Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Cát Bà


DANH LAM

THẮNG CẢNH VIỆT NAM





CÁT BÀ



Hòn đảo nằm ở cực nam vịnh Hạ Long là đảo Cát Bà. Đảo nằm ở phía đông thành phố Hải Phòng, tâm đảo ở khoảng vĩ độ 20,48 Bắc, kinh độ 107 Đông, diện tích khoảng 277km2, gồm một đảo lớn và 366 đảo nhỏ rải rác vây quanh tạo thành một vùng nước biếc non xanh như Hạ Long thu nhỏ.

Từ bến cảng Hải Phòng theo đường thủy xuôi dòng sông Cấm qua kênh Đình Vũ, sang sông Chanh, qua Ninh Tiếp, Cát Hải là tới nơi.
Nếu đi đường bộ ta có thể theo con đường xuyên đảo dài trên 30km mới hoàn thành nối liền thị trấn Cát Bà qua Hiền Hào tới Phú Long. Từ đó vượt phà qua đất liền, thông suốt với Cát Hải, Đình Vũ và Đồ Sơn, tạo nên một tuyến du lịch rất đẹp.
Đảo Cát Bà có nhiều thung áng và núi cao, nhiều rặng núi nhô hẳn ra biển, với những vách núi dựng đứng, tạo thành những vũng nhỏ,vịnh nhỏ, những bến cảng, khu neo đậu thuyền rất an toàn, kín đáo.
Trong những ngày gió bão, Cát Bà trở thành nơi các tàu thuyền tụ tập về tránh gió, nhất là bến Cát Bà ở về phía đông nam đảo là nơi vừa rộng vừa kín đáo, chung quanh có núi đá như một vòng tay giang rộng che kín cho tàu thuyền trú đậu.
Ven biển phía nam và phía đông là một chuỗi bãi biển cát trắng phau, mịm màng bên làn nước xanh trong suốt. Có bãi trông tựa như một chiếc võng lụa trắng tinh trên mặt biển, hai đầu mắc vào hai vách đá. Nhưng có bãi tối phải bấm đèn qua hang động ta mới ra tới biển, cảnh quan cực kỳ thanh tú, như thạch động ở Hà Tiên.
Có những đảo xinh xinh ăn sâu vào những động nhỏ. Những vịnh Hiền Hào, Xuân Đám, những bãi biển Phù Long, Cát Cò, Cát Dứa là những bãi tắm lý tưởng. Đỉnh núi cao nhất tại đây là đỉnh Cao Vọng cao hơn 300m, trên có nơi bằng phẳng, gọi là "bàn cờ tiên".
Đảo Cát Bà có rất nhiều hang động đá vôi với muôn ngàn hình dáng khác nhau, trông rất ngoạn mục, đặc biệt nhất là một hang đá cẩm thạch. Đảo Cát Bà ngày nay là kết quả của một quá trình kiến tạo lâudài, phức tạp.
Với vị trí đặc biệt của nó, Cát Bà là khu hệ địa lý sinh thái tổng hợp tự nhiên, đa dạng và độc đáo: thảm rừng mưa nhiệt đới trên núi đá vôi xanh tốt quanh năm, những khu rừng nguyên sinh có nhiều động thực vật quý hiếm, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái biển, hệ sinh thái ao hồ, cho nên cảnh quan thật đẹp.
Rừng ở đây rất nhiều. Càng đi sâu vào giữa, rừng càng già, cây rừng càng cao. Cát Bà có nhiều cây quý, khu rừng nguyên sinh thu hút sự quan tâm của nhiều nhà thực vật học trên thế giới đến nghiên cứu. Hệ thực vật độc đáo của Cát Bà có 620 loài thuộc 123 họ, trong đó có 68 loài gỗ lớn, 135 loài gỗ nhỏ, 174 loài thân thảo, 87 loài cây leo. Các loài cho gỗ quý tập trung ở đây gần như đầy đủ: nghiến, táu, lim, lát hoa, hoàng đàn, vũ hương...
Quý nhất ở rừng Cát Bà là một số loài cây gốc á nhiệt đới thuộc họ kim giao hầu như tuyệt chủng từ kỷ đệ tam. Ở đây có loại cây chò đãi là loại cây đặc hiệu của rừng Bắc Việt Nam.
Người dân Cát Bà coi rừng của mình như một vườn thuốc chữa bệnh. Khắp nơi trên đảo, từ trong rừng, trên các thung lũng, ở các hang động, đâu đâu cũng có thể tìm ra dược thảo được cả.
Cát Bà cũng là đảo có nhiều loại động vật. Người ta đã phát hiện ra được nhiều loài thú, loài chim có giá trị cao về kinh tế và khoa học. Đó là các loài khỉ vàng, khỉ đuôi lợn, sơn dương, cầy hương, cày bạc má, nhím, những loại sóc bay, khỉ vàng, vẹc quần đùi... ở đây cũng rất nhiều, sống theo từng đàn, bất cứ đâu đâu ta cũng gặp.
Đặc biệt là ở Cát Bà tồn tại giống kỳ đà cổ, giống tắc kè to gấp đôi loại ở những nơi khác. Có nhiều con bướm to bằng bàn tay, hai cánh trên đỏ rực, hai cánh dưới vàng tươi, phíasau có hai dải màu đen. Trong giới động vật nầy, đặc sắc nhất là giống vọc đầu trắng, một loại thú gần như chỉ tìm thấy ở đảo Cát Bà.
Khắp các nơi ở Việt Nam và cả trên thế giới cũng không tìm thấy chúng. Năm 1932, một nhà sinh vật học nước ngoài khi đến nghiên cứu ở đảo Cái Chiên (Quảng Ninh) đã nhìn thấy một con vọc đầu trắng ở đây và viết một bài báo dài trình bày về loại nầy.
Nhưng hiện nay ở đảo Cát Bà cũng không tìm thấy bóng dáng của loài nầy nữa.
Trên đảo Cát Bà, nhiều nhất có lẽ là sơn dương, chúng sống từng bầy rất đông, ở về phía đông bắc đảo, có con nặng tới 70kg. Bên cạnh những động vật có vú là những loài chim với một lực lượng khá nhiều như đại bàng, chim cu xanh, chim cu gáy, chim ngói, gà đồng. Đặc biệt nơi đây là hệ sinh thái sông nước, cho nên có nhiều loài chim nước như: gà lôi nước, sâm cầm, hải âu, le le, vịt trời, cuốc... thường sống ở những vùng cửa sông quanh đảo.
Về hải vật đặc sản của Cát Bà, phải kể đến tôm rồng, tôm he, bào ngư, hải sâm, những loài đứng đầu của hải vị. Nhưng đặc sắc nhất vần là tu hài mà người ta thường gọi là gà biển, một loài nhuyễn thể, có vỏ cứng bao bọc bên ngoài, một phần mềm chìa ra ở phía đầu vỏ nơi có chỗ hở mở ra.
Mỗi khi thủy triều xuống, tu hài nằm trên bãi bùn. Người ta chỉ cần dò theo dấu vết trên mặt bùn, dùng que xăm để bắt. Thịt tu hài trắng nõn, giá trị dinh dưỡng rất cao, vị thơm ngon, ít loài nào sánh kịp. Có người xếp loại tu hài trên cả hải sâm và bào ngư là những hải sản vốn đã nổi tiếng.
Ở các bãi triều của Cát Bà có nhiều loại rau câu, rong câu chỉ vàng, một nguồn nguyên liệu quý, có giá trị lớn dùng trong xuất khẩu và trong y dược. Biển Cát Bà cũng có nhiều cá heo; chúng sống từng đàn, mật độ rất dày, loại lớn dài 2,5m.
Cá heo rất thích đi gần người, thường đi từng đàn hàng chục con quấn quít bơi theo các mạn thuyền. Chúng đua nhau bơi, khi cắt qua phía trước, khi cà lưng vào thân tàu, khi vọt lên trước giỡn sóng. Càng reo hò cổ vũ, chúng càng đua nhau lượn.
Trên đảo, đó đây cũng có nhiều dòng suối to, nhỏ, nước trong vắt, chảy len lỏi vào giữa rừng, có lúc hiện ra thành những vùng nước màu xanh ngắt mênh mang. Các thôn xóm nằm ven các thung áng quanh chân núi, với những nương khoai, ruộng lúa, vườn dâu.
Những giàn bầu bí, giàn hoa thiên lý, giàn nụ tầm xuân, hương thơm toả ra xa.
Ven phố biển, nhà cửa san sát, vách liền vách, dựa vào núi hay quay lưng ra biển, tạo nên một dãy phố đông vui. Trong các ngôi nhà nầy thường được trang trí bằng những loại vỏ sam, chậu cảnh, những con ốc biển khổng lồ. Sản vật đã tô thêm cho phố ven biển một vẻ đẹp riêng của biển.
Nhiều người chuyên nghề đánh bắt tổ chức loại làng nổi. Mỗi thuyền là một hộ. Những chiếc thuyền lớn nhỏ quây quần thành xóm, thành làng. Cát Bà có khoảng 8,000 dân, sống có tổ chức và nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng cuộc sống cho mình.
Ngày trước, Cát Bà cũng là căn cứ quân sự. Những lực lượng chiến đấu của bà Lê Chân đã chọn Cát Bà, Đồ Sơn, An Hải làm tuyến phòng thủ chống quân nhà Hán sang xâm lăng đi từ mặt biển. Lãnh tụ nghĩa quân của Quận He Nguyễn Hữu Cầu cũng dùng Cát Bà làm căn cứ chống lại chúa Trịnh.
Đô đốc Tiền Đức, một võ quan triều Nguyễn đã từng dùng những hang động Cát Bà làm căn cứ kháng chiến chống Pháp. Ngày nay trong những hang động nầy còn lưu lại nhiều vết tích: bếp ăn, bãi tập, nơi dưỡng quân. Một thôn ở đây mang tên Tiền Đức để ghi nhớ vị anh tài nầy.
Cát Bà còn được nổi tiếng về phương diện khảo cổ học qua những thể tài và loại hình khác nhau. Từ năm 1960 cho đến nay đã tìm thấy 17 di tích khảo cổ. Di tích của con người cổ xưa cũng đã tìm thấy trên đảo.
Qua những di vật mang đầy đủ tính chất điển hình của văn hoá Hạ Long, không những đã cho ta hình dung được môi trường sống ở đây vào 7,000 năm về trước, lại còn cho ta biết được sinh hoạt của con người thời đó. Thực vật và động vật ở đây cũng là đề tài phong phú, đa dạng và hiếm quý lôi cuốn sự quan tâm của những nhà khoa học nước ngoài của vùng nguyên sinh nầy.
Cát Bà là một Hạ Long thu nhỏ, lại vừa có dáng dấp của bản đảo Sơn Trà, vừa có phong cách của rừng Cúc Phương, của vùng đồi núi Đà Lạt, lại có những hang động đẹp chẳng kém gì động Phong Nha, động Tam Thanh.

TAM ÐẢO


Tam Đảo là dãy núi nằm ở chỗ ranh giới 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Thái Nguyên, nơi chụm đầu của các dãy núi cánh cung ở vùng đồng bằng Bắc Phần.
Núi nầy gồm 3 ngọn nhô cao như những đảo trên biển mây, nên gọi là Tam Đảo: ở giữa là núi Thạch Bàn, bên phải là núi Phù Nghĩa, bên trái là núi Thiên Thị. Ngọn cao nhất đến 1591m.
Vào mùa hè, những ai từng lên lên Tam Đảo đều thấy nhớ các không khí mát rượi, yên tĩnh; nơi đây cũng có những dòng thác trong veo. Đỉnh Thiên Thị cao 1375m, có một khoảng bằng phẳng, rải rác nhiều tảng đá lô nhô như hình người. Tương truyền ở đây có những "người trời" họp chợ, cho nên gọi là Thiên Thị (chợ trời). Đỉnh thứ hai cao 1388m, có một tảng đá lớn, bằng phẳng như mặt bàn, nên được gọi là Thạch Bàn (bàn đá). Đỉnh cao nhất, gần 1591m có tên Phù Nghĩa tức là giúp việc nghĩa.
Có người giải thích: tên nầy là do Quận Hẻo đặt khi đóng bản doanh ở vùng nầy, giữa thế kỷ XVIII. Trên cả ba ngọn núi đầy, cây cối xanh tốt.
Nhìn từ trên cao xuống, Tam Đảo như cố vươn về Hà Nội. Tam Đảo cách Hà Nội chừng 75km và nằm chênh chếch theo hướng tây bắc - đông nam, trải dài gần 50km, sừng sửng ở giữa trung du, chạy từ huyện Sơn Dương (Hà Tuyên) đến Ngọc Bội (Vĩnh Phú). Tổng quát trông như bức trường thành chia giới hạn cho tỉnh Bắc Thái ở sườn bắc và tỉnh Vĩnh Phú ở sườn nam.
Từ Hà Nội đi Tam Đảo, có thể theo 1 trong 3 tuyến như sau: Tuyến 1: đi xe lửa từ Hà Nội lên Vĩnh Yên (54km) rồi đi ô tô lên Tam Đảo (24km). Tuyến 2: đi ô tô từ Hà Nội qua Long Biên, Phù Lỗ, lên Vĩnh Yên (62km) rồi từ đó đến Tam Đảo. Tuyến 3: đi ô tô qua phà Chèm lên Vĩnh Yên rồi đến Tam Đảo. Khu nghỉ mát Tam Đảo đặt trong một cái lũng tròn đường kính chừng 2km, chung quanh là khối núi Nhà Thờ, Máng Chỉ, Mỏ Quạ bao vây 3 mặt.
Cửa lũng mở về phía nam, nên vào mùa hè gió mát thổi vào lồng lộng; gió bấc rét mướt mùa đông thì bị núi chắn lại. Thành thử khí hậu ở đây quanh năm điều hoà. Hàng năm có khoảng 20,000 người từ đồng bằng lên thăm và nghỉ ngơi. Dòng suối Bạc từ trên núi chảy xuống chia cái lũng trên làm 2 phần gần bằng nhau, rồi đổ qua cửa lũng về phía đông thành một dòng thác cao gọi là thác Bạc. Chiều cao gần 130m, thác đổ làm 3 bậc; nhưng từ chân thác nhìn lên thì chỉ thấy một bức tường nước trắng xoá.
Vào mùa xuân lớp nước đổ xuống còn mỏng, để lộ nền đá ri-ô-lít rất trơn, dốc đứng sừng sững như tường một ngôi tháp. Trong lũng, nhà nghỉ mát rải rác vòng tròn từ độ cao 930m tới 970m. Đường trục ô tô từ cửa lũng chạy vào thẳng cửa lũng ngay bên dòng Suối Bạc.
Ngược dòng suối lên có hồ chứa, ngăn Suối Bạc lại, cung cấp nước cho hệ thống nhà nghỉ mát và bể bơi. Nước suối nầy trong và ngọt, ít khoáng chất. Nhà ăn của khách sạn nằm ngay trên một nền nhà cao; từ bao lơn nhìn xuống thấy toàn cảnh. Nắng trong lũng Suối Bạc óng vàng và dịu dàng.
Giữa mùa hè, nắng chỉ rải ra trong lũng khoảng 7 tiếng đồng hồ, từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Sang mùa đông, mặt trời chuyển dịch về phía nam; vào ngày đông chí, ở đây mặt trời chỉ lên khỏi chân trời nhiều nhất là 45 độ, lũng lại mở rộng về phía nam rất thấp, cho nên nắng chiếu vào từ 7 giờ sáng cho đến 5 giờ chiều; như vậy, mỗi ngày có 10 giờ nắng.
Ngoài ra, gió bấc đã bị núi chận lại từ phía ngoài, nên ít khi trời có mây mù; lũng Suối Bạc ấm áp hơn bên ngoài. Trong những tháng xuân, không khí lạnh và khô ráo. Nhờ thế, Tam Đảo trở thành nơi nghỉ mát lý tưởng quanh năm. Nhìn chung, khí trời Tam Đảo trong trẻo, ít hơi nước. Không khí loãng hơn; khí áp hạ thấp hơn. Du khách đến đây thấy mình thở nhẹ nhàng, tâm hồn khoan khoái. Tam Đảo trở thành trung tâm an dưỡng lý tưởng. Thiên nhiên Tam Đảo rất thuần lương.
Ban đêm nằm ngủ không phải giăng màn. Côn trùng cũng rất ít, vì thiếu cái nóng oi ngột ngạt. Nhiều nhất ở Tam Đảo là bướm. Bướm đủ màu, đủ loại. Bướm bay từng đoàn lớn trên đường đi là một cảnh tượng mà bất cứ ai đã một lần đến Tam Đảo thực khó quên. Khắp Tam Đảo có nhiều loại rùa.
Khắp những kẻ đá ẩm ướt đều có giống rùa bụng đỏ, sống rất lâu. Có thể chọn tùy thích, từ con nhỏ đến con rất lớn. Nơi đây cũng có rắn rít, nhưng chỉ là rắn lành, không rắn độc. Tam Đảo nổi tiếng từ lâu, chẳng những với người trong nước mà còn nhiều người nước ngoài quan tâm đến mỗi khi đến đất Bắc. Lịch sử cũng nói đến vùng nầy.
Vào thế kỷ XV, đời Minh, Cao Hùng Trưng đã viết trong An Nam Chí Nguyện như sau: "Ba ngọn núi mọc lên cao vút trong mấy tầng mây, cùng với núi Tản Viên đứng đối nhau, đều là danh sơn của Giao Chỉ..."
Trong một đoạn khác, Cao Hùng Trưng viết: "Tiên Uyển ở trong núi Tam Đảo có nhiều kỳ hoa, dị thảo. Trên núi có am Vân Tiên, am Song Tuyền, am Lưỡng Phong, thang Bộ Văn và cầu Đài Tuyết. Phong cảnh thật tuyệt..."
Nhưng ngày nay, các am, các cầu, nhất là Vườn Tiên đã không lưu lại dấu tích gì. Vào giữa thế kỷ thứ XVIII, Lê Quý Đôn (1723 - 1783) khi đến vùng Tam Đảo, đã ghi lại: "Đỉnh núi đất đá lẫn lộn, cây cối um tùm, nhiều hồi hương, nhiều quế. Ở giữa là ngọn núi Kim Thiên cao chót vót, khe thác không biết bao nhiêu mà kể. Sườn núi có chùa cổ Tây Thiên, tre xanh, thông biếc, cảnh sắc thanh nhã, khoáng đạt. Trên đỉnh lại có chùa Đồng Cổ, lên xuống phải mất 2 ngày..."
Chùa Đồng Cổ đến nay không lưu lại vết tích nào. Nhưng có thể hình dung qua lời tả của Lê Quý Đôn như sau: "Từ bên trái khe Giải Oan lên núi, đến một hồ sen nước xanh biếc; trong hồ có đá lạ, có hoa sen đỏ nở 4 mùa. Hai bên hồ, có suối từ sườn núi chảy ra; bêb trái gọi là Suối Bạc, từ khe đá trên đỉnh núi đổ xuống, trông như tấm lụa; bên phải gọi là Suối Vàng từ chùa đá chảy ra. Nền chùa vuông vắn hơn một trượng. Tường nóc toàn bằng đá. Hai cánh cửa khoá chặt bằng khoá lớn”.
Trên trần, có mấy chữ triện khắc vào đá "Địa Ngục Tự", không biết dựng từ lúc nào. Suối từ trong khe cửa chảy ra, sắc nước trông như vàng. Suốc Bạc và Suối Vàng hợp dòng với nhau ở trước hồ sen, quanh co chảy xuống, rồi hoà vào khe Giải Oan.
Từ bờ hồ đi chừng 2 dặm, lại theo từng bậc lên chừng nửa dặm, lại có chỗ bằng phẳng, tường đá dựng đứng. Ở giữa có 3 nền đất rất dài, lại có 8 toà đá vuông sừng sững, trông như hình dáng Bát Bộ Kim Cương. Có 1 bia đá khắc chữ lớn "La Thành Bất Loạn", bên cạnh bia lại đục thêm mấy chữ "Minh Thượng Thư Hoàng Phúc cẩn đề". Từ đó lên mấy dặm nữa thì thấy chùa Đồng, đúc toàn bằng đồng tốt.
Trong chùa thờ 1 pho tượng Phật, không biết đúc từ đời nào". Lê Quý Đôn không xác định được ngôi chùa nầy được dựng lên từ đời nào, nhưng Hoàng Phúc sang nước ta 2 lần, lần trước từ 1408 - 1423 chắc là thì giờ đi vãn cảnh, lần sau vào năm 1427 thì bị bắt.
Như vậy, tấm bia của viên quan nhà Minh xâm lược chắc đã được dựng lên khi y sang lần trước và đủ chứng tỏ là ngôi chùa đã được dựng lên chậm nhất là vào đời Trần (thế kỷ XIII - XIV).
Núi Tam Đảo mọc lên ngay cạnh đồng bằng bằng phẳng, đều đều, không những đã trở thành cảnh trí cho những đền chùa nổi tiếng, danh lam thắng cảnh đã đành, mà những khe suối, núi rừng ở sát đồng bằng của thắng địa nầy còn có giá trị quân sự nữa.
Lê Quý Đôn tả rằng: "Tam Đảo thế núi liên miên kéo dài, về phía tây là núi Bông, núi Trữ La, núi Lịch và khe Nhân Túc. Khe Nhân Túc, tục gọi là khe chân người, nước khe từ trong núi Yêm Nhĩ (che tai) và núi Ngọc Bội, từng đoạn, từng đoạn chảy ra, qua núi Thanh Lanh thành 99 khúc.
Núi Cổ Cò ở phía núi Ngọc Bội và bàn Long, chồng chất tầng tầng lớp lớp, trong ấy lại có núi Huân Bông, núi Phi, núi Thiên Thị và núi Đát Ma... tất cả rất nguy nga, hiểm trở". Tam Đảo nằm giữa 3 tỉnh, nhiều đèo, nhiều lối tắc qua lại thuận tiện: đèo Kháng Nhật từ Vĩnh Phú thông lên Hà Tuyên, đèo Nhe, Thanh Lộc và đèo Khế Thông sang Bắc Thái, cho nên trong lịch sử, nhiều cuộc khởi nghĩa ở miền Bắc đã lấy Tam Đảo làm căn cứ.
Trong thế kỷ XVIII chống vua Lê, chúa Trịnh, nhà sư Nguyễn Dương Hùng lập căn cứ tại núi Thanh Lanh, Ngọc Bội (1737 - 1740); sau đó Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương cũng dựng lên đại đồn ở chân núi Mỏ Quạ, xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên (1740 - 1750), đến nay vẫn còn lưu lại nhiều di tích: thành trì của Quận Hẻo ở ngọn suối Khế, trên đường đi từ Mỹ Khê qua Thanh Lanh, Ngọc Bội, cao to như đê của một con sông, dựa vào hai sườn núi, chắn ngang thung lũng Thanh Lanh, vừa làm hào phòng ngự bên ngoài đại đồng, vừa lấy nước tưới ruộng.
Khi quân Pháp sang xâm lăng, người Dao nổi nghĩa quân đóng ở khu rừng Ma, ao Dứa, xã Tam Quan, huyện Tam Dương để chống cự. Quân Đề Thám, quân Đội Cấn đầu thế kỷ 20 cũng nhiều phen lấy Tam Đảo làm nơi hoạt động.

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 03.11.2014.