Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





250 NĂM SAU, VẪN ĐẾN GIỖ THẦY








Trong đạo lí ngàn xưa của cha ông, ông thầy là một trong ba giềng mối lớn nhất của cả xã hội, cùng với vua và cha đẻ của mình. Nhưng theo giỗ thầy liên tục đến 250 năm và tiếp theo nữa, thì tôi không biết có nơi thứ hai nào không?

        Đó là con cháu dòng họ Phạm Đình ở làng La Đôi, xã Hợp Tiến, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, mà người đại diện hiện nay là ông Phạm Đình Thảo. Ông Thảo sinh năm 1947, đã tham gia quân đội trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, về hưu ở cấp bậc đại úy. Nhiều năm gần đây, lần nào về “giỗ tổ”, tôi cũng gặp ông cùng hai hoặc ba vị nữa trong dòng họ. Trước nữa là cha ông, rồi trước nữa nữa là ông nội của ông và các vị cùng đi... đời đời theo giỗ thầy vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch hằng năm. Đó là ngày “hợp tế họ”, tức là ngày giỗ chung của ba vị tiến sĩ – ba đời trực hệ: ông, cha, con, của dòng họ Trần Điền Trì ( nay thuộc xã Quốc Tuấn, cùng huyện), gồm ông là Hầu tước Trần Thọ, làm quan từ Tả thị lang bộ Hộ đến Tham tụng, Hình bộ thượng thư, Triều Liệt đại phu, Trụ quốc, một nhà thơ và nhà ngoại giao ở thời Lê; Con là Công tước Trần Cảnh, làm quan từ Binh bộ thượng thư, tước Quận công, đến Tham tụng, Lễ bộ thượng thư, Triều Liệt đại phu, Thượng Trụ quốc, là nhà khoa học nông nghiệp đầu tiên của Việt Nam, tác giả bộ sách Minh nông chiêm phả dâng vua Lê Hiển Tông năm 1749, khi mất được nhà vua tổ chức Quốc tang 3 ngày; và cháu là Bá tước Trần Tiến, Phó đô Ngự sử, Triều Liệt đại phu, truy phong Lễ bộ thượng thư, nhà sử học đồng thời là nhà văn nổi tiếng thời Lê, người sáng lập thể Kí tự thuật trong văn xuôi Việt Nam từ năm 1764, với tập kí tự thuật đầu tiên của Việt Nam, Trần Khiêm Đường niên phả lục. Trần Tiến là thầy dạy vị đại khoa của dòng họ Phạm Đình.
        Vị đại khoa này là Phạm Đình Toại, học trò của quan Phó đô Trần Khiêm Đường ( Trần Tiến). Theo ông Phạm Đình Thảo cho biết, cụ Phạm Đình Toại đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất, năm 1766, đời vua Lê Hiển Tông, sau thầy 18 năm ( Trẩn Tiến đỗ tiến sĩ năm 1748), dân gian địa phương, do đó gọi là cụ nghè La, để tránh tên húy của cụ. Cụ từng làm quan tổng trấn vùng biên giới phía Bắc thuộc đất hai tỉnh bây giờ là Cao Bằng và Lạng Sơn. Sau về làm quan ở tỉnh Bắc Giang. Khi đỗ tiến sĩ, sau lễ vinh qui, cụ sang lễ thầy, và trước đó, từ lúc học thầy, đã dự các ngày giỗ ông, rồi giỗ cha của vị thầy của mình. Đến khi thầy mất thì cùng làm lễ giỗ thầy. Đến khi hết tang Trần Tiến, theo lời dặn của quan Phó đô, dòng họ Trần Điền Trì chọn một ngày “ hợp tế”, tưởng niệm công đức của cả ba đời đại khoa cho con cháu có ngày họp chung mà tiết kiệm được thời gian và tiền của, ( sau đó đến ngày giỗ riêng từng vị, trưởng họ chỉ có con gà đĩa xôi và đèn nến hương hoa mà thôi). Ngày “ hợp tế” 13 tháng Giêng hằng năm của dòng họ Trần Điền Trì bắt đầu từ đó. Khi từ trần, cụ nghè La di chúc cho các thế hệ con cháu phải đời đời nhớ công ơn thầy và theo giỗ thầy đến mãi mãi...
       Theo tự truyện do chính Trần Tiến thuật lại, thì cha ông, tiến sĩ Trần Cảnh trước khi về triều làm Tham tụng – thượng thư ( Tể tướng – bộ trưởng) từng làm Án sát Ngự sử đạo An Quảng ( tức Quảng Ninh ngày nay) và Trần Tiến đã ở An Quảng với cha 6 năm, học chữ đầu tiên ở đây, làm bài thơ đầu tiên cũng ở đây, năm Nhâm Dần ( 1772) khi mới 14 tuổi. Trần Tiến viết: “ Tôi theo thân phụ, học tập tại xứ An Quảng và làm thơ phú rất có khả quan, có câu luận như sau:
                                                                                Cố giả Quản , Y phi dị ngộ
                                                                       Dụng cho công hóa khởi nan thành
                                                       ( Người xưa như Quản Trọng, Y Doãn không dễ gặp
                                                                                Dùng họ, công hóa há khó thành )
     và một số câu nữa. Thân phụ hết sức ngợi khen”. ( Trần Khiêm Đường Niên phả lục, 1764. PGS – TS Nguyễn Đăng Na dịch. Nxb Văn học, 2003, trang 219). Gặp được người tài như Quản Trọng, Y Doãn là rất khó và dùng được họ, thì mọi việc không khó thành. Chính quan niệm rất sâu sắc này về hiền tài của Trần Tiến có từ thuở nhỏ đã thúc đẩy ông học tập và khi làm thầy thì ông rèn học trò của mình, hi vọng thành Quản Trọng, Y Doãn để phò vua giúp nước, xây đời thịnh trị thái bình.
     Chưa rõ quan nghè La, phò vua giúp nước có công đến đâu, được biết khi về hưu, theo ông Thảo cho biết, vua Lê đã ban cho cụ nghè một bè gỗ lớn, để cụ chia đôi, xây đủ hai ngôi đình, một là ở Lục Nam ( Bắc Giang ) và hai là ở làng La Đôi quê hương cụ, để bày tỏ sự tri ân của cụ đối với hai vùng đất này. Và theo gương người cha của vị thầy của mình là quan Tể tướng Trần Cảnh, người đã trả lại toàn bộ ruộng đất cho dân làng, quan Tể tướng đã mua từ ngày bắt đầu ra làm quan, mà không lấy lại một đồng tiền nào ( chưa rõ tổng số là bao nhiêu mẫu, Niên phả lục không ghi ) vì Trần Cảnh cho rằng, tiền lương là tiền của dân, vậy dùng tiền đó của dân để mua ruộng đất thì trả ruộng đất cho dân, còn lấy lại tiền làm sao được. Cụ nghè La, theo gương đó, chỉ để lại 40 mẫu ruộng cho dòng họ làm hương hỏa, cày cấy hằng năm để có hương nến trong nhà thờ, còn 626 mẫu, lần lượt chia cho dân làng theo độ tuổi: 60 tuổi – trở lên thì mỗi người 10 thước, dưới 60 thì mỗi người 7 thước, dưới 40 thì 5 thước một người cho mỗi hộ gia đình... Người cày thế là có ruộng, hoặc có thêm ruộng, đời sống bớt khó khăn. Việc làm ấy của người xưa, đáng để cho chúng ta ngày nay suy ngẫm về đạo đức của người cán bộ của dân, do dân và vì dân...
     Đến ngày “hợp tế”, 13 tháng Giêng năm 2015 tới đây, là tròn 250 năm, con cháu dòng họ Phạm Đình làng La Đôi đến làm lễ giỗ thầy. Tấm gương tôn sư trọng đạo ấy quả thực là rất hiếm có.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 19.10.2014.


Quay Lên Đầu Trang