Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


TUẤN ĐÔ ĐOÀN PHÚ TỨ

- MỘT NHÀ VĂN TÀI HOA

GẮN BÓ VỚI DỊCH THUẬT




So với các nhà văn khác cùng thế hệ, Đoàn Phú Tứ chừng như chưa được tìm hiểu, nghiên cứu bao nhiêu. Công trình chuyên khảo tương đối đầy đặn đầu tiên về ông là bộ sách Đoàn Phú Tứ con người và tác phẩm của Văn Tâm do NXB Văn học xuất bản năm 1994(1). Ngoài ra, về ông ít nhiều có được nhắc đến trong một số hồi ký của bạn bè hoặc cộng sự và trong đôi ba mẩu chuyện giai thoại đăng trên sách báo. Nói chung trong các văn bản đã được công bố người ta mới nói nhiều đến giai đoạn đầu trong toàn bộ cuộc đời hoạt động văn học nghệ thuật của Đoàn Phú Tứ - thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám và mấy năm đầu kháng chiến chống Pháp. Giai đoạn sau – thời kỳ từ sau hòa bình cho đến cuối đời của nhà văn, - người ta mới điểm xuyết sơ qua và ở một số tài liệu của người này người khác, lại còn có nhiều điểm chưa chính xác(2).

Đoàn Phú Tứ vốn người Kinh Bắc, sinh ra tại Hà Nội năm 1910, bắt đầu “viết văn từ năm 1925, lúc còn học lớp nhất. Những bài văn đầu tiên là những Từ khúc đăng báo Đông Pháp. Sau này thỉnh thoảng viết giúp Phong hóa, Ngày nay. Năm 1937, chủ trương tờ Tinh hoa. Chuyên viết kịch. Làm thơ rất ít”(3)
Theo nhà nghiên cứu Văn Tâm thì ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, Đoàn Phú Tứ “lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1932 trên báo Phong hóaTự lực văn đoàn với bài thơ mới Một buổi chiều xuân; từ 1937, Đoàn Phú Tứ bắt đầu hoạt động mạnh mẽ trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và văn hóa, xã hội”: ông xuất hiện thường xuyên trên các báo;liên tục sáng tác kịch, làm chủ nhiệm báo Tinh hoa, trưởng ban kịch Tinh hoa (1937-1944) vừa tổ chức hoạt động trình diễn, vừa tham gia đạo diễn và thủ vai; giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức nhóm Xuân thu nhã tập; nghiên cứu tiếng Việt.
Sau Cách mạng tháng Tám, năm 1946 Đoàn Phú Tứ được bầu làm Đại biểu quốc hội khóa I. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp ông tản cư ra vùng tự do, tham gia  giảng dạy Trường văn hóa kháng chiến liên khu IV, Tòa soạn tạp chí Văn nghệ (cơ quan của Hội văn nghệ Việt Nam), Ủy viên Ban thường vụ Trung ương của Ban chấp hành Hội văn hóa Việt Nam, đi chiến dịch Sông Thao (1949), tham gia Hội nghị tranh luận văn nghệ (25-28 tháng 5-1949), tham gia tổ chức Hội nghị tranh luận sân khấu (20-22 tháng 8-1950), giảng ở Trường Đại học kháng chiến (Đào Giã, Phú Thọ), Trường văn nghệ nhân dân…
Tháng 7 năm 1951, Đoàn Phú Tứ trở về Hà Nội bị tạm chiếm làm nghề dạy học. Đến đây có thể coi như chấm dứt giai đoạn đầu trong cuộc đời hoạt động văn học, nghệ thuật và văn hóa, xã hội của nhà văn Đoàn Phú Tứ(4)
Giai đoạn thứ hai trong sự nghiệp của Đoàn Phú Tứ có thể kể từ khi ông xuất hiện lại trên văn đàn dưới bút danh là Tuấn Đô – người dịch tập Kịch I.L.Caragiale do NXB Văn học xuất bản vào cuối năm 1964, cho đến lần xuất hiện cuối cùng với đầy đủ tên họ Đoàn Phú Tứ, cũng với tư cách người dịch tiểu thuyết Thiên thần nổi loạn của nhà văn Pháp Anatôn Franx, cũng do NXB Văn học xuất bản năm 1987; chưa kịp in bản dịch vở kịch Sáu nhân vật đi tìm tác giả của nhà văn – nhà soạn kịch Italia Pirandelo, thì hạ tuần tháng 9 năm 1989, từ giã mọi người, ông ra đi mãi mãi.
Ở giai đoạn này, nhà văn tài hoa Đoàn Phú Tứ thể hiện chủ yếu trong lãnh vực dịch thuật. Kể ra hoạt động dịch thuật của Đoàn Phú Tứ có ngay từ khi ông còn rất trẻ. Nhà văn, nhà báo, nhà giáo quá cố Nguyễn Lương Ngọc trước khi qua đời ít lâu đã kịp xuất bản tập hồi ký Nhớ bạn, trong đó giành cả một chương ghi lại kỷ niệm về một trong những người bạn chí cốt từ thuở thiếu thời của mình – nhà văn Đoàn  Phú Tứ. Ông viết: “Anh Tứ cùng tôi bắt đầu dịch văn từ khi hãy còn đi học”. Ở đoạn trên ông đã cho biết: “Các hoạt động chung và lâu dài của chúng tôi là trong các lĩnh vực dậy học, diễn kịch, làm báo và dịch thuật”. Và ông còn viết thêm: “Các bản kịch, các bản dịch của Đoàn Phú Tứ thì may mắn không để mất nhiều”(5)
Đáng tiếc là cho đến nay chưa có tài liệu nào cho biết rõ cụ thể hoạt động dịch thuật ấy của Đoàn Phú Tứ. Ở giai đoạn đầu Đoàn Phú Tứ chúng ta chỉ được biết có mấy bài dịch của ông đã đăng báo trong những năm đầu kháng chiến gồm: “Tổ chức kịch ở Liên Xô (tạp chí Văn nghệ số 22, 1950), Hoạt động của kịch trường Liên Xô trong chiến tranh vừa qua (tạp chí Văn nghệ số 25, 1950)(6)
Hoạt động dịch thuật văn học của Đoàn Phú Tứ trong giai đoạn sau chủ yếu gắn bó với nhà xuất bản Văn học (tiền thân là nhà xuất bản Văn hóa trực thuộc Viện Văn học), mà việc cộng tác đầu tiên là những ý kiến đóng góp của ông đối với bản dự thảo kế hoạch xuất bản quy mô đầu tiên, trong đó có nêu đến hơn hai trăm tên tác phẩm văn học của nhiều nước trên thế giới: Khi NXB Văn hóa còn đóng trụ ở số 6 Quang Trung, có lần Ban Văn học nước ngoài đã tiếp đón Đoàn Phú Tứ, lúc ấy vẫn đang dậy học ở trường Albert Sarraut, đến bàn bạc công việc theo lời mời của Ban biên tập.
Vào những năm này, hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới hàng năm kỷ niệm các danh nhân văn hóa thế giới, ở ta đã sôi nổi tổ chức các buổi nói chuyện về thân thế sự nghiệp các vị đó, dịch và xuất bản các tác phẩm của họ: Andecxen, Tagor, Michxkêvich, Bôtep, Hainơ, Sile… Năm 1962, thế giới kỷ niệm 50 năm ngày mất của nhà văn, nhà soạn kịch cổ điển Rumani Ion Luca Caragialê (1852-1912). Trước đó NXB Văn hóa đã liên hệ với Ủy ban bảo vệ Hòa bình của Việt Nam (người trực tiếp giúp đỡ là dịch giả Xuân Oanh) và đại sứ quán Rumani ở Hà Nội mượn được một số tài liệu về Caragialê và tác phẩm của ông. Đoàn Phú Tứ đã nhận với NXB sẽ tuyển dịch một tập kịch của Caragialê (trong khi Ban biên tập gợi ý ông dịch một tập truyện ngắn  Caragialê). Dựa vào các tài liệu tiếng Pháp, Đoàn Phú Tứ đã hào hứng làm việc đến giữa năm 1963, ông đã nộp bản thảo cho Ban biên tập, gồm bản dịch 5 vở kịch: Một đêm dông tố (Hỉ kịch hai hồi), Ông Lêônida với phe phản động (Hài kịch một hồi), Bức thư rơi (Hỉ kịch bốn hồi), Những cảnh hội giả trang (Hài kịch ba hồi) và Oan khổ (Thảm kịch hai hồi), cùng một bài giới thiệu tới 15 trang viết tay.
Biên tập Hoàng Lâm được giao phụ trách đầu cuốn. Là người mến mộ nhà văn Đoàn Phú Tứ ngày từ thời còn trẻ (sau này nhiều lần ông Hoàng Lâm đã tả lại cho chúng tôi hình ảnh lý tưởng Đoàn Phú Tứ của ông ngày nào: một trang công tử hào hoa, tuấn tú luôn mang bộ đồ Tây bằng vải đũi mầu sáng là lượt thẳng tắp, cavat đỏ rực rỡ, ăn nói điềm đạm, duyên dáng, lại còn chơi cả viôlông…), cộng với tác phong biên tập cẩn trọng, tỉ mỉ, chu đáo, ông Hoàng Lâm đã cặm cụi đối chiếu từng dòng, từng trang trong bản dịch của Đoàn Phú Tứ với tác phẩm của Caragialê I.L qua bản tiếng Pháp. Biên tập không phát hiện ra những sai sót nào đáng kể, ngoại trừ những sơ suất nhỏ mà trong bất cứ bản thảo nào cũng có thể có, như ở phần phiên âm, chính tả… Bài Lời giới thiệu do Đoàn Phú Tứ viết cho thấy ngay dịch giả trước khi dịch đã nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng về từng tác phẩm. Thấy rõ dịch giả đã chọn dịch những gì ông tâm đắc, những gì mà nếu ở vào giai đoạn trước ông đã không dịch mà rất có thể dựa vào chủ đề của nguyên tác ông đã viết ra những vở kịch của ông như: Ghen, Sau cuộc khiêu vũ, Ông ki cóp, Ngã ba… Là một người sành sỏi trong lĩnh vực sân khấu, Đoàn Phú Tứ đã thể hiện đầy đủ trong các bản dịch tập Kịch Caragialê, từ cái tên phân định thể loại từng vở, đâu là hỉ kịch, đâu là hài kịch, đâu là thảm kịch đến lời lẽ đối thoại của từng nhân vật, đâu là cảnh sát, sen đầm, đâu là nhà chính khách địa phương, đâu là ông công chức quèn, hay bà quý tộc lỗi thời… Tất cả đều được chuyển đạt một cách rành rẽ, đâu ra đấy.
Bản dịch của Đoàn Phú Tứ Kịch Caragialê nhanh chóng được đưa in. Dịch giả Đoàn Phú Tứ đã tham gia tích cực vào mọi khâu trong quá trình in ấn, từ hoàn chỉnh bản thảo đến khi ra thành sách: ông sửa kỹ lại bản đánh máy, góp ý tỉ mỉ cho maket, tự xem lại cả bông một, bông hai và bản in thử trước khi đi in chính thức, để tránh phải đính chính lỗi in… Kịch Caragialê do Đoàn Phú Tứ dịch, ký tên Tuấn Đô đã in xong vào tháng 11 năm 1964 gồm 366 trang, do họa sĩ Dương Bích Liên vẽ bìa.
Thời điểm này là lúc NXB Văn học thuộc Liên hiệp văn học nghệ thuật Trung ương vừa được ổn định sau khi sát nhập hai NXB Văn hóa thuộc Viện Văn học với NXB Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam. Ban lãnh đạo NXB bấy giờ gồm các đồng chí Nguyễn Đức Phiên (Hoài Chân), Nguyễn Văn Mãi, Lý Hải Châu, Nguyễn Xuân Sanh, và do nhà văn Nguyễn Đình Thi làm giám đốc. Lúc này có chủ trương chung từng bước sử dụng văn nghệ sĩ có khả năng, nhưng bấy lâu có vướng mắc này nọ, hiện đang gặp những khó khăn trong đời sống. Nhà văn Đoàn Phú Tứ từ năm 1962 không còn dậy học ở Albert Sarraut, gia đình đông miệng ăn, chỉ trông vào đồng lương ít ỏi của một người đi làm nhà nước là vợ nhà văn, được nhiều người trong NXB chú ý. Từ việc cộng tác đầu tiên – tập Kịch Caragialê, ban lãnh đạo NXB đã mời nhà văn Đoàn Phú Tứ làm cộng tác thường xuyên: ngoài việc bản thân ông tiếp tục nhận dịch sách, ông giúp thêm việc biên tập, hiệu đính các bản thảo dịch của những người khác, tạo cho ông có thu nhập tương đối đều đặn với một hợp đồng cộng tác viên có lương hàng tháng…
Sau đây là danh mục các tác phẩm dịch của Đoàn Phú Tứ từ năm 1964 đến lúc mất:
- Môlie. Kịch. Người hà tiện,
Trưởng giả học làm sang, 1968
- Ipxen. Kịch. Nhà búp bê, 1970
- Xtăngđan. Tiểu thuyết Đỏ và đen, 2 tập, 1971,
in lần thứ 5, 1996
- Ipxen. Kịch. Hồn ma bóng quỷ, Con vịt trời, 1973
- Alfrết đờ Muyxê. Kịch. Lôrenzáxiô, Kantanziô,
Không đùa với tình yêu Bácbơrin, 1975
- Môlie. Kịch. Thằng Tactuyf. Anh chàng ghét đời, 1977
- Sêchxpia. Hài kịch. T.I. Người lái buôn thành Vơnidơ,
in chung với bản dịch của Song Xuân.
Giấc mộng đêm hè, 1979, từ trang 83 đến 186.
- Rabơle. Tiểu thuyết. Gargăngchuya, 1983
- Anatôn Franx. Tiểu thuyết Thiên thần nổi loạn, 1987
- Pirandelo. Kịch. Sáu nhân vật đi tìm tác giả (chưa in)
 
Qua danh mục sách ở trên chúng ta thấy tất cả các tác phẩm Đoàn Phú Tứ dịch đều là những kiệt tác của các tác giả thế giới nổi tiếng từ xưa đến nay. Các tác phẩm này đều mang những nội dung tư tưởng nhân văn cao cả, đều thuộc loại mẫu mực về văn phong. Phần lớn số này lại là các tác phẩm kịch, mà chủ yếu lại là hỉ kịch và hài kịch, hợp với bút pháp của chính nhà viết kịch Đoàn Phú Tứ đã từng nổi tiếng trước đây. Có những tác phẩm nguyên bản thuộc loại cổ văn, chữ nghĩa không phải ai biết tiếng Pháp cũng có thể hiểu được, như Pantagruyen Gargăngchuya của Rabơle, đến nay ở ta có lẽ chỉ có Đoàn Phú Tứ mới dịch nổi cho thanh thoát với những chú giải rất nghiêm túc, sâu xa.
Đánh giá về chất lượng các bản dịch thuật của Đoàn Phú Tứ tôi xin dựa vào hai ý kiến có uy tín lớn. Nhà văn Như Phong, thời kỳ làm giám đốc NXB Văn học, đã viết: “Trong những nhà văn chuyên về dịch thuật này có anh Tuấn Đô là một nhà văn cũ, bây giờ vì lẽ này lẽ khác, không sáng tác nữa chuyển hẳn về dịch văn học thế giới. Trong những điều kiện sinh sống eo hẹp, túng thiếu, anh đã làm việc rất khỏe, trong mười mấy năm trời đã dịch được năm vở kịch của H.Ipxen, mấy vở kịch của Môlier, của A. đờ Muytxê, một bộ tiểu thuyết của Xtăngđan và đặc biệt nhất là những tác phẩm chủ yếu của Rabơle, một nhà văn lớn ở thế kỷ 16 của nước Pháp, viết bằng một thứ văn Pháp cổ, rất khó dịch. Anh dịch rất chính xác lại có nghệ thuật, vì bản thân anh trước khi chuyên về dịch đã là một nhà văn sáng tác. Anh lại uyên bác, có một kho hiểu biết sâu rộng về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, phong tục của nhiều nước châu Âu, nhất là về nước Pháp, nên chú thích, tiểu dẫn, trong các bản dịch của anh rất bổ  ích, hấp dẫn”(7)
Còn tác giả Nhớ bạn Nguyễn Lương Ngọc cũng có nhận xét tương tự: “Tuy anh là người ưa tự do, làm việc ít kế hoạch, nhưng trong công tác dịch thuật anh lại là người rất cẩn trọng, rất tỉ mỉ nên đã tránh được nhiều lần hiểu sai nguyên tác. Vốn là người rất giỏi viết văn, anh đã cố dịch sao cho sát đúng nguyên bản, đồng thời lại phù hợp với ngôn ngữ Việt. Anh thích nhất là dịch kịch. Đó cũng là lẽ đương nhiên. Anh vốn sành viết kịch. Anh thường nói: Lời trong kịch vừa là lời nói thông thường, vừa không phải là lời nói thông dụng, nó phải có ngữ điệu như thế nào đó thì nó mới có thể vượt sàn đèn được (dépasser là rampa). Anh cũng rất thích dịch Rabôleis, do anh có hiểu biết về Latinh. Chắc người không biết Latinh khó có thể hiểu được Rabôleis, nói gì đến việc chuyện nhà văn vốn còn chịu nhiều ảnh hưởng của tiếng Pháp cổ sang tiếng Việt cũng cần có sắc thái cổ…”(8)
Mỗi bản dịch của Đoàn Phú Tứ là một thành công. Nhưng những thành công đó lại có những nguyên do khác nhau. Thêm một thí dụ nữa: thành công bản dịch Đỏ và đen của ông. Ngoài những yếu tố khác thể hiện khi dịch các tác phẩm đã nhắc ở trên, nhà văn  Bùi Hiển có lần đã vừa cười vừa nhận xét với tôi: “Juyliêng Xôren cũng là Đoàn Phú Tứ ấy mà...”. Điều đó ngụ ý nói người dịch đã chọn đúng tác phẩm “hợp” với mình và khi dịch đã hóa thân thành nhân vật của tác phẩm, như diễn viên nhập vai thể hiện nhân vật trên sân khấu. Nhưng để nhập được “vai” không nhất thiết ở ngoài đời thật diễn viên cũng phải giống y như nhân vật. Để có thành công, điều quan trọng là tài năng và lao động của người diễn viên. Chỉ qua một vài dòng trong lời người dịch in ở đầu sách Đỏ và đen ta cũng có thể thấy được điều đó - chính quan niệm đúng đắn và tác phong làm việc cẩn trọng của dịch giả đã đưa đến thành công của bản dịch: “Dịch tác phẩm này, chúng tôi sử dụng bản tiếng Pháp của Nhà xuất bản Fernand Hazan (Tủ sách Les Classiques du Monde) do Henri Mactinô (Martinean) trình bầy, chú thích đề tựa…”. “Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo bản in tiếng Pháp của Nhà xuất bản Ngoại văn Liên Xô (Moskva, 1957), có lẽ dựa theo Bucci, chúng tôi đặc biệt chú ý phần chú thích bằng tiếng Nga của bản in này, để bổ sung những chú thích của chúng tôi”.
Sở dĩ H.Mactinô không theo bản năm 1954, mà lại theo bản in lần đầu, là vì ông cho rằng “nên đọc Đỏ và đen khi chưa sửa chữa tí nào, cứ nguyên như nó từ trí óc của Xtăngđan một mạch tuôn ra, sôi sục ồ ạt, như lửa phun từ hỏa diệm sơn”, mặc dù làm như vậy có thể bị trách là đã tiếp nhận cả một số lỗi sơ suất của lời văn. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý ý kiến đó, khi sử dụng vào công việc dịch thuật bản in do H.Mactinô trình bày. Và trung thành với chủ trương này khi gặp những câu văn có vẻ luộm thuộm của tác giả, chúng tôi không lấy ý kiến riêng để sắp xếp sửa sang lại, mà cố dịch sát cả ý lẫn cách hành văn. Làm như vậy, chúng tôi nghĩ rằng là đã cố gắng nghiêm túc làm trọn nhiệm vụ người dịch, tôn trọng bản sắc của tác giả, không để cho cái bóng đen của mình chen lấn mất phần nào tác phẩm mình giới thiệu”(9).
 
Tôi còn giữ một lá thư của dịch giả Đoàn Phú Tứ viết cho, đề ngày 10-1-1973, cũng có thể chứng minh thêm thái độ lao động nghiêm túc sáng tạo của ông.
Anh Toàn,
Gửi lại anh hai vở kịch của Ibsen: Ma quỷ và Vịt trời (Bản đánh máy đã sửa chữa kỹ, có thể đưa nhà in được, nhưng còn phải dặn kỹ nhà in về cách trình bày, kiểu chữ… vì từ trước đến nay, do sự luộm thuộm của anh chị em NXB không chuẩn bị tốt bản thảo đưa in, nên vẫn có những lỗi trình bày, nhất là các vở kịch. Khi chữa morasse thì không thể nào chữa hết được vì sẽ phải đảo lộn cả, mất nhiều công. Mong rằng khi nào đưa nhà in, anh cho tôi biết để tôi đưa một maquette điển hình, cứ theo đó mà trình bày, xếp chữ.
Bản đánh máy này có tốt hơn so với những lần trước, nhưng vẫn còn tồn tại một số thiếu sót, như không nghiêm chỉnh tôn trọng những dấu chấm, dấu ngoặc, chữ gạch dưới… của bản viết tay. Đề nghị lưu ý các bạn đánh máy chú trọng điểm đó hơn nữa, thì tốt.
Anh cho tôi mượn:
1. Quyển Nhà búp bê (để tham khảo viết tiểu dẫn cho hai vở này).
2. Quyển Ibsen tiếng Pháp, có Le Canazd Sauvage, để tôi xem lại nguyên văn, ngộ nhỡ còn có một vài điểm cần sửa chữa bản dịch thêm, trước khi in, chăng.
Thân ái
Tứ
 
Không phải trong biên chế NXB Văn học, nhưng nhà văn Đoàn Phú Tứ thực sự gắn bó với công việc xuất bản của nhà xuất bản. Ông gần gũi với nhiều anh chị em trong nhà xuất bản. Có lần ông đã vào chi nhánh Nhà xuất bản Văn học tại TP.Hồ Chí Minh làm việc bảy tám tháng. Ông vừa theo dõi việc in ấn bộ Hài kịch Sechxpia, trong đó có cả một bản dịch của ông - Người lái buôn thành Vơnidơ, - vừa làm công việc biên tập các bản dịch của người khác. Trong công việc biên tập nhà văn Đoàn Phú Tứ cũng có thái độ nghiêm túc như trong công việc dịch thuật của chính mình. Trong tay tôi may mắn còn giữ được một tập góp ý nhận xét của ông về bản thảo 36 bài dịch ngụ ngôn của Tú Mỡ, từ năm 1965.
Tập góp ý có tới 36 trang, mở đầu còn có một nhận xét chung. Ông viết: “Dịch rất tài tình. Nhiều bài rất hoạt, nghe không thấy lời văn dịch, so với những bài ông Vĩnh dịch trước kia, có phần xuất sắc hơn (tất nhiên là nói chung, vì có một vài chỗ đặc biệt thành công của ông Vĩnh thì không so sánh làm gì).
Dịch giả tỏ ra có công nghiên cứu nguyên văn một cách nghiêm túc, hiểu thấu đáo câu văn Pháp cổ điển rất khúc mắc (tuy cũng còn sơ sót vài chỗ, tất nhiên, nhưng rất ít).
Đáng tiếc là sự thành công đáng được mong chờ ở dịch giả một cách đều đặn hơn, thì trái lại, còn một vài bài chưa thấy được đến mức mong đợi. Nếu không vì lý do thời gian gì đó, thì đề nghị dịch giả lưu tâm sửa lại, cho ngang với những bài khác. Được thế thì tiểu tập này sẽ được hoàn hảo. 9/9/1965”.
 
Tiếp theo là các trang góp ý tỉ mỉ cho từng bài dịch. Có bài dịch ông chỉ ra có tới hơn mười chỗ gợi ý để dịch giả xem lại. Chẳng hạn về bản dịch bài Thiếu phụ góa chồng, Đoàn Phú Tứ nhận xét:
Nói chung, bài dịch hay:
1) Ngày buồn chắp cánh bay xuôi
Thời gian lại dẫn nguồn vui trở về.
Câu dưới dịch sát hơn câu trên. Câu trên, kể ra dịch được thoát ý và lời hay, song hơi tiếc rằng bỏ mất hình ảnh sur le air du Temp…”
2) So với người vợ góa năm kia
Với người vợ góa hôm kìa khác xa.
Dịch không làm cho thấy được đây chỉ là một người, so lúc mới góa một ngày và lúc ở góa đã được một năm (như câu dưới nói rõ: cùng một cô ta). Trái lại, bạn đọc có thể hiểu lầm là có 2 người khác nhau.
3) Cô xưa muôn vẻ hút người
Cô nay khiến khách tếch rời lãng xa.
Cô xưa và cô nay: càng làm tăng sự hiểu lầm nói trên. Xưa hút người, nay… khó hiểu.
-      Hút người: không sát và không được nhã. Sở dĩ hai câu này không ổn, vì quá nệ bám lời văn. Có thể dịch thoát ý như sau:
Xưa sao khiến khách xa vời
Nay sao duyên dáng lắm người say sưa...”
Và cứ tiếp tục như thế suốt 36 trang viết tay. Dịch giả Tú Mỡ nhận được bản góp ý đã nghiên cứu kỹ lưỡng, tiếp thu phần lớn những góp ý ấy, bên lề mỗi ý kiến đều ghi rõ: “Đã sửa lại”, “Đã chữa và chú thích”, có chỗ còn ghi: “Đã sửa lại (dịch giả xin chịu mình dốt), “Đã sửa lại. Hay quá!”, “Xin lĩnh ý kiến và đã sửa lại. Hay!”, “Đã sửa lại cả một đoạn 9 câu”, “Đã viết lại cả một đoạn đầu cho sát nguyên bản và lọn nghĩa hơn”, “Hoan nghênh. Đã sửa lại”, “Đã dịch lại cả bài”…
Hoạt động dịch thuật là hoạt động chủ yếu trong giai đoạn 2 của nhà văn Đoàn Phú Tứ tính ra kéo dài tới một phần tư thế kỷ. Khối lượng các bản dịch của ông thật sự là to lớn. Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam về văn học dịch (1983-1984) trao tặng cho ông nhân bản dịch Pantagruyen Gargăngchuya, nói riêng, và toàn bộ hoạt động dịch thuật, nói chung, của ông cùng với tấm huy chương Chiến sĩ văn hóa do Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam gắn cho ông trong dịp kỷ niệm 35 năm thành lập Nhà xuất bản Văn học là một ghi nhận rõ ràng của xã hội đối với tài năng và lao động cần cù sáng tạo trong lĩnh vực dịch thuật của Đoàn Phú Tứ.

1: Văn Tâm – Đoàn Phú Tứ con người và tác phẩm, NXB Văn học, 1994, 662 trang
2: Văn Tâm, sách đã dẫn, tr.38-41. Hồi ký Đào  Xuân Quý - Từ cái nôi văn học, NXB Văn học, 1994, tr.269
3: Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 1988, tr.113
4: Văn Tâm, sách đã dẫn, tr.15-17 và 21-23
5: Nguyễn Lương Ngọc, Nhớ bạn, NXB Văn học, 1992, tr.149, 157
6:Văn Tâm, sách đã dẫn, tr.8
7: Như Phong, Tuyển tập Như Phong, tập 1, NXB Văn học, 1994, tr.359-360
8: Nguyễn Lương Ngọc, Nhớ bạn, NXB Văn học, 1992, tr.158
9: Tuấn Đô, Lời người dịch in trong Đỏ và đen, T1, NXB Văn học, 1971, tr.55-56

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 2.11.2014.