đạo lý làm người; đó là yếu tố chính làm nên luân lý đạo đức. Vậy thì phân tâm học tồn lưu là miêu tả luân lý vì nó buông thả chúng ta về cái nghĩa luân thường đạo lý qua từng phương án khác nhau của con người –This existential psychoanalysis is moral description, for it releases to us the ethical meaning of various human projects. Cái nghĩa đó là lột trần cho chúng ta thấy cái nghĩa suy tư thuộc về tánh khí của con người mà ra. Nhưng; chính yếu của tồn lưu phân tâm học phải làm cho chúng ta từ bỏ cái tinh thần khắc khe đó / spirit of seriousness. Cái tinh thần khắc khe này có hai bề mặt: nó nghĩ đến giá trị như một nghĩa cử cao qúy có tính cách độc lập chủ quan con người và chuyển đổi đến giá trị phẩm lượng của ‘lòng ao ước / desirable’ lấy ra từ ý thức của sự-thật-hiện-hữu-nhân-loại (ontological) để thiết kế mọi sự vật như một cấu thành từ vật thể. Tinh thần khắc khe là gì?. Thí dụ: chén cơm là lòng ao ước bởi nó là cần thiết cho sự sống là vì hạt gạo nuôi nấng tôi –rice is desirable because it is necessary to live and because rice is nourishing me. Kết quả đó do từ tính nết đòi hỏi nghiêm trọng mà đó là quy luật thường tình ở thế giới này; cái đó gọi là tự-thể ký hiệu giá tri của sự vật yêu cầu phải có, cái đó nằm trong thói tính thực nghiệm. Chẳng hạn không có rượu để say (drunk) là tôi chết. Vậy cho nên chúng ta đã trải nghiệm được một phương án về luân lý nhưng lại đồng tình vào thói hư tật xấu của niềm tin bất chính (bad faith). Vì; những thói tính đó nằm trong luân lý đạo đức, những thứ đó không những xấu tính mà còn xấu hổ tự chính nó, để rồi không dám nói tới luân lý đạo đức vì bản lai chứa những thứ xấu xa lộ từ bên trong ra bên ngoài; cái thứ đó gọi là luân lý mất chất (meta-ethics). Bởi thế luân lý là đạo, đạo là luật định giữa con người với con người; có phẩm trật, cung cách xử thế đúng đạo lý nhân tâm, nếu đứng ngoài quy luật tự nhiên con người trở nên vô-đạo, đạo thường tín đó là đạo can thường luân lý. ‘Thượng bất chính hạ tất loạn’ là nằm trong phạm trù luân lý đạo đức mà ra.
   Phân tâm học tồn lưu chính là sự hiện hữu của luân lý, phân tích để lột trần thực chất con người, cái đó là theo đuổi, truy tầm cái đích thực luân lý đạo đức qua từng vai trò của con người. Anh quân là tư chất của đạo đức xử thế, u quân là tư chất giả hiệu của cái thứ đạo đức giả, một thứ phi đạo đức cấu thành từ tư duy để hành xử. Luân lý đạo đức không còn trên lãnh vực cá thể mà đi vào một đường xuyên tuyến qua tôn giáo để trở thành giáo điều, giáo điều không cải thiện con người mà con người cải thiện từ ý thức trong sáng, phân biệt được đâu tà đâu chính, đâu đạo đức và đâu thất đức, chủ trương này đi lần vào chính trị học để làm nên một chính thể tồn lưu. Bởi; không thể che dấu mặt thực của luân lý, đạo đức. Đó là hiện hữu phân tích tâm sinh lý; tiếp tục vạch trần bản chất con người với mục đích đích thực của việc truy tầm, là những gì hiện hữu được coi như là tổng hợp hoà nhập của trong-tự-nó với cho-tự-nó. Phân tích tâm sinh lý hiện hữu tồn lưu là tiếp tục tiếp giáp tới con người với con người trong cái thiết tha của con người –Existential psychoanalysis is going to reveal to man the real goal of his pursuit, which is being as a synthetic fusion of the in-itself with the for-itself; existential psychoanalysis is going to acquaint man with his passion. Biết rằng; con người hướng tới việc truy tầm nguồn cơn tự sự của luân lý như đây là một hiện hữu chân thực và phạm vi này người ta coi như chiếm cứ phần nào của sự nhận biết từ tri giác nhận thức, chế ngự được những sự kiện thích đáng vì họ làm chủ được những gì lợi ích cho chính họ và cố gắng thực hiện cho kỳ được những gì thích hợp với hoàn cảnh của những gì hiện hữu trong chính nó / being-in-itself . Nhưng phạm vi đó; ở đây chỉ là một nỗ lực chia sẻ vào một tinh thần khắc khe và những gì còn lại vẫn còn đặc trong niềm tin mà họ cho rằng nghĩa cử ấy như là sứ mệnh thuộc về tác động của hiện hữu của những gì gọi là trong và cho tự chính nó / in-itself-for-itself để viết lên cái đặc để cho luân thường đạo lý; những thứ ấy tợ như khiển trách, lên án, buộc tội để đi tới tuyệt vọng, vì rằng; họ là những người khám phá ở cùng một thời điểm mà đó chỉ là hành động tương đương của cái gọi là tự-thể / self-cause gây ra bởi nguyên nhân chính nó và trường hợp này nó sẽ là chủ nghĩa thụ động, ngấm ngầm cô độc của những kẻ nghiện ngập đều do từ thói tính mà ra và đưa tới tiền lệ vượt quá tính tự phụ kiêu căng của những nhà lãnh đạo quốc gia –in this case it will be the quietism of the solitary drunkard which will take precedence over the vain agitation of the leaders of nations. Nhưng sự-thật-hiện-hữu-nhân-loại /ontology và phân tâm học tồn lưu / existential psychoanalysis là hai sự kiện cần phải bày tỏ, bộc bạch đến tác nhân của đạo đức thời mới có một giá trị tồn lưu và sống còn nhân thế. Là những gì tìm thấy trong đó sẽ trở nên ý thức của tự-nó và sẽ biểu lộ tự-nó trong nỗi niềm tự-nó như một nguồn cơn tự sự về giá trị và hư không bởi những gì đã có thuộc về thế giới hiện hữu. Dù cho tới nay có thể là một chọn lựa và có thể là chối từ bởi ‘tham-dục / libitum’; luận đề này là một tổng hợp của tất cả chọn lựa, điều này cũng có thể có một giá trị của nó hoặc một tư duy hiện diện của ‘tự-thể-nguyên-nhân / ens causa-sui’. Trong tất cả ngững vấn đề nêu trên là những gì gắn liền trong tinh thần và hành xử của con người; đó là nguyên tố, đặc chất của luân lý đạo đức và cũng không phụ thuộc vào những phản ảnh nào khác mà đòi hỏi sự thật hiện hữu và chỉ cần một giải đáp cụ thể vào cái việc luân thường đạo lý là chính yếu. Chúng ta sẽ hết lòng đến những gì của luân lý đạo đức là việc làm cho mai hậu.

   Nói chung; khoa luân lý học và và triết lý luân lý đạo đức / The Ethics and Moral Philosophy là hướng con người trở nên lương thiện,xa lánh thói hư tật xấu làm hư hại niềm tin.Từ bỏ vị kỷ để còn trong chính nó / in-itself và cho chính nó / for-itself là những gì chúng ta để tâm theo dõi để có một nhân loại lương thiện tột đỉnh (the highest human good).Tuồng như; ở đây có hai cái lẫn lộn giữa đạo đức: một tỏ ra đạo đức hiểu biết và một giả vờ ngu xuẩn trước vấn đề; ở hoàn cảnh này có hay không có luân lý đạo đức là việc làm của triết học luân lý hoặc là không có luân lý triết học. Chắc chắn rằng; nếu ở đây được coi như chủ thể cho tất cả thứ luân lý triết học, thời chính cái đó là chủ đề minh bạch nói cho chúng ta biết những gì là lòng lương thiện của con người và thế nào là thành quả chúng ta làm được; ấy là những gì đem lại lương tri nhân loại (human goodness). Tuy nhiên vấn đề này chưa hẳn là hoàn toàn đơn giản qua những gì thuộc tư tưởng gia hay do phong tục tập quán đề ra, kể cả Aristotle nói về triết lý luân lý nhưng đừng qui vào triết thuyết có thể đưa đến sự hiểu lầm về phân tích dưới dạng thức trừu tượng và siêu hình mà đảo lộn giá trị tuyệt đối của nó. Cơ bản của luân lý học đòi hỏi ở một lương tri tốt đẹp đáp ứng qua lối hành xử đúng chức năng làm người, đưa tới một xã hội có tôn tri trật tự. Lý lẽ đó gói trọn trong thuật ngữ của triết học luân lý là :’tề gia trị quốc bình thiên hạ’ đừng để rơi vào ‘thượng bất chính hạ tất loạn’, nguồn gốc khởi từ đó: trong chính nó / in-itself và cho chính nó / for-itself đã hàm chứa rộng rãi ý nghĩa thế nào luân lý và thế nào phi luân lý của con người và xã hội nhất là bộ môn khoa học chính trị. ./.

(ca.ab.yyc . 27/10/2014).

* Aristotle (384-322 BC) Triết gia, Lý luận gia, Chính trị gia Hy Lạp.

SÁCH ĐỌC:

‘The Ethics of Aristotle’ Trans. by: J.A.K. Thomson. Penguin Books Ltd. London. England 1976.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 22.11.2014.