Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





CHÚNG TA HIỂU GÌ

về PHƯƠNG TIỆN của ĐẠO PHẬT





Đã từ rất lâu, hầu như tất cả chúng ta đều quen thuộc với hình ảnh những nhà tu hành theo Đạo Phật. Đầu tròn, áo vuông, vàng hay nâu, mà cứ nhìn đến là mọi người đều nghĩ ngay rằng: Đó là những đệ tử của Đức Thích Ca, có nhiệm vụ giữ gìn và phát huy Đạo Phật.

Cũng như tất cả mọi người. Buổi đầu tôi cũng nhìn Đạo Phật qua những hình ảnh đơn giản như thế. Tôi cho rằng các vị thật dũng cảm, dám hy sinh những thú vui trần tục. Rời bỏ gia đình, cha mẹ, vợ, con, quyến thuộc. Bỏ hết tài sản, tiền bạc, công ăn, việc làm để có thể cống hiến toàn bộ cuộc đời cho Đạo Pháp. Tôi cũng cho rằng một khi dứt bỏ đời, bước vào Chùa là đã “Thoát Tục”, “Thoát phàm”. Không khác mọi người, tôi cũng chia hai ranh giới: Ở trong chùa là người tu. Ngoài đời là phàm phu tục tử, nên bao giờ cũng nhìn các vị từ xa với một sự kính ngưỡng, vì thấy rằng bản thân mình khó thể làm được như các vị.
Thế nhưng nhận định đó đã thay đổi, bắt đầu từ lần đầu tiên tôi được cầm trên tay quyển Kinh DUY MA CẬT. Một Chân trời mới dần hé lộ kể từ đó, vì nhiều lời hỏi, đáp trong Kinh đưa cái hiểu Đạo Phật của tôi từ mơ hồ, trở về thực tế của cuộc sống, không còn là những gì xa xôi huyền hoặc, người phàm không thể hiểu tới.
Thay vì trước kia tôi nhắm mắt Tin vào những gì đã được truyền từ bao thế hệ, coi như bất di bất dịch, thì tôi bắt đầu thắc mắc, thấy mình có nhu cầu tìm hiểu rồi bắt đầu tự đặt những câu hỏi. Thời gian Thầy tôi còn sống, thì tôi trực tiếp nhờ giải đáp. Khi ông qua đời rồi, thì tôi tìm câu trả lời trong các Bộ Chính Kinh, để thấy, hóa ra bấy lâu nay do không chịu tìm hiểu, cũng không nghe ai nói cho biết, nên hầu hết Phật tử - kể cả rất nhiều vị Xuất gia tu hành đã lâu - hoàn toàn bị ảnh hưởng của Văn Tự, tức là chỉ dựa vào NGỮ, không hề biết rằng ngoài NGỮ còn có NGHĨA, mà Phật đã cẩn thận dặn dò trong Phẩm TỨ Y của Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN. Đó là:
Y Pháp bất Y Nhân
Y Trí, bất y Thức
Y Nghĩa, bất Y Ngữ
Y Kinh liễu nghĩa, bất y Kinh vị liễu Nghĩa.
Chỉ cần tìm hiểu nghĩa của Tứ Y này thôi, là có biết bao nhiêu vấn đề cần phải đặt ra: Thí dụ thế nào là PHÁP? Thế nào là NHÂN? TRÍ là gì? THỨC là gì? Thế nào là Ngữ? Thế nào là Nghĩa? Kinh Liễu Nghĩa là Kinh nào? Nếu chưa minh định cho những điều đó thì người muốn tu hành sẽ hành trì như thế nào? Sẽ Y bên nào? Kết quả sẽ về đâu?
Nếu trước đây tôi tin rằng địa vị của Chư Phật là độc tôn, là những vị Thần Linh để cho con người thờ phụng, cầu xin, thì qua Phật Ngôn: “Ta là Phật đã thành. Tất cả Chúng Sinh là Phật sẽ thành” làm cho tôi thắc mắc. Nếu Phật là địa vị tối thượng. Ngoài các Ngài, những phàm phu không bao giờ hiểu nổi, đạt tới, tại sao Ngài bảo: “Tất cả chúng sinh đều là Phật sẽ thành”? Vậy thì cái nghĩa PHẬT đó ắt hẳn nếu ai hiểu, và nắm được cách thức đều có thể tự thành tựu cho mình. Rồi thì “Thành Phật” có phải là thành một vị “Có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, có thể cứu độ cho Tam thiên Đại Thiên Thế Giới”? 32 Tướng Tốt đó ở đâu ra? Hoặc làm thế nào để có? Bởi rõ ràng Đức Thích Ca được cha mẹ sinh ra như tất cả chúng ta. Thậm chí Ngài cũng có vợ, có con, chứng tỏ trước khi tu hành, thành Phật, Ngài cũng là một người đàn ông bình thường như tất cả những người đàn ông khác. Không có gì là siêu phàm, xuất chúng. Vậy thì:
l/- Ngài đã làm gì để gọi là “Đắc Đạo” để sau đó thì Thành Phật?
Theo lịch sử Đạo Phật còn ghi lại thì Ngài đã Ngồi Thiền 49 ngày đêm. Và “Đạo” mà Ngài “Đắc” đươc là “CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT KHỎI SINH LÃO BỆNH TỬ” hay còn gọi là THOÁT SINH TỬ LUÂN HỒI.
Ở đây lại có một câu hỏi được đặt ra: Nếu Đạo mà Đức Thích Ca Đắc, có khả năng làm cho người “Đắc” Thoát SINH LÃO BỆNH TỬ, tại sao trong Kinh ghi nhiều lần Đức Thích Ca bị bệnh, Ngài Anan phải mang bình đi xin sữa. Cuối đời Ngài cũng chết vì ngộ độc thực phẩm do Thuần Đà cúng dường? Như vậy, Ngài cũng Sinh, cũng Lão, cũng Bệnh, cũng Tử, cũng Trà Tỳ, sao nói rằng Ngài Thoát SINH TỬ?
2/- Nếu Thành Phật là có thể “Cứu Độ Tam Thiên Đại Thiên Thế giới” Thì cái Tam Thiên Đại Thiên thế Giới đó ở đâu? Kinh viết: Muốn Thành Phật thì phải “Độ Thoát tất cả Chúng Sinh”. Phật đã Thành Phật từ mấy ngàn năm rồi, có nghĩa là “Cứu Độ” xong tất cả Chúng Sinh. Như thế, nếu chúng ta là Chúng Sinh của Ngài thì lẽ ra đã được đưa về Niết Bàn, đâu còn KHỔ nữa? Nhưng hiện nay mọi người vẫn sống tại cảnh trần này, hàng ngày vẫn phải đối mặt với vô vàn nỗi khổ. Chưa hết, lại thêm chiến tranh, tai ách triền miên… Vậy rõ ràng Phật đâu có “Độ” cho ta? Kể cả nước Ấn Độ, là quê hương của Ngài mà Ngài có “Độ” được đâu? Vì ai cũng biết, giờ này vẫn tiếp tục đói nghèo, tệ nạn tràn lan. Như vậy thì cái Tam Thiên Đại Thiên mà Phật đã “Độ” đó, chắc chắn không phải là vũ trụ mà chúng ta đang ở. Nhưng thật ra Cõi đó ở đâu? Phật đã Độ Thoát Cõi đó như thế nào?
Tôi tin rằng, nếu ai chưa tự giải thích được những câu hỏi này thì người đó đã bước vào Đạo Phật một cách mơ hồ. Như vậy thì dù có tu đến bao nhiêu kiếp cũng sẽ chẳng đi đến đâu, nếu không nói là đã trở thành người Mê Tín. Vì Tin trong mê mờ, Tin mà không hiểu để trở thành người phỉ báng Đạo mà không hề hay biết!
Thật vậy. Đạo là Con Đường. Phật là Giải Thoát. Đạo Phật là CON ĐƯỜNG mà AI ĐI TRÊN ĐÓ CŨNG SẼ ĐƯỢC GIẢI THOÁT, TỰ MÌNH ĐỘ LẤY MÌNH NHƯ ĐỨC THÍCH CA VÀ CHƯ VỊ GIÁC NGỘ ĐI TRƯỚC. Như vậy, nếu ta không làm giống như các vị, lại thờ các vị để cầu xin ban ân, giáng phúc, cầu được “Độ” thì rõ ràng là ta đã làm ngược lại mong mỏi của đấng sáng lập Đạo rồi. Ngay cả tư tưởng quỳ lụy, cầu xin đã chứng tỏ không tin vào Nhân Quả thì còn làm sao xưng là Đệ Tử của Phật?
Chúng ta nên biết, Đạo Phật còn có một tên gọi khác nữa là Đạo Nhân Quả, vì theo Đức Thích Ca, chính NHÂN QUẢ quyết định cho điều tốt, xấu cho mọi người, không phải do đấng bề trên nào sắp đặt cho. Làm Tốt, sống tốt thì đương nhiên sẽ có kết quả tốt. Làm xấu, gây tội, gây Nghiệp thì phải Trả. Không có ai miễn giảm trao đổi cho. Đó là một thứ Luật chí công, vô tư nhất. Không do ai cầm cân, nẩy mực. Chỉ cần TIN NHÂN QUẢ, mọi người sẽ không dám hành động tùy tiện, vì biết rằng cuối cùng nó sẽ trả lại cho mình cả vốn, lẫn lời, không có thần linh, Thượng Đế nào có quyền đổi xấu lấy tốt cho ta.
Người đời vốn tin vào thế lực, tiền bạc, cho rằng “Thứ gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Với Nhân Quả thì dứt khoát không thể. Vì nó như một cái boomerang. Ném đi chốc sau nó sẽ quay lại. Với Nhân Quả thì ném thứ gì đi thì thứ đó sẽ trả về. Chỉ có sớm hay muộn, kiếp này hoặc kiếp khác, không thể trốn tránh được. Đó mới là điều đáng sợ cho những ai nghĩ rằng việc mình làm chỉ có mình hay, chỉ cần né được Luật Pháp đời là ổn!
Một điều khác nữa, theo tôi, nếu thật sự ta mến mộ Đạo Phật, muốn tu hành theo đó thì quan trọng hơn hết là cần phải tìm hiểu xem Thành Phật để làm gì? Được lợi ích gì? Thành Phật phải làm gì? Nếu không phải là những người định vô Chùa để nương tựa, để khỏi phải vất vả mưu sinh, còn được ăn trên, ngồi trước, thì phải xét xem việc tu hành có lợi ích gì hay không? Nếu không, thì tu hành gian khổ, bỏ tất cả mọi thứ để làm chi? Muốn phụng sự cho Phật thì liệu Phật có cần ta phụng sự chăng? Phải phụng sự như thế nào? Muốn Tu thì phải Tu như thế nào mới đúng? Nếu không biết phải Tu như thế nào thì ta sẽ làm gì? Chẳng lẽ loanh quanh thắp hương, nhiễu Tháp, tụng Kinh, Niệm Phật, cầu An, Cầu siêu? Phật có hứa ai cầu xin thì sẽ “độ” cho hay không? Bởi đừng nghĩ rằng bỏ đời, vô Chùa là đã được phước. Hột cơm của bá tánh cúng cho người tu để làm việc Phật, mà ta lợi dụng e rằng không phải dễ trả. Chưa nói đến những người “điếc không sợ súng”, vô Chùa rồi dùng tiền bá tánh cúng dường để xây nhà riêng, để cho bà con, giòng họ, để hưởng thụ cho cá nhân, mà ta thấy không riêng nước ta, Thái Lan, Đài Loan, Hàn Quốc cũng có những vị nổi bật. Xài tiền “Chùa” còn sang hơn đại gia! Dùng tiền Chùa để sắm hàng hiệu, ăn nhậu, cờ bạc, bao gái! Đó là những vị tu Thật mà Giả. Thật là vì họ là chức sắc trong Chùa hẳn hoi. Giả là vì cuộc sống của họ không thể hiện chút gì là của người tu với hạnh “ít muốn, biết đủ”, vì chê danh lợi thế gian mà vô Chùa để tu hạnh thanh tịnh! Tôi tin rằng nếu có đọc Kinh VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN để thấy cái Quả của người lợi dụng sự cúng dường của bá tánh phải trả hẳn sẽ không dám ung dung tiếp tục ăn tiêu phè phỡn bằng tiền Chùa như thế.
Để có được sự hiểu biết tương đối đúng đắn về Đạo Phật, tôi phải mất bao nhiêu năm dài loay hoay với hàng trăm câu hỏi và đã phải bỏ ra gần như toàn bộ thời gian trong khá nhiều năm để đi tìm cho ra câu trả lời cho chính mình. Cũng không hiểu vì sao mà tôi có thể đọc Kinh một cách say mê, miệt mài. Ngủ thì thôi. Thức là ôm lấy bộ Kinh nào đó để đọc. Nửa khuya thức dậy cũng đọc. Nấu nướng xong lại đọc… Càng đọc, càng thấy mình sáng ra, hiểu thêm được nhiều điều. Tôi cứ đọc xong Quyển này lại sang Quyển khác, rồi vòng trở lại. Cứ mỗi bận lại thấy thêm một số điều để đi từ ngỡ ngàng này sang ngỡ ngàng khác. Hóa ra Đức Thích Ca sau khi công bố mục đích Đạo của Ngài tìm ra thì Ngài đã vận dụng rất nhiều Phương Tiện, để người tin theo dễ dàng bị thu nhiếp rồi dần dà sẽ dắt đến mục tiêu.
Qua kinh nghiệm đọc và tập thực hành theo những gì được hướng dẫn trong Kinh, tôi thấy có một điều mà những nhà nghiên cứu Đạo Phật hay vấp phải, là Đạo Phật không đơn thuần là một lý thuyết mà mọi người đều có thể đứng ngoài mà nghiên cứu, tìm hiểu. Trái lại, đó là một giáo trình, đòi hỏi thực hành. Như từng bậc thang, nếu không bước nấc trước, thì không thể đến bước kế tiếp. Người muốn hiểu Đạo Phật cho rõ phải là người trực tiếp hành trì để từng bước cảm nhận, chứng nghiệm những gì Phật đã dạy. Kinh Đại Bát Niết Bàn viết: “Như người dù nghe tên đầy đủ của các vị thuốc, nhưng nếu không trực tiếp uống, thì không thể khỏi bệnh được”. Hay Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Nói ăn thì không thể no”.
Nhưng thế nào là thực hành theo Đạo Phật? Có khó lắm không?
Theo tôi thì không cần trẻ, già, giới tính. Học nhiều hay học ít, thuộc giai cấp bần cùng hay cao sang. Chỉ cần có chút Nhân Thừa thì không có gì là khó. Bởi chỉ cần chấp hành 5 Giới đơn giản:
l/- Không Sát Sinh.
Đạo Phật dạy Phật Tử nên có đức Hiếu Sinh, bởi vì sinh vật tuy thấp kém hơn ta, nhưng cũng là loài Biết Sống. Chúng cũng biết quý mạng sống và yêu thương nhau. Cũng có đôi, có cặp, tức là cũng có vợ chồng, con cái. Dù là loài nào, thì Bố, Mẹ cũng yêu thương con. Phải chia lìa thì rất đau khổ. Giả sử chúng ta không ăn chay được thì nhiều nơi làm sẵn thịt, cá để bán. Chúng ta có thể mua lấy mà ăn, thì cũng chia một phần Nghiệp, nhưng không trực tiếp Giết để có miếng ăn tươi, ngon cho mình thì cũng nhẹ tội rồi. Không nên chấp Chay, Mặn, mà chỉ nên tránh Nghiệp Sát là cũng tốt rồi. Vì Đạo Phật cần người tu có Trí Huệ. Không buộc phải Ăn như thế nào. Dần dà tự mỗi người sẽ hiểu mà không Gây Nhân để khỏi lãnh Quả mà thôi.
2/- Không trộm, cắp.
Tức là không lấy bất cứ thứ gì không thuộc về mình mà không được phép của chủ nhân. Phải chăng bản thân ta có thứ gì đó thì cũng biết sợ mất, sao lại tranh giành trái phép với người khác? Đó là luật công bình, người hiểu biết đều giữ dễ dàng.
3/- Giới Dâm.
Dâm nghĩa chung là “ham muốn không biết đủ”. Một nghĩa khác nữa là nói về sắc dục. Điều này không có nghĩa là cấm tất cả người tu hành không được dính tới sắc dục. Giới này dành riêng cho Tu Sĩ Xuất Gia. Vì với người Xuất Gia, thì Sắc dục không được dính tới. Đạo cũng như đời đều đánh giá như thế. Riêng người Cư Sĩ thì trong Kinh có người hỏi Phật là khi chưa lập gia đình thì không dính tới nữ nhân. Nhưng sau khi lập gia đình rồi thì với vợ mình có bị Phá Giới không? Phật đáp: Không. Vì đó là vợ mình. Điều đó ta thấy: Những gì xã hội cho phép thì Đạo cũng không ngăn cấm. Hơn nữa, Đạo Phật không đòi hỏi người Cư Sĩ phải kiêng sắc dục, vì kiêng hay không cũng không có ích lợi gì cho Đạo. Không thể nhờ đó mà sinh Trí Huệ được.
4/- Giới Vọng Ngữ.
Là một người bình thường có chút nhân cách thì không ai “chuyện có nói không, không nói có” bao giờ, huống chi đã bước vào con đường tu hành. Nhưng cũng có một số người tu hành vẫn bị mắc phải, vì hiểu lầm lời dạy trong kinh LĂNG NGHIÊM: “Mình chưa được độ mà phát tâm độ người đó là Tâm Bồ Tát”! Ta nghĩ sao khi bản thân chưa biết rõ, chưa nắm vững về Đạo. Chưa biết Tu thế nào cho đúng. Bản thân mình còn chưa học hết Giáo Pháp. Chưa biết nghĩa của Bồ Tát mà đòi làm Hạnh Bồ Tát, mà mở ra dạy đạo, hướng dẫn cho người khác? Như vậy, rõ ràng là “Chồng Mê cho người”, lợi bật cập hại. Cái nguy hiểm là người đã nghe, đã tin rồi thì tương lai có ai nói khác họ sẽ không chấp nhận được mà Kinh cũng có viết là: “Phàm phu còn có tâm quay về, mà Thinh Văn thì không”. Vì họ thấy mình tu đã lâu, đã nghe Pháp nhiều năm!
Cũng có một số trường hợp vọng ngữ mà không bị Phạm Giới. Đó là trường hợp Bác sĩ nói dối để không cho bệnh nhân biết sự thật về bệnh trạng của họ. Hoặc có người đuổi giết nhau mà ta chỉ hướng khác.
Kinh dạy: Có những sự lý đáng dấu mà không nói sự thật cũng không phải là phá Giới. Chẳng lẽ cướp vô nhà hỏi tiền để đâu mà ta sợ Phạm Giới nên phải chỉ cho chúng lấy? Như thế là… thiếu I-ốt chớ đâu phải do sợ Phạm Giới. Lục Tổ ngày trước cũng phải dấu Y Bát đi chớ đâu có thật thà đưa cho bọn đi tranh cướp? Nếu Ngài đưa cho bọn họ thì Đạo Phật ngày nay sẽ ra sao? Do đó, ý thức đúng về Giới thì ta sẽ thấy không có gì trái với người đời. Người đời đánh giá thế nào là sai, đúng thì Đạo cũng không khác.
5/- Giới Tửu.
Để ngăn ngừa say sưa làm mất lý trí chớ không phải không được động đến Rượu. Trong kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên có kể việc Thái Tử uống rượu vui vẻ chung với các nước chư hầu. Nhờ đó mà các bên trở thành bằng hữu, không gây hấn với nhau. Mạt Lợi Phu Nhân uống rượu với vua để cho vua vui mà quên đã ra lệnh giết vị quan trù giám. Nhờ đó bà mới lén vua tha cho viên trù giám khỏi chết. Phật dạy: “Phá Giới như thế chẳng những không có tội mà còn có lợi ích”. Riêng người Xuất Gia thì Giới Tửu phải giữ tuyệt đối, vì ta nghĩ sao mà người mặc pháp phục lại uống rượu? Hình ảnh đó làm mất trang nghiêm của người tu.

(còn tiếp)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 02.11.2014.