Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





THIỀN ĐỊNH của ĐỨC THÍCH CA

và của NGƯỜI THỜI NAY





Có lẽ Phật Tử nào cũng có thể kể lại vanh vách lịch sử của Đạo Phật. Đó là câu chuyện bắt đầu từ Thái Tử Sĩ Đạt Ta, là con của Ngài Tịnh Phạn, một vị Vua, thủ lĩnh của nhiều vương quốc nhỏ ở Bắc Ấn. Lúc vừa mới sinh ra thì có vị quan chiêm tinh tiên đoán là sau này Thái Tử sẽ trở thành một Đại Đế thống trị toàn thế giới hay là một nhà lãnh đạo Tôn Giáo. Tất nhiên, vua cha đâu có muốn cho con mình trở thành nhà lãnh đạo Tôn Giáo, vì thế, Thái Tử không được phép ra khỏi thành vì sợ Ngài trông thấy những cảnh không vừa lòng rồi chán nản mà bỏ đi tu. Ở trong triều, Ngài được cung phụng mọi thứ thỏa mắt, vừa tai, có rất nhiều nàng hầu xinh đẹp, và khi Ngài 16 tuổi thì vua cha đã cưới vợ cho Ngài. Đó là Công Chúa rất xinh đẹp Gia Du Đà La, mà Thái Tử phải chiến thắng những Hoàng Tử khác trong một cuộc tranh tài. 12 năm sau Công Chúa Gia Du Đà La mới sinh cho Ngài được 1 con trai, được đặt tên là La Hầu La.

 
Lần đầu tiên đi dạo ở ngoại thành, trông thấy cảnh người GIÀ, BỆNH, CHẾT, làm Ngài ngạc nhiên và hỏi vị quan hầu cận xem bản thân Ngài có Thoát được những thảm cảnh đó không? Vị quan trả lời là: Tất cả mọi người dù là bậc vua chúa hay thứ dân đều không thể tránh khỏi. Lúc trở về thành, Ngài ray rứt mãi, muốn tìm ra cách thức nào đó để không còn bị những cảnh đó diễn ra trên cái Thân con người. Thấy rằng nếu cứ tiếp tục ở trong triều thì bận việc triều chính và vướng bận vợ con, không thể được rảnh rang tìm kiếm, nên trong một đêm, Ngài đã lẻn rời bỏ vợ, con, cung điện, ra khỏi thành, gia nhập vô đoàn thể tu hành, hy vọng sẽ khám phá ra điều Ngài đang trăn trở. Năm đó Ngài 29 tuổi.
Thế rồi sáu năm học với sáu vị thầy giỏi nhất vẫn không có câu trả lời, mà thân thể do hành Khổ hạnh nên ngày càng suy kiệt. Cuối cùng Ngài chợt nhận ra là “tinh thần không thể minh mẫn trong một thể xác yếu đuối”, nên nhận bát cháo sữa của cô gái chăn bò, rồi trải tòa cỏ, ngồi tĩnh lặng dưới cội cây Bồ Đề với lời phát nguyện: “Sẽ không rời chỗ ngồi nếu chưa tìm được lời giải đáp”. Rạng sáng đêm thứ 49 thì Ngài tìm được thủ phạm đã gây ra Sinh, Lão, Bệnh, Tử của thân người, đồng thời cũng thấy được cách thức để chế ngự hắn ta. Sau đó Ngài dành suốt cuộc đời để truyền bá những gì Ngài đã khám phá ra. ĐÓ LÀ CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT KHỎI SINH LÃO BỆNH TỬ là Bốn Nỗi Khổ Lớn của kiếp người. CON ĐƯỜNG tức là ĐẠO. GIẢI THOÁT có nghĩa là PHẬT, nên gọi là ĐẠO PHẬT.
 
Nếu chỉ đơn thuần là Phật Tử thì chỉ cần biết tới đó là đủ. Nhưng thật ra cũng là một thiệt thòi rất lớn, nếu ta cứ tin vào lời người khác để rồi thờ phụng, cầu xin Phật, cho rằng Ngài là một vị Thần Linh có thể phù hộ, độ trì cho ta. Trong khi đó, xem lại quá trình tu hành của Ngài ta không thấy chỗ nào nói rằng sau khi tu hành xong thì Ngài trở thành Thần Linh. Ngài cũng không hề hứa sẽ độ trì cho người khác, mà nói rằng chỉ để lại Giáo Pháp để ai muốn được Thoát Khổ thì hành trì theo đó.
Với những muốn thực hiện lời Thọ Ký: “Chúng Sinh là Phật sẽ thành” thì càng cần phải tìm hiểu cho kỹ xem Đức Thích Ca đã TÌM gì? Tìm như thế nào? Chứng Đắc là gỉ? thì mới có thể thực hiện cho bản thân theo như Đức Thích Ca cũng mong mỏi, muốn tất cả mọi người đều được như Ngài.
 
Trước hết, ta tìm xem điều gì đã đưa đến việc NGỘ ĐẠO của Đức Thích Ca. Phải chăng:
1/- Ngài không ngừng thắc mắc, trăn trở, về Bốn nỗi Khổ lớn: Sinh, Lão, Bệnh, Tử của kiếp người?
2/- Qua con đường tìm Đạo của Ngài, ta thấy rằng không thể bằng những phương pháp như, thần thông, phép mầu, khổ hạnh… Chỉ cho đến lúc Ngài chọn phương pháp NGỒI TĨNH LẶNG, sau này gọi là THIỀN ĐỊNH thì mới đạt được điều Ngài cần tìm, hay còn gọi là ĐẮC ĐẠO.

Tất cả những người có nghiên cứu Đạo Phật đều hiểu điều đó. Nhưng có một câu hỏi mà bao nhiêu thời qua, nhiều người đã không đặt ra, nên cứ đua nhau Ngồi Thiền, mà không thấy có người Đắc Đạo như Đức Thích Ca. Người Ngồi Thiền giỏi nhất cũng chỉ trở thành THIỀN SƯ mà thôi. Đó là lý do nào để gần 3.000 năm rồi, dù những người tham gia NGỒI THIỀN đều làm giống y như Đức Thích Ca: Cũng xếp tay chân, mắt khép hờ, ngồi yên một chỗ. Nhưng tại sao Đức Thích Ca chỉ cần có 49 ngày thì đắc đạo, mà người thời sau Ngồi mãi không đắc? Thậm chí thời các đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng bày ra Ngũ Phái chuyên Tu Thiền là Tào Động, Lâm Tế, Pháp Nhãn, Vân Môn, Quy Ngưỡng cũng không thấy cho ra đời được vị Giác Ngộ nào.
 
Thời nào cũng có những Thiền Sư nổi trội, vì được rất nhiều người ngưỡng mộ. Ở Nhật thì có Ngài Suzuki. Đài Loan thì có Ngài Nguyệt Khê. Ở Việt Nam ta, ngoài chùa chiền nào cũng có dạy Thiền thì sau năm 1975, ở tại Tp Hồ Chí Minh xuất hiện Ô. TÁM Lương Sĩ Hằng, dạy Tu Thiền Vô Vi để xuất hồn. Rất nhiều trí thức thấy lạ nên tham gia cũng khá đông. Nhóm này hoạt động được vài năm thì bị chính quyền bắt đi cải tạo vì cho là truyền bá mê tín dị đoan. Phái này cũng làm cho một số người bị điên loạn.
Thiền càng về sau càng được phổ biến, thậm chí có cả quán Trà Thiền và du lịch kết hợp Thiền. Nhưng do trong Kinh không ghi lại là Đức Thích Ca hay Chư Tổ đã làm gì trong khi Ngồi THIỀN, nên các Tông, Phái, các Thiền Sư mặc sức sáng tác ra những phương pháp để hướng dẫn: Thiền Ngồi, Thiền Nằm, Thiền Chạy vv... Có vị thì ra CÔNG ÁN. Có Thầy thì dùng phương pháp đánh, hét. Có thầy quăng phất trần. Thậm chí có vị chỉ đưa ngón tay lên, hoặc có nơi người học Thiền được cho Nhập Thất. Trong thời gian Nhập Thất, các Thiền Sinh phải chấp nhận bị đánh chết bỏ, gọi là Thiền “Đả Thất”, mà cũng có khối người theo học! Các người Thầy ra những Công Án hay Thoại Đầu cho người tu học Tham, cho rằng nếu khai được thì sẽ chứng đắc. Nhưng đa số Công án có vẻ không hợp lý chút nào. Thí dụ cho Tham “Ai niệm Nam Mô A Di Đà Phật”. Nếu khám phá ra là Ô. A hay bà B niệm Phật thì chẳng lẽ người khám phá ra sẽ thành Phật? Rồi thì “Tiếng vỗ của một bàn tay”! Có vẻ Công Án càng phức tạp càng được nhiều người muốn Tham. Nhưng phải chăng tìm gì thì gặp nấy. Có tìm Phật đâu mà gặp Phật? Vậy mà nhiều đời cũng truyền nhau để Tham những Công án này.
 
Người được cho là Chứng đắc bên Thiền Tông thì ngôn ngữ, hành vi không hề giống như cách thể hiện của Đức Thích Ca hay Chư Tổ. Các vị Giác Ngộ thì hết Ngã Chấp. Thân, Khẩu, Ý lúc nào cũng thanh tịnh. Không nói những lời vô nghĩa. Trái lại qua những gì được viết lại trong sách vở được phổ biến của Thiền Tông. Cụ thể là Vô Môn Quan, ta thấy họ rất kiêu mạn, coi Phật, Tổ chẳng ra gì, ngang với “Que cứt khô”, “ba cân mè”… Trong khi Phật Pháp có vô số chữ cần hiểu, cần khai mở, phải đâu riêng một chữ VÔ, và chữ Vô liên quan gì đến cái TÁNH, mà thấy được chữ này lại cho là THẤY TÁNH? Vậy mà thời đó các Tông Thiền tự cho phương pháp mình là “Đốn Ngộ”! Chỉ biết được 1 chữ đã Ngộ, còn những chữ khác chẳng lẽ không cần thiết? Hơn nữa, điều mà họ Tham không thấy dính dáng gì đến Giải Thoát Sinh Lão Bệnh Tử của Đạo Phật theo đường lối Phật Thích Ca đã hướng dẫn. Điều đáng buồn là những Thiền Sư khởi xướng đều là những đệ tử của Phật gia.
Thời gian đã chứng minh cho thấy: Những lớp đào tạo Tu Thiền cũng chỉ bắt chước Đức Thích Ca phần hình thức, không nắm được nội dung, nên nhiều đời qua, kể cả thời nay, biết bao nhiêu người NGỒI THIỀN mà không thấy ai đạt kết quả chứng đắc của Đạo Phật, và từ thời Lục Tổ Huệ Năng đã khẳng định thêm một điều: GIÁC NGỘ không nhất thiết phải NGỒI THIỀN, CŨNG CHẲNG CẦN NGỒI NĂM NÀY SANG THÁNG NỌ, vì Lục Tổ Huệ Năng lúc vô Chùa được giao cho chẻ củi, giã gạo ở nhà sau, không có NGỒI THIỀN suất nào, nhưng chỉ trong 8 tháng thì Ngài đã Thấy Tánh, được Ngũ Tổ Truyền Y bát. Chúng ta hiểu điều này ra sao?
 
Vậy thì thế nào là Thiền Định? Mục đích của Thiền Định là gì?
Thiền Định trước kia gọi là Tĩnh Lự, hay Tư Duy Tu. Qua định nghĩa, ta cũng thấy là không phải chỉ xếp tay, xếp chân ngồi bất động mà đã là Thiền Định như nhiều người hiểu lầm, rồi cứ Ngồi bất động ngày này sang tháng kia. Trong Pháp Bảo Đàn Kinh Lục Tổ cũng chỉ trích lối Ngồi Thiền đó:

Lúc sống, ngồi không nằm
Khi chết, nằm chẳng ngồi
Gốc là cục thịt thúi
Làm chi vậy mệt ôi!
 
Người tu theo Đạo Phật được dặn dò phải làm 3 việc: VĂN-TƯ-TU. Có nghĩa là khi NGHE một pháp nào đó cần phải TƯ DUY, hiểu cho rõ rồi mới thực hành. Với Pháp THIỀN ĐỊNH cũng không khác. Do đó, rất nhiều người bản thân cũng không hiểu NGỒI THIỀN để làm gì? Ngồi Thiền phải như thế nào? Cũng không thấy Thiền Sư nào giải thích rõ, cho nên có người Ngồi một chỗ, bất động, nhưng đầu óc suy nghĩ đủ thứ chuyện. Thả hồn rong chơi các cảnh. Như vậy rõ ràng là Thân ĐỊNH, nhưng TÂM đâu có Định! Người khác thì hôn trầm, ý thức bặt đi đâu mất. Lúc tỉnh lại thì có khi cả tiếng đồng hồ đã trôi qua. Như thế khác gì ngủ Ngồi? Bởi tỉnh dậy thì vẫn y như cũ, có biết thêm được điều gì.
 
Đạo Phật định nghĩa rõ ràng về THIỀN ĐỊNH trong Kinh Viên Giác như sau:
THIỀN ĐỊNH LÀ CHỈ QUÁN
VÀ CHỈ QUÁN SONG TU
Thế nào là CHỈ QUÁN SONG TU? Chỉ là DỪNG lại, và Quán là Tư Duy về một vấn đề nào đó trong Đạo.
Muốn biết Đức Thích Ca đã làm gì trong lúc THIỀN ĐỊNH thì ta có thể hiểu qua lời tuyên bố của Ngài lúc vừa xả Thiền, nguyên văn như sau: “Ta lang thang trong vòng Luân Hồi qua bao nhiêu kiếp, tìm mãi mà không gặp Kẻ Làm Nhà. Hỡi Kẻ Làm Nhà, từ đây ta đã bắt gặp được ngươi rồi. Người không được Làm Nhà nữa. Bao nhiêu cột kèo của người đã gãy vụn cả rồi. Rui mè của ngươi đã tan nát cả rồi. Trí ta đã đạt đến Vô Thượng Niết Bàn, Ta đã hoàn toàn Giải Thoát”.
Qua đó, ta thấy Ngài đâu có Ngồi bất động và diệt hết tư tưởng như một số Thiền Sư sau này hướng dẫn. Trái lại, Ngài tập trung cả Thân lẫn TÂM để TÌM KẺ LÀM NHÀ và đã bắt gặp được hắn cũng như phá hủy những chất liệu mà hắn đã nhiều kiếp dùng để XÂY NGÔI NHÀ SINH TỬ LUÂN HỒI cho con người. Việc tìm được Kẻ Làm Nhà, Biết được cách thức để đưa đến Giải Thoát, gọi là ĐẮC ĐẠO.
 
Nhưng thời xa xưa, khi khai triển Con Đường Giải Thoát mà phải nói về những điều vô hình, vô tướng thì rất khó, không thể nào diễn tả được tư tưởng hay ý thức của con người, vì thế, Đức Thích Ca phải dùng nhiều ẩn dụ. Chính vì vậy mà những người NGHE mà không tư duy, tìm hiểu, cứ theo CHỮ mà hiểu, nên rất dễ hiểu lầm. Thí dụ Phật diễn tả CÕI TÂM, trong đó luôn sinh ra rất nhiều tư tưởng, tốt có, xấu có, mà Ngài gọi là PHÀM THÁNH ĐỒNG CƯ. Những tư tưởng thánh thiện, tốt đẹp thì Ngài gọi là Thần, Thánh. Những tư tưởng đen tối, xấu xa, tội lỗi thì Ngài gọi là CHÚNG SINH. Những CHÚNG SINH này xuất phát từ 3 động lực lớn là THAM, SÂN và SI. Chúng nhiều như những con người của một Thế Giới. Do có đến 3 chủng loại, nên Ngài gọi là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Tư tưởng có nhiệm vụ thanh lọc cái xấu Ngài đặt tên là Bồ Tát. Nhiệm vụ của Bồ Tát là tìm, quán sát, thấy có chúng sinh nào muốn Khởi lên là giáo hóa chúng, để chúng bỏ đi những toan tính xấu, mà hướng thiện, gọi là “Đưa một Chúng Sinh về Nước Phật”, hay là “Độ được một Chúng Sinh thành Phật”. Cho nên, dù Bồ Tát đã “Diệt Độ vô lượng vô số Chúng Sinh, mà thật ra không có Chúng Sinh nào bị diệt độ cả”, vì đó là những tư tưởng trong nội tâm của người tu mà thôi.
 
Khi một Cái Tâm chỉ còn những tư tưởng thánh thiện, trong sáng thì được an vui. Những tư tưởng Tham, Sân Si không còn nữa, nên gọi là Phật đã Độ cho Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Lúc đó, cái Tâm của người làm việc Tự Độ đó được thanh tịnh. Phật gọi đó là CÕI PHẬT, hay là PHẬT QUỐC, vì tất cả đã được Giải Thoát khỏi phiền não.
Mục đích Tu hành theo ĐẠO PHẬT là SỬA những tư tưởng bị trói buộc vào CÁI THÂN và các PHÁP HỮU VI. Việc tháo gỡ sẽ lần lượt theo từng giai đoạn. Đầu tiên, Đạo Phật dạy là các PHÁP HỮU VI là không trường tồn, cuối cùng nó sẽ hư hoại, gọi là Vô Thường. Gốc của các pháp là KHÔNG, nên nó sẽ trở về KHÔNG. Người quán sát như vậy sẽ gỡ bỏ được sự ràng buộc với các pháp HỮU VI.
Khi Thấy được GỐC của các Pháp Hữu Vi thì người tu cũng sẽ bớt được sự ham muốn, ôm giữ nó. Đó cũng là kết quả của người tu học theo BÁT NHÃ TÂM KINH. Quan sát các Pháp sẽ thấy: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức... cuối cùng rồi cũng chỉ là Không, vì nó chẳng khác với KHÔNG. Do đó SẮC và KHÔNG như nhau. “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”. Rồi thì Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng theo đó mà hiểu, mà hành, để diệt phục chúng.
 
Nhưng nếu không tiếp tục Quán sát mà dừng ở đó thì người tu sẽ bị mâu thuẫn với cuộc đời. Nói Cuộc đời là KHÔNG. Nói Thân là KHÔNG, trong khi nó và chính Thân Ta đang hiện diện. Gai đâm, lửa đốt thì đau. Đói không thể không ăn. Bệnh không thể không dùng thuốc. Không thể thiếu mái nhà để che chắn sương gió. Quanh mỗi người vẫn là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con cái và cả một xã hội với biết bao nhiêu con người. Vậy thì làm sao nói các pháp là KHÔNG được. Bởi thật ra cái KHÔNG đó cũng chỉ là một giai đoạn tu học. Chưa phải là cái lý rốt ráo. Chưa phải là cái đích cần đến của người tu Phật.
 
Sau khi THẤY được các Pháp Hữu Vi vốn không bền, không thật, và nhìn lại cảnh đời, ta sẽ thấy là các pháp thật sự đang CÓ. Nhưng vì không còn mãi, nên gọi nó là TẠM CÓ. Trong cái Thân Tạm Có này lại có một cái TA THẬT, trường tồn, bất sinh, bất diệt. Vì thế, những việc làm hiện đời sẽ ảnh hưởng đến kiếp sống về sau. Do vậy mà không nên tạo Ác Nghiệp, vì cái NGHIỆP tuy cũng vô hình, vô tướng, nhưng sẽ đeo đẳng người thực hiện. Có đi đến kiếp nào cũng không thoát.
Người thấy các pháp là KHÔNG sẽ không làm điều xấu, nhưng cũng chẳng thiết tha để làm điều tốt. Trên không thấy Phật để học hỏi. Dưới cũng không thấy có Chúng Sinh để Độ. Nghe nói có Tây Phương Cực Lạc với Bảy Báu tràn ngập vội bỏ hết mọi việc, chuyên chú Tụng Kinh, Niệm Phật để mong về! Như vậy cuộc sống của họ cũng chẳng biết phải về đâu và cũng không làm được lợi ích gì cho ai, kể cả cho chính bản thân họ. Họ sống lơ lửng như người không hồn, do chưa quan sát kỹ cuộc sống. Mới nghe nói các Pháp là KHÔNG đã vội chấp lấy. Do vậy, mà Phật nói rằng làm hư hoại các pháp, gọi họ là “chồi khô, mộng lép”, vì uổng một kiếp làm người, uổng duyên gặp Đạo, tu hành, vì chưa chịu học hết lý thuyết của Đạo Phật.
 
Người tu học cần quan sát các pháp, xét lại mục đích tu hành của Đạo Phật để thấy: Đạo Phật không hề dạy người tu phải xa lìa cuộc sống, hay sống chỉ để chờ chết. Trái lại, tu theo Đạo Phật là học cách thanh lọc cái Tâm của chính mình để tiếp tục cuộc sống giữa phiền não mà không bị phiền não bức bách, vì mục đích của Đạo Phật, là trang bị sự hiểu biết cho con người, để con người vẫn tiếp tục sống giữa trần gian ô trược mà không bi ô nhiễm, được như Hoa Sen, sống trong bùn mà vẫn tinh khiết... Người tu Phật vẫn sống giữa các Pháp Có, mà không để cho nó trói buộc mình. Họ cũng tham gia vào cuộc đời, như mọi người, nhưng không tạo Ác Nghiệp, bớt được những tính xấu THAM, SÂN SI đố kỵ, thương, ghét, hơn thua… của những người thấy cuộc đời là THẬT. Họ cũng không đắm mình vào cảnh Không, gọi là sống trong TRUNG ĐẠO, nhờ đó họ có được cuộc sống được an vui, gọi là đạt Hữu Dư Y Niết Bàn.
 
Kiểm chứng lại, ta thấy: THIỀN ĐỊNH mà Đức Thích Ca đã Ngồi, là để tập trung cả Thân và Tâm để tìm thủ phạm gây ra cảnh SINH, LÃO, BỆNH, TỬ cho cái Thân con người. Sau đó Ngài xây dụng thành Giáo Pháp để hướng dẫn cho những ai tin theo. Các vị Tổ nối tiếp về sau ngày càng giải thích rõ ràng thêm trong những bộ chính Kinh. Người thời sau chỉ việc tìm hiểu, nếu thấy hợp lý và bản thân mình cũng muốn đi theo con đường đó thì Y PHÁP TU HÀNH. Như vậy, bàn về mục đích của THIỀN ĐỊNH, ta thấy: khác nào có một tay sát thủ ghê gớm, từ nhiều đời đã hại biết bao nhiêu người, và còn sẽ tiếp tục mãi nếu không có người tìm bắt được hắn về quy án. Chính Đức Thích Ca đã tìm được hắn và đã liệt kê hết về những hành vi, tác hại, mặt mũi của hắn từ mấy ngàn năm về trước rồi. Người sau cần gì phải nhắm mắt nhắm mũi Ngồi để tìm kiếm ai nữa? Cho nên, người tới thời này vẫn còn NGỒI THIỀN, chứng tỏ chưa biết gì về THIỀN của Đạo Phật! Thì giờ ngồi khơi khơi đó, lẽ ra họ nên tập trung để tìm hiểu cho kỹ lý thuyết của Đạo Phật, để hiểu cho rõ mà thực hành cho đúng, để được lợi lạc.
 
Chính vì không hiểu rõ về Đạo Phật, về những danh xưng Phật, Bồ Tát, Cõi Phật, nên nhiều người đã vọng ra, tạc cho nhiều tượng Phật cho to, rồi ngày mấy thời hương khói thờ phụng, mong cầu được phù hộ, độ trì. Không biết rằng Phật là nói về tình trạng Giải Thoát, an ổn trong nội tâm của mỗi người, không phải là Thần Linh thì làm sao có thể cứu độ cho ai. Nhìn lại con đường tu tập của Đức Thích Ca, ta thấy Ngài chỉ đi tìm nguyên do của Sinh Tử Luân Hồi, và khám phá ra cách thức để không còn bị vòng quay đó cuốn đi nữa. Việc tu hành của Ngài cũng chỉ là để Thoát khỏi những ràng buộc của Pháp Tướng cho bản thân Ngài, sau đó Ngài truyền dạy lại để ai cũng muốn được Giải Thoát thì thực hành theo, không phải để cho người sau tôn thờ. Ngược lại, những kẻ tán thán, tôn thờ Ngài để cầu xin lại rơi vào lời cảnh báo: “Kẻ nào ca tụng ta, tán thán ta mà không hành theo lời ta chỉ dạy. Kẻ đó đang phỉ báng nặng nề ta”.
 
Tóm lại, những người cho tới thời này vẫn còn NGỒI THIỀN bằng tướng, chứng tỏ họ chưa hiểu THIỀN VÔ TƯỚNG hay còn gọi là NHƯ LAI THIỀN của Đạo Phật. Có nghĩa là: Người tu hành, sau thời gian thanh lọc cái Thân, cái Tâm. Đối pháp không còn khởi nữa, thì dù đi, đứng, ngồi, nằm, tiếp xúc với thế nhân, giải quyết việc đời vẫn không động. Không Động không có nghĩa là ngồi ỳ như tượng gỗ, mà là không bị Tham, Sân, Si khởi lên. Người đạt được tình trạng an ổn thì không những bản thân họ, mà hoàn cảnh, mọi người chung quanh cũng nhờ đó mà bớt đi những vướng mắc, tranh chấp, để tất cả đều được an vui. Được sống một cuộc sống an lành, không phiền não là họ đã đạt đến mục đích mà Đạo Phật muốn người tu hướng đến.
Thời xưa có vị đã mô tả con đường tu Phật bằng những bức tranh Thập Mục Ngưu Đồ, vẽ Người Chăn và con Trâu. Đầu tiên, Người chăn đi tìm con trâu thất lạc bằng cách theo dấu chân của nó. Khi tìm được nó rồi, thì giáo hóa, điều phục nó. Khi con trâu đã được thuần hóa rồi, thì dù cho có thả nó vô ruộng lúa, nó cũng không phá hại. Người chăn trâu thỏng tay vào chợ. Cuối cùng là cả người chăn, lẩn con trâu đều được Giải Thoát. Con Trâu đó tượng trưng cho cái VỌNG TÂM. Người tu Phật phải nương theo lời của chư vị Giác Ngộ hướng dẫn mà tìm cho được cái Vọng Tâm. Thấy được nó rồi thì phải dùng lý thuyết của Đạo để giáo hóa nó. Khi VỌNG đã biến thành CHÂN rồi, thì người tu được Giải Thoát.
 
Hành trình TÌM TÂM, THẤY TÂM, ĐIỀU PHỤC CÁI TÂM phải theo một trình tự nhất định. Bắt đầu là phải học hỏi để nắm được Lý Thuyết của Đạo. Phải khai mở cái TRÍ HUỆ rồi dùng đó để phá VÔ MINH. Muốn có Trí Huệ trước hết phải có GIỚI. Có GIỚI rồi thì sẽ có sức ĐỊNH. Dùng sức ĐỊNH để Tư Duy, Soi Quán, tức là THIỀN QUÁN. THIỀN QUÁN như vậy không cần phải dùng TƯỚNG NGỒI. Mà chủ yếu làm sao có thể tập trung cái Ý thức, rồi dùng nó tư duy các pháp, dần dà có được sự hiểu biết theo đường lối của Đạo. TRÍ HUỆ cũng chỉ là cái Trí Hiểu Biết, nhưng thiên về Đạo, để phân biệt với cái hiểu biết thuần túy thế gian gọi là THỨC. Chẳng có gì là cao siêu, không thể hiểu nổi. Đạo Phật dạy phải BIẾN THỨC THÀNH TRÍ. Có nghĩa là hành giả dùng sự hiểu biết, soi chiếu vào các pháp của Đạo, để thấy ra những điều cần Hiểu, cần Hành trong Đạo.
 
Đạo cũng không khác với Đời. Người Tu cũng không có lên Niết Bàn để sống, mà vẫn tiếp tục sống trong cuộc đời. Cũng là mặc áo, ăn cơm. Nhưng người đời thấy cảnh trần là THẬT, là CÓ. Thấy THÂN là MÌNH, rồi ở trong đó tranh chấp với mọi người, dành tiền bạc, danh tiếng, địa vị để phục vụ cho nó. Người tu Phật thấy cái THÂN là THÂN NGHIỆP mà mình phải sống trong đó cho đến hết kiếp. Do đó, ở trong nó, nhưng không để cho nó điều khiển vào phải, quấy, hơn thua. Không bằng mọi giá kiếm tìm danh, lợi, vật chất để cung phụng cho nó. Không để cho cái Thân làm chủ, mà làm chủ nó, điều khiển nó theo mình. Sống vừa phải, không quá bon chen. Kính trên, nhường dưới, yêu thương, giúp đỡ mọi người, để tất cả đều được an vui.
 
Người tu Phật chân chính nhờ ý thức Nhân Quả nên tự mình trang trải cuộc sống, không lợi dụng người khác cung dưỡng cho mình để khỏi mắc nợ ai. Không tranh chấp, hơn thua danh, lợi, với ai nên cuộc sống được an ổn thì cần gì phải CẦU AN? Sống lương thiện, không tạo Nghiệp, đương nhiên sau khi chết địa ngục nào kéo được họ mà phải Cầu Siêu? Cả đời sống với dòng pháp thanh tịnh, không nghĩ, nói, làm ác, và giữ Thân, Khẩu, Ý, thì đương nhiên khi bỏ cái Thân, thần thức sẽ về với với những dòng pháp lành, cần gì ai tiếp dẫn? Tự giáo hóa cái Tâm của mình, cần gì ai biết mình đang tu hành, nên hình tướng, chiếc áo, nơi ở đâu có cần thiết. Vì ở đâu? Làm gì? Mặc gì? mà không Sửa cái Tâm được? Không cần rời bỏ cha mẹ, vợ chồng, con cái, nhưng rời Nhà Lửa Tam Giới. Không tạo 3 Nghiệp của Thân và 4 Nghiệp của Khẩu là đã “xa rời quyến thuộc ngu si”. Tự gây Nhân Thiện thì biết Quả lành chắc chắn sẽ tới. Ở trong đời mà không tranh danh, đoạt lợi với người đời, làm hết trách nhiệm của mình, thì gọi là “Ở trong thế gian mà Thoát thế gian”. Người có cuộc sống như thế thì lúc nào cũng THIỀN mà không cần phải Ngồi một chỗ vậy.
Tháng 9/2014

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 18.10.2014.