Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


DANH LAM

THẮNG CẢNH VIỆT NAM





SA PA: VÙNG ÐỊA ÐẦU



Sa Pa nằm trong mạch Hoàng Liên Sơn, ở đoạn cực bắc, thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn.

Từ Hà Nội đi Sa Pa tiện hơn cả là đi xe lửa, từ ga Hàng Cỏ đến ga Lao Cai, dài 296km; sau đó đi ô tô lên Sa Pa thêm 38km nữa.
Tuyến khác, đi bằng ô tô, từ Hà Nội theo đường số 1A sang Tiên Yên, rồi theo đường số 2 lên Phúc Yên, Vĩnh Yên, Việt Trì, Phú Thọ, Đoan Hùng, Thác Bà. Từ Thác Bà đến thị xã Yên Bái (14km) đi ca nô hay xe lửa. Từ đây đến Lao Cai thêm 156km, đường gập ghềnh, tốt hơn hết là đi xe lửa.
Lao Cai nằm trên bờ sông Hồng ở một ngã ba sông: một nhánh sông nhỏ là sông Nậm Thi đổ vào sông Hồng ở ngay thị xã là biên giới thiên nhiên của hai nước Hoa Việt; qua sông có chiếc cầu sắt nối Lao Cai bên nầy và Hà Khẩu bên kia; từ đầu cầu bên kia là điểm đầu của tuyến xe lửa lên Côn Minh.
Thị xã Lao Cai cách biển 412km, lại nằm trong thung lũng khá sâu, nên vào mùa đông, gió thung lũng thổi lên hun hút rất lạnh; vào mùa hè, không khí rất oi bức. Nhưng hoàn toàn tương phải với vùng đất cực đoan nầy là những sườn cao của dãy Hoàng Liên Sơn ở ngay bên phía tây; một phần sườn núi khá rộng ở tây nam Lao Cai đã được lập thành khu nghỉ mát cao nhất nước ta: Sa Pa.
Tên cũ là Sà Bả, độ cao 1560m; như vậy cao hơn Đà Lạt khoảng 30m. Từ Lao Cai, cao độ hơn mặt biển chừng 80m, nhưng đến Sa Pa cao1,50m, đường bộ chỉ có 38km, cho nên con đường rất dốc, khí hậu cũng thay đổi nhanh chóng.
Vào những ngày mà phố xá Lao Cai nóng tới 36 độ C, thì xe chỉ mới chạy chừng 10km, đến bản Cốc Xan, cái nóng tựa hồ như mất dần, như chuyển sang mùa thu. Từ Cốc Xan trở lên.
Con đường leo dốc song song với nhánh sông Ngoi Dum bên cạnh, rồi đi ngang qua nhiều bản thôn lớn như Chu Kang Ho, Mương Xen, Mương Bo, và đến cây số 30 thì gặp bản Sa Pa Hạ. Sau đó, con đường lượn vòng theo sườn núi Lò Sui Tông, từ phía đông sang phía nam, khoảng 6, 7km nữa thì đến Sa Pa.

Thị trấn nghỉ mát nầy nhìn xuống thung lũng sông Mường Bô chảy ở bên dưới cách khoảng 300m. Sông nầy đổ ra sông Hồng phía dưới Lao Cai. Trong khu phố xá Sa Pa, nhà cửa san sát nhau, có một số khách sạn gần khu chợ, trước đó là con đường lát đá. Từ trong thị trấn, đường nhựa kéo dài ra bên ngoài phố xá, vòng quanh những quả đồi rộng.
Trước kia, trên những quả đồi, có những biệt thự xinh xắn, vì Sa Pa lập thành khu nghỉ mát từ tháng 8 năm 1922, nhưng đã bị phá sạch trong chiến tranh chống Pháp. Nay chỉ còn lại vết tích của vài cánh cổng và vài mảng tường. Giữa nhà nọ và nhà kia là những khu vườn xanh um, những bãi cỏ xanh mướt, nằm nghiêng nghiêng theo triền dốc. Xa xa, có rừng thông, rừng bách diệp.
Sa Pa nhộn nhịp nhất vào những ngày phiên chợ, nhất là chợ tình.Chợ họp ngay giữa phố; bước ra cửa khách sạn đã thấy chợ. Trong những tháng 6, 7, 8, du khách thường đua nhau lên nghỉ mát, cũng là mùa đào, mận, quýt đúng lứa. Cũng có nhiều lâm sản khác như: măng, nấm, mộc nhĩ, mật ong... từ những bản thôn đưa ra bán.
Những sắc dân Thái, Dao, Nhắng, Mèo, với những chiếc gùi đựng nấm tươi, măng tươi, đào từng đoàn nối đuôi nhau từ mọi phía đến Sa Pa.
Đào Sa Pa nổi tiếng, da vàng, cùi mềm, quả to, vị ngọt thanh. Má đào đỏ ửng là giống đào Mèo; đẹp và ngon là giống đào Vân Nam. Đào Sa Pa không bán chục, bán cân, mà bán từng giỏ tre dài. Loại mận Sa Pa không thua gì mận Cao Bằng, cùi giòn và ngọt. Mận ngon là mận bên sườn núi Sang Tả Vạn, một ngọn núi cao nằm gần Sa Pa, tả ngạn sông Mường Bô. Tả Vạn có con đường nối liền với thị trấn: đây là nơi đồng bào sắc tộc chuyên nghề trồng trọt lâu đời và cũng là trọng tâm sản xuất của toàn vùng.
Nhiều di tích khảo cổ học được phát kiến vùng nầy. Hiện nay vẫn còn vết tích những nếp nhà mái cong, kiểu con thuyền. Tả Vạn cũng nổi tiếng về nghề trồng nấm. Ngày phiên chợ Sa Pa như ngày hội. Trai gái Mèo, Dao, Nhắng từng cặp đưa nhau ra chợ. Họ vui đùa ca hát. Buôn bán xong, họp nhau để múa hát. Những cô gái Mèo mặc váy hồng, những chàng trai Nhắng thổi khèn. Họ sành về lối hát "lượn". Đây là một hình thức sinh hoạt văn hoá lành mạnh gần như hát ví, hát ghẹo của người Việt.
Hát lượn phổ biến trong các lứa tuổi nhất là nam nữ thanh niên. Lượn thường phản ánh tình cảm, tư tưởng, ước mơ, nguyện vọng của người Dao, Tày, Nhắng. Với họ khi một chàng trai, cô gái đi chợ tình Sa Pa mà không biết thể điệu hát lượn quả là điều sỉ nhục. Sa Pa là một vùng đẹp nổi tiếng trong nước là nhờ khí hậu, cũng là nơi được tổ chức trung tâm nghỉ mát từ trước
Mùa hè, trong những tháng nóng nhất, giữa trưa, trời Sa Pa vẫn lành lạnh, nhiệt độ chỉ vào khoảng 23 - 24 độ C, không mấy khi lên quá 27 độ C. Tháng bảy là tháng nóng nhất; trong khi ở Hà Nội nhiệt độ trung bình là 29 độ C, Sa Pa chỉ là 20 độ C. Những tháng hè khác đều dưới 18 độC.
Nắng Sa Pa đẹp nhất vào những ngày tháng 6, 7, 8. Gió từ những ngọn núi cao chung quanh thổi xuống, nhất là cái gió từ đỉnh núi Lô Qui Hô xuống theo thung lũng sông Mường Bô. Thường là càng về trưa, trời càng đẹp, chỉ lửng lờ vài cụm mây tích treo cao.
Cái nóng ấm thời gian nầy đã giúp cho đào, mận chín rộ. Khách nghỉ hè thường lên Sa Pa vào dịp nầy. Vào những tháng nầy, du khách có thể đi chơi xa hơn. Họ có thể đi ngược thung lũng Mường Bô, lên tới đỉnh đèo Lô Qui Hô cao 2034m. Đèo nằm phía tây thị trấn, trên đường xe hơi đi Bình Lư, Phong Thổ. Đèo nầy chính là cái thác nước phân phối cho cả vùng. Trường hợp du khách đi chơi gần thì đến Cầu Mây, bắc qua đoạn sông Mường Bô, dưới thị trấn vào khoảng 8km. Dọc theo sông nầy, có thế ghé thăm các bản người Dao, Thái, Nhắng.
Ở Sa Pa ban ngày ít mưa. Thường chỉ mưa vào ban đêm, nhất là vào lúc gần sáng thì mưa to, nhưng vừa rạng đông thì tạnh ráo, trời quang mây tạnh, đường sá không chút bụi bặm, hoa lá xanh tươi. Lượng mưa tại Sa Pa không nhỏ; chỉ riêng tháng 7 lượng mưa thường là 500mm đến 510mm. Nhưng tại vùng nầy, mặt đất dốc, thoát nước nhanh, cho nên không hề làm đọng nước. Du khách đến Sa Pa không cảm thấy ẩm thấp.
Chỉ trong mùa đông, mới thấy có cái rét buốt và ẩm thấp; trời lạnh khoảng 5 đến 10 độ C. Sương mù phủ khắp núi rừng cũng như phố phường. Có nhiều ngày đường sá nhà cửa như chìm đắm trong sương mù dày đặc; nhìn trong nhìn ra không thấy khách qua đường. Những ngày nầy, dân các bản thôn đều đốt lửa sưởi ấm.
Nhiều năm, Sa Pa có tuyết rơi, phủ lên trên mái nhà và mặt đất một lớp mỏng, vài cm; màu tuyết không trắng, mà là màu tro xám; người địa phương gọi là "mưa tro". Dưới khí hậu miền núi nhiệt đới nầy, Sa Pa cũng như những sườn cao trong dãy Hoàng Liên Sơn là giang sơn của một loại rừng đặc biệt, gồm 2 tầng.
Cây cối Sa Pa có nhiều giống loài gốc ôn đới: sồi, dẻ, nhiều nhất là những cây lá kim, họ tùng bách như thông, trắc bá diệp, kim giao, sa mộc, bạch mộc.
Nhưng trong loại rừng nầy, tùy theo điều kiện đất đai khác nhau, mỗi nơi có một loại cây chiếm ưu thế, nơi nầy gọi là rừng thông nàng, nơi kia gọi là rừng thông tre, rừng liễu sam, rừng kim giao. Đi chơi quanh Sa Pa vào chục cây số, du khách có thể khá nhiều rừng pơ-mu và sa-mu. Thành thử những mái nhà Sa Pa thường lợp bằng lá sa-mu, trông mỏng nhưng rất bền. Rễ sa-mu là dược thảo.
Du khách có thể đến chơi vùng Xéo Mi Tỉ và Mường Hum bằng xe ngựa, vì toàn đường đất. Nhiều nơi cho thuê ngựa, tính theo ngày. Ngựa cho thuê đều là ngựa Mẹo, quen đưa khách, nên rất thuần, ai cũng cỡi được.
Vì đường núi mấp mô, đoạn thì hẹp, đoạn thì gập ghềnh, lổn chổn đá tảng, lại băng qua suối, qua ngòi, nhưng ngựa Mẹo thì rất thông thạo, vượt qua dễ dàng. Gần Sa Pa có nhiều thôn người Kinh. Người gốc Hà Nam, Nam Định, Thái Bình đưa nhau lên đây trồng rau giống xứ lạnh, lập thành nhiều vùng chuyên canh bắp cải, su hào, su lơ.
Ngày nay, có nhiều hợp tác xã và nông trường trồng rau. Những cô gái Sa Pa có nước da trắng, mịn màng, má ửng hồng. Núi xưa nay vẫn là nơi tuổi thọ của con người chiếm kỷ lục; Sa Pa được chọn là nơi an dưỡng tốt vào bậc nhất.
Tại Sa Pa có đặt đài Khí tượng và đài Địa cầu vật lý. Từ Sa Pa nhìn về phía tây nam thì thấy đỉnh Fansipan (3143m) cao nhất Việt Nam, đồ sộ nhô ra vượt hẳn lên trên những đỉnh núi gần trước mắt.
Trên cái "nóc nhà của toàn bán đảo Đông Dương" ấy, trời lạnh và ẩm hơn ở Sa Pa. Vùng đó gió thổi lồng lộng, cây cối khó mọc lên cao; thông, liễu, trúc đều thấp lùn, cao nhất chỉ chừng 80cm. Từ đỉnh Fansipan nhìn xuống, ít khi thấy được Sa Pa; chỉ thấy mây trắng, lớp lớp tràn lan.


HỒ BA BỂ


Ba Bể là hồ lớn, rộng 6, 7km2 (gồm 3 hồ nhỏ) nằm trong vùng núi đá vôi, cách thị xã Bắc Cạn chừng 60km, thông với sông Năng. Hồ nằm ở độ cao 145m, dài 9km và rộng từ 500 đến 1000m.

Trên địa diện, vòng núi cánh cung sông Gầm đang chạy liên tục, thì ở khoảng giữa bỗng trũng xuống, tạo ra một vùng núi, rừng, sông, suối, hang động, thác nước và biển hồ, lọt vào giữa núi rừng Việt Bắc: đó là hồ Ba Bể.
Từ trước đến nay, Ba Bể đã làm cho du khách say mê vì đó là một vùng đá vôi mọc lên bất ngờ giữa một miền toàn núi đồi diệp thạch và sa thạch. Núi diệp thạch và sa thạch không cao, khắp nơi đều phủ rừng, vóc dáng nặng nề, trông như những đàn voi phủ phục, được gọi là núi đất.
Giữa cảnh đơn điệu nầy, bỗng xuất hiện những sườn núi đá vôi dựng đứng, những đỉnh núi lô nhô, đủ hình, đủ dạng.
Đường từ Hà Nội đi Ba Bể dài 242km. Trước tiên là đoạn đường xe lửa lên Thái Nguyên (72km); đoạn nầy nếu đi ô tô thì dài 80km. Từ Thái Nguyên khách chuyển sang ô tô đi Chợ Rã (145km) rồi từ Chợ Rã mà vào hồ cũng bằng ô tô (17km) Ba Bể nằm trong huyện Chợ Rã, tỉnh Bắc Thái. Từ Chợ Rã vào Ba Bể có thể đi theo đường bộ hay đường sông.
Trước tiên đi một đoạn đường ô tô dài 10km, song song với sông Năng để đến Bản Vài. Cư dân vùng nầy đều là đồng bào Tày ở xã Khương Ninh. Nhà cửa toàn là nhà trệt, tường gỗ, mái hình cong hình vẩy cá. Suốt từ Chợ Rã vào hồ toàn là loại nhà nầy, nhưng ra xa hồ thì cư dân làm nhà sàn; nhiều ngôi nhà lợp ngói.
Ba Bể hình thành do một vùng núi đá vôi sụt xuống, vì lòng khối núi đã bị nước chảy ngầm đục rỗng; thành thử các bể đều hẹp vàsâu, kéo dài thành 3 nhánh. Ba hồ nầy có tên là Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng (Pé theo tiếng Tày nghĩa là hồ). Từ sông Năng vào là Pé Lầm, qua con ngòi là bắt đầu vào hồ. Ở đây mặt hồ được mở rộng thành hình tròn, bốn bề núi đá vôivây kín.
Nếu thuyền đi chếch về phía tay trái chừng 800m, khách có thể ghé vào bờ hồ phía đông, trèo lên núi theo một con đường mòn không dốc lắm, qua một cái quèn cao hơn mặt hồ khoảng 40m, rồi từ đấy theo đường mòn xuống một cái ao hình bầu dục, bề ngang 100m, bề dọc 200m, nằm lọt giữa những vách núi đá bao kín chung quanh.
Ngay cả những ngày mùa đông, mặt nước có hạ thấp, nhưng không bao giờ cạn. Ao nầy có rất nhiều cá: cá chắm, cá chép, cá mè, cá quả. Nhiều con lớn, nặng đến 7, 8 cân. Vì những nét đặc biệt nầy, dân trong vùng gọi là Ao Tiên. Hồ Pé Lầm nằm theo hướng bắc - nam; bề ngang rộng từ 700 đến 800m; bề dài khoảng 3km. Về phía nam, vách núi đá ở hai bên bờ khép lại gần với nhau, làm thành một cái eo, hẹp chừng 30m.
Vượt qua eo nầy, thuyền bắt đầu đi vào hồ khác là Pé Lù. Càng đi về phía nam Pé Lù càng mở rộng ra thêm, cách cái eo hơn 1km, giữa hồ nổi lên một hòn đảo gọi là An Mã, chiều ngang và chiều dọc khoảng vài trăm mét.
Xưa kia trên đảo có chùa, nhưng nay không còn, thay vào đó là đài khí tượng, thủy văn.
Cách đảo An Mã chừng 500m về hướng đông, lại có hai hòn đảo nhỏ. Hòn đảo lớn chỉ bằng hai ngôi nhà, hòn nhỏ chỉ bằng nửa hòn đảo lớn. Cả hai đảo nầy đều có tên là Pò Già Mải (tức Gò Bà Góa). Giữa đảo An Mã và đảo Pò Già Mải là đường phà qua lại; bến phà mang tên là bến Keo Siêu.
Những đảo nầy toàn là đảo đá vôi, nên cây cối mọc xanh um. Cành cây quanh đảo nghiêng nghiêng, vươn dài ra bờ hồ, duyên dáng soi bóng ở mặt hồ. Pé Lù còn chạy dài thêm 1km nữa về phía tây - nam thì mới dứt. Từ Pò Già Mải về phía đông và đông nam là nhánh hồ Pé Lèng, có chiều dài khoảng 3km, như một hành lang lát gương phản chiếu bầu trời. Bản làng được dựng lên hai bên bờ.
Thành thử ba hồ dài toả ra ba phía như hình chân vạc; chiều dài tổng cọng khoảng 9km; một nhánh chạy lên phía bắc, một nhánh sang tây nam, một nhánh về đông nam.
Hầu hết bờ hồ đều là đá vôi dựng đứng nên không có bản làng; duy bờ hồ phía nam nối liền đầu mút của Pé Lù ở phía tây nam với Pé Lèng ở phía đông nam, làm thành một dãy chạy từ tây sang đông thì ít vách đá và có bản làng.
Dãy bờ hồ phía nam nầy tiếp nhận nhiều con suối lớn từ các núi của phần nam cánh cung sông Gầm đổ xuống, mang theo phù sa bồi lên những bãi, càng ngày càng tiến dần ra hồ. Bờ hồ nhờ thế mở rộng dần ra, có đất dựng lên những bản ven hồ, như bản Bắc Ngòi ven Pé Lèng, bản Bó Lù, bản Nà Phòong ven Pé Lèng.
Bản nầy nằm bên bờ suối Nà Phòong; trước khi đổ ra hồ, giòng suối nầy đã chảy xuyên qua một khối đá vôi lớn, tạo thành một động đá vôi dài 3km, gọi là động Nà Phòong. Con đường trải nhựa nối liền bản Bó Lù và Nà Phòong đi đến Chợ Đồn. Nhờ con đường nầy, du khách có thể từ Thái Nguyên qua Chợ Chu (51km) rồi qua chợ Đồn (110km) để đi vào hồ Ba Bể.
Đến đây qua phà Keo Siêu rồi vượt một đèo dốc cao 700m, ngay nơi bến phà đi lên là đèo Keo Siêu; sau đó có thể chạy thẳng đến bản Vài. Đoạn đường nầy được trải nhựa, đi giữa thung lũng của một con suối đổ vào hồ Pé Vài, đường nhựa khá thẳng và không dốc mấy. Con đường từ Keo Siêu đến Bản vài dài 7km; từ Bản Vài về Chợ Rã khoảng 10km.
Thành thử trong khu du khách từ Bản Vài đi thuyềnxem Động Puông, xem thác, xem hồ, thì ô tô có thể đến trước, đón sẵn tại bến Keo Siêu để khách trở về đường bộ qua lối Chợ Rã hay qua lối Chợ Đồn. Hiện nay vùng nầy đã xây lên nhiều khách sạn để du khách có chỗ nghỉ ngơi lúc vãn cảnh. Đến thăm Ba Bể, du khách cũng thường viếng những làng bản chung quanh hồ.
Ngoài một ít bản nằm ven hồ, hầu hết những bản làng đều nằm ở sau các dải núi đá viền quanh hồ. Rừng núi, đất đai ven hồ thuộc địa phận của xã Nam Mẫu. Nông sản và lâm sản phát triển nhiều, cuộc sống của dân chúng vùng nầy khá sung túc.
Ruộng trong các thung lũng có đến nửa số diện tích cấy được 2 vụ trong năm. Nương có thể làm mỗi năm 3 vụ: một vụ ngô mùa 3 tháng, một vụ lạc mùa 3 tháng; sau đó 6 tháng trồng sắn. Nương lại còn giành diện tích đất đai để trồng bông vải cung cấp cho những giađình làm nghề dệt.
Tơ lụa Nam Mẫu rất nổi tiếng khắp miền Bắc. Đến viếng thăm hồ Ba Bể, du khách được thưởng thức những món thịt rừng. Người dân Ba Bể xưa nay rất giỏi về nghề săn thú. Với họ, đi săn không những kiếm được thú rừng, mà còn phương tiện để bảo vệ nương rẫy của mình.
Rừng chỗ nào càng nhiều cây có quả thì càng thú rừng tìm đến. Hươu, nai, hoẵng, gấu, lợn rừng, cầy hương... quanh vùng nầy rất nhiều. Mùa hè cây rừng ít loài có quả cho nên các loài thú tản mạn khắp nơi, nhưng khi mùa đông đến, nhiều quả cây rừng chín khi bắt đầu trở lạnh, thú trở về và mùa săn bắt đầu.
Ngày nay quanh rừng là vùng đất cấm săn bắn, cho nên rất giàu thú rừng đến, nhiều nhất là khỉ: khỉ đen, khỉ vàng, vượn đen.
Một nguồn lợi khác trong vùng hồ Ba Bể là thủy sản. Những hồ nầy đều rộng và sâu, có đủ những loại cá ăn nổi cũng như loại ăn chìm. Cá Ba Bể ngon và béo nổi tiếng; nhiều nhất là chắm cỏ, rồi đến cá gáy; ngoài ra rất nhiều cá trôi, tôm, cua, lươn, ba ba. Người trong vùng ít bắt cua, lươn, mà chủ yếu là kéo vó tôm và lưới cá.
Chỉ những hôm nước lũ về, nước hồ đục nên không có tôm, nhưng nước càng dâng lên cao, cá lại càng nhiều hơn. Người trong vùng nầy giàu có cũng nhờ thủy sản. Những phiên chợ gần đó như Chợ Rã, Chợ Lèng tập trung những người buôn bán cá. Nhìn chung lại vùng Ba Bể có non xanh, nước biếc, cuộc sống chung quanh nhộn nhịp, nhiều sắc tộc ít người sinh sống, hội hè đình đám thường xuyên.
Hồ Ba Bể là một thắng cảnh tuyệt vời, núi cao đồ sộ, nước hồ lai láng; rất nhiều ngòi lạch tia ra chung quanh; phương tiện đi lại bằng thuyền độc mộc, bằng phà, bằng ca-nô. Phong cảnh Ba Bể kỳ thú là vì các sông, suối, hồ, bể đều nằm giữa một vùng núi đá vôi. Ở đây đá vôi tạo nên phong cảnh đẹp, vì dễ bị nước mưa hoà tan, đẽo gọt, tạo ra những khối đá thiên hình vạn trạng.
Về nguồn gốc của Ba Bể, dân chúng trong vùng thường kể những cổ tích kỳ thú.
Đại Nam Nhất Thống Chí quyển XX, về tỉnh Thái Nguyên, chép theo Công Dư Tiệp Ký của Vũ Phương Đề viết:
"Một ngày nọ, dân chúng địa phương ở đây lập đàn cúng Phật. Một bà lão mắc bệnh hủi đến xin ăn, bị mọi người xua đuổi; chỉ có hai mẹ con một người đàn bà goá nhường cơm cho ăn và giường cho ngủ một đêm. Bà lão hủi chính là nột con thuồng luồng hiện hình người báo cho hai mẹ con đo biết "nạn trầm luân sắp xảy đến, phải lên gò cao để lánh nạn". Lễ chưa tàn thì nước từ trong đất chảy vọt ra, phá thành cái bể, vùi chết hết mọi người. Riêng chỉ có hai mẹ con ấy nghe theo lời dặn nên thoát trước và sống sót. Về sau, con cháu sinh tụ thành một xã, đặt tên là Nam Mẫu.



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 18.10.2014.