Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh vẽ ‘Một Buổi Đi Về / Once Upon a Time’ của Võ Công Liêm.






PHÊ BÌNH VỀ

PHÂN TÂM LÝ HỌC và NGHỆ THUẬT







Today…modern art is beginning to lose its powers of negation. Negation is no longer creative. I am not saying that we are living the end of art: we are living the end of the idea of modern art”. (Octavio Paz –Modern Poetry from Romanticism to the Avant-Garde)*


    Phân tâm lý học đến gần với nghệ thuật trong mô thức tâm lý xã hội học (psychosociology) và tâm lý nhân sinh học (psychobiography); thăm dò một văn hóa rõ nét bằng một giảo nghiệm tương quan giữa cá thể và xã hội với một nổ lực tìm kiếm để vạch trần hiệu năng vô thức trong cùng một động lực qua hình dáng của những tác phẩm nghệ thuật và một tri giác phản ảnh đường nét do từ chất liệu và những tiểu xảo cấu thành. Tác phẩm nghệ thuật thường khi không nhận ra chủ động vật thể với một ẩn tàng che đậy ý nghĩa trong đó, nhưng lại phát sinh một số yếu tố chủ lực của cá thể cũng như trong cùng một chủ trương cơ bản là nói lên tâm lý con người. Ở đây chúng ta tìm hiểu thêm về lịch sử cá tính của mỗi nghệ sĩ hay nhiều nghệ sĩ khác nhau, qua mỗi thể thức thuộc về phân tâm học nghệ thuật và thẩm tra của phê bình –Psychoanalytical Criticism and Art để tìm hiểu cho một tương lai như điều mà chúng ta tiếp tục khám phá hướng đi mới cho những gì biểu lộ sáng tỏ của nghệ thuật –for the future as we continue to explore new directions for artistic expression. Ấy là điều chúng ta cần thăm dò và tìm hiểu về tâm lý và nghệ thuật.
   Áp dụng ý tưởng phân tâm nghệ thuật là điều khó cho một cái gì mới mẻ, giống như chủ thuyết phân tâm học tự chính nó cũng là nan giải. Khởi từ Freud ông đã bắt đầu thẩm tra về hình ảnh nghệ thuật và những người nghệ sĩ với những gì ông học tập được ở Leonardo da Vinci, Freud đã tìm thấy được lời giải và những gì ông cảm nhận được; ở Vinci là một hợp chất của một tính dục kiềm chế để nảy sinh những đường nét sáng tạo. Thử xét lại tuổi thiếu thời của Leonardo da Vinci. Freud tin tưởng ngọn nguồn cửa Leonardo: dường như trong người ông đã có ít nhiều giới tính và có một cái gì đòi hỏi chân phúc qua nụ cười ở tiểu phẩm ‘Mona Lisa’ cái dáng trong đó [the figures in] mà Leonardo đã đưa vào trong tranh như một hoài niệm háo hức, thèm khát ở tuổi thanh niên và đã đánh động ông qua đôi môi mỉm cười bất hủ đó.
   Tư duy trong tác phẩm của Leonardo như Freud đã nói đến, đều trở nên mẫu thức cho những gì thuộc về phân tâm học mà ông đã ra công nghiên cứu về nghệ thuật. Những gì tìm thấy được đều đưa tới tranh luận và phản đối kịch liệt tới phương thức của ông. Lý do dễ hiểu của phản đối; đó là điều đã đụng tới một cái chung của nghệ thuật, bởi họ muốn độc quyền bất khả thi (attempting the impossible) của hội họa; đó là cái nhìn thông thường, mà phải hiểu cho khoa phân tâm học của Freud ở đây là một kết cấu thuộc phạm trù tâm lý, một thứ tâm lý chứa đựng: dục tính (erotic) hứng tình (aroused), bạo dâm (sadist) có từ nghệ thuật mà thường coi như lệch lạc giá trị thẩm mỹ của hội họa; đó là vật thể hội họa [the art object] đã tiềm ẩn, một dữ kiện thuộc đối tượng vô thức [unconscious object]. Freud thừa nhận đỉnh cao thẩm mỹ nghệ thuật là phẩm chất của tác phẩm làm nên và để đời như Leonardo và Michelangelo (có thể đây là lý do tại sao Freud đã tận tụy hiến dâng trong bước đường điều tra, nghiên cứu phân tâm lý). Dựa qua tinh thần này Leonardo đã có lần thốt :’Khi trau dồi nghệ thuật, phải học đúng kỹ thuật căn bản, học xong rồi từ từ quên cái căn bản đó đi mà đi vào sáng tạo’ Ý ông muốn nói nếu cứng ngắc như thế thì chỉ còn là thợ vẽ, thợ bích chương, bià bạt, phụ trang thì hóa ra là thợ, kể cả điêu khắc thời không còn chi là nghệ sĩ sáng tạo, nó trở nên thợ đúc khuôn cùng một mẫu thức. ‘Mà phải là một bức họa tổng số của phá hoại’ (Picasso). Freud cho đó là dạng đông cứng của trí tuệ không mở đường cho sáng tạo, mà có chăng là một sự gượng ép của nội thức làm cho tác phẩm loãng chất giữa trào lưu hiện đại. Sự cớ đó là cái nhìn thông thường qua màu sắc của hội họa. Nhưng; nghệ thuật còn là con đường giải thoát để thoát tục với trần thế, không thể ướp lạnh trong dạng thức đông lạnh, cứng đơ (freeze). ‘Nghệ thuật là một sự hóa thân của sáng tạo’(P.Klee). Freud cho rằng thứ nghệ thuật đông cứng làm do tâm thức bó rọ, cuồng si, ngu xuẩn; cái đó gọi là ’cứt tâm lý / psychic shit’và cứt xã hội tâm lý / societal shit’ mà phải lấy hội họa làm phương tiện thoát ly cuộc đời, chính là thoát ly thế giới quy ước, phiến diện, bó rọ… Giữa van Gogh và da Vinci đều có cái nhìn như nhau là Không-Hóa và Vô-Dư toàn diện trong như-nhiên như một tận triễn của sáng tạo. Phương pháp phân tâm học của Freud là vô tư trước hình thức và giá trị thẩm mỹ mà tuồng như đây là một sự cớ cố hữu không thể chuẩn bị để cung cấp cơ bản như đã một lần, để phán quyết về giá trị làm nên. Chính bản thân Freud đã thực hiện điều đó, ấy là phương thức của ông vừa có lợi cho nghệ thuật và người nghệ sĩ được giới thiệu ra đây là bước đầu từ những gì xây dựng, thiết lập của nghệ thuật và quan tâm đến việc nhận định phê bình. Freud cung cấp mẫu thức ở đây như một bệnh chứng cảm tính (pathographic) dành cho việc phê bình nghệ thuật. Dữ kiện đó được nhìn xuống để đưa tới bệnh tâm thần trước khi tìm thấy trở lại với nghệ thuật; điều đó có thể là dự phóng như một thúc đẩy có lợi cho việc phê nhận. Trong biên luận của Freud; những tác phẩm nghệ thuật thường phân chia ra nhiều thể thức, phát sinh từ tâm bịnh thuộc triệu chứng cảm tính (a product of neurotic pathological) bằng một nội lực trong một trí tuệ vô thức của người nghệ sĩ hơn là chú tâm của những nghệ sĩ bình thường –thông qua một cách bén nhạy của căn bệnh cảm tính ‘pathographic’. Người nghệ sĩ phải giảm thiểu cách thức về cái lực thông thường mà phải vượt ra cõi ngoài kia bằng một tri giác nhận thức hoặc kiểm soát được vị trí của nó để làm nên tác phẩm của họ –the artist is reduced in this way to a kind of tool of forces beyond his or her knowledge or control.
   Hiện tượng trở chứng bệnh lý phát sinh từ tuổi trẻ; nhất là những đô thị lớn, điển hình ở New York phát khởi lối vẽ nguệch ngoạc (graffiti art) thường tìm thấy sơn quẹt trên ga điện hầm làm rõ nét chất liệu cho khoa phân tâm học trong một biến đổi tâm linh bởi vì đó là một liên can phức tạp, hỗn loạn của nghệ thuật giữa người nghệ sĩ và xã hội. Đây là một liên can không những giống tâm-lý-dục-tính-xã-hội ‘psycho-sexual-social’mà là hỗn loạn của tâm thức bởi một động lực sống dậy ở tuổi thành niên. Một gào thét để thoát tục như trường hợp của Jean Mitchel Basquiat là động lực thúc đẩy bởi một tâm lý bất an, một xã hội khai trừ và coi như một thứ bất cần đời, sa đọa. Basqiuat hòa nhập tâm linh và xã hội để dựng lên bi thảm hội họa đó là chứng cớ bất thường (ảnh hưởng một phần trong huyết thống của Basquiat). Hình ảnh này rõ nét kể cả trường hợp Vincent van Gogh, chối bỏ cuộc đời đang sống và tìm cách gây thương tích để chết, một tự sát bởi xã hội ‘a suicide by society’ (chữ của Antonin Artaud) để rồi van Gogh kê súng bắn vào người, bi thảm của người nghệ sĩ khi đứng trước tuyệt vọng nghệ thuật. Cùng một ‘bản thẻ /cliché’ đó Jackson Pollock ngập trong rượu để tìm thấy cái chết thỏa mãn cho nghệ thuật. Tuyệt vọng tâm lý là bệnh chứng cảm tính đưa tới tự tử của Mark Rothko trong cùng một thế hệ của họ; bệnh chứng cảm tính đến cả Andy Warhol, Roy Lichtenstein. Claes Oldenburg. Robert Rauschenberg… là một trong những chứng tỏ cụ thể; mà trước đó ta bắt gặp ở Frida Kahlo, ở Amedeo Modigliani và ở cả Pablo Picasso đều rơi vào một trạng huống bức xúc của tâm sinh lý, hòa nhập giữa trí năng và vật thể để vượt xa hơn với nghệ thuật mà họ muốn tìm thấy trong cái gọi là siêu tưởng (transcendental), một kêu gào mãnh liệt qua đường nét, chất liệu và thể chất cấu thành. Nghệ thuật nguệch ngoạc (graffiti art); theo Ellen Handler Spitz tin rằng sự bộc phát của đường nét nguệch ngoạc là xác thực của biểu lộ một sáng tạo vượt bực đến từ ‘chuyển hóa và một hoàn cảnh vượt thoát / transform and transcend environment’.Rồi từ đó kết tội là phá hoại, dâm đảng, thô tục; đó là thói tính của căn bệnh xã hội sinh ra. Bởi; những gì phát sinh vốn đã có trong tuổi trẻ, bằng một thứ liều lẫn, một thứ bung phá không nguyên nhân như muốn chứng tỏ. Spitz cho rằng vẽ nguệch ngoạc là tiến trình tâm lý; đó là sự phát tiết được ghi nhận qua tiến trình phân tâm sinh lý mà ra. Động não không phải hoàn cảnh mà bởi tâm thức bùng dậy, màu sắc là tiếng động, đường nét là ngôn từ. Đứng trước một tác phẩm nghệ thuật, kể cả nghệ thuật nguệch ngoạc không còn NGẮM nhìn mà để NGHE từ tâm trí một biến động bất ngờ bằng một đối tượng mê hoặc –an a object of fascination không còn thấy đơn giản, tự nhiên mà là một cách mạng sáng tạo –creative revolution. Ngay cả nhà thơ Allen Ginsberg đã hóa thân trong cái gọi là ‘a suicide by society’ thời đối với nghệ nhân là thường tình như một khám phá của sáng tạo; dù không thấy ở ‘outsider’ nhưng trong họ [inner] đã xẩy ra một phản kháng tự tại. Người nghệ sĩ ở đây (graffiti artists) mỗi khi thực hiện là họ đã nắm bắt sự việc và đặc tên gọi cho họa phẩm của mình như một đối tượng chủ thể [as a subject] và họ để lại đó một sự khước từ tên tuổi của mình dưới tác phẩm; một tác động chủ quan, một phủ nhận vô trách nhiệm của hành động, một cái gì riêng tư của họa nhân nguệch ngoạc, thông thường xử dụng bí danh thay vì tên thường gọi; đó là thói quen của trường phái này. Giữa xã hội họ là kẻ vô danh và không một ai biết đến tên tuổi của họ. Điều này thường thấy ở những thành phố lớn khắp nơi trên thế giới, nơi chứa chấp những tệ nạn xã hội, có lẽ; đây là lý do đưa tới từ xã hội, có lẽ; do từ một động lực đột biến của tuổi trẻ: một phản kháng nội tại bằng gào thét. Cũng có thể: ‘họ tự tạo cho chính họ như thánh linh, dám thách đố và làm nên vũ trụ, họ vừa đùa vừa phá hoại; vô tình như bỏ lại cái mới trong cái cũ của những gì sinh ra từ rối loạn tâm can’(Spitz). Freud nhìn thứ nghệ thuật đường phố thuộc dạng thức phân tâm sinh lý, một trạng thái rối bời cần giải thoát, giải thoát để ra khỏi ngu xuẩn vô cớ, một phần trong đó gây ra từ căn bệnh cảm tính. Cho dù có ngăn ngừa nhưng sự kiện vẫn còn tiếp diễn; đây là một chứng cớ rõ nét mà gần như được thừa nhận, bởi; lý do nói lên vai trò hiểu biết, cảm nhận được trong con người nghệ sĩ, một tương quan đặc biệt giữa nghệ thuật và người nghệ sĩ –by reason of its empathic character, has a special relationship to art and artists. Thêm vào đây như một khâm phục, cảm thức và hờn ghen là ba yếu tố trong con người nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ đường phố (graffiti) một đòi hỏi năng động. Thật thế; vì đó là lòng căm phẩn để làm cho người nghệ sĩ trở nên hờn ghen [artist envy] là một hóa giải, một cảm nhận bình thường trong vô thức phân tâm lý, cảm nhận tuyệt đỉnh và to lớn vô cùng của người nghệ sĩ, khoa phân tâm học thấy được những gì nơi họ như thường gặp sự dẫn giải của nghệ thuật được gắn liền bằng một nhận thức khoa học của tâm lý và thấy ở chính họ như nhà khoa học đúng nghĩa của người nghệ sĩ . Bởi; họ tin khoa học là lãnh vực cho một khám phá về sự thật; tuy nhiên thấy ở họ như một nghệ sĩ tuyệt đỉnh –like scientists; they believe science the field of true discovery and; therefore sêe themselves as superior to artists.
   Nói cho ngay phạm tội không thể thiếu mà là điều tối cần của khoa phân tâm học. Freud đã nói phân tâm học là hình ảnh thường xẩy ra cho những căn bệnh tâm thần cũng như chứng cảm tính (của thi, văn, họa), bởi vì sự ngấm ngầm và tính chất khoa học là những gì người nghệ sĩ đạt tới trong trạng huống vượt thoát; đó là lý do cố định, một phân tâm tự nhiên và nghệ thuật. Theo thuyết phân tâm học của Freud là trong đó có cái chất hơn thua của người nghệ sĩ ‘is envious of the artist’ bởi; hơn thua, ghen tị mà theo phân tâm cho đây là một nổ lực làm người nghệ sĩ hư đốn tội lỗi và tàn nhẫn trong hành động; phân tích ra thì đây là một lỗi lầm chung được xem như một thứ phi luân lý. Sự hơn thua thường đưa tới chủ nghĩa hoài nghi trong nghệ thuật và được coi như là một nổ lực tận cùng; tuy nhiên năng lực nghệ thuật được mô tả hiện hữu của con người, một mô tả chứng minh giữa con người và xã hội. Tác dụng của khoa phân tâm học và nghệ thuật là một điều kiện hết sức đặc biệt bởi mẫu thức thuộc về khoa phân tâm học phê bình nghệ thuật được thiết lập bởi Freud khởi từ những học tập về Leonardo và Michelangelo là hoàn toàn không có tính chất tranh biện của khiá cạnh khác. Đối với người nghệ sĩ; theo Spitz :’Thì đây là lý thuyết thuộc về phê bình chiếm cứ vật thể’ / ‘As critical theory to dismantle the object’. Thế giới sống là là xây dựng một dự án mong đợi trong cùng một nghĩa phân tâm lý chính xác; giống như chính xác cho một nghệ thuật tiên phong hàng đầu là tiền đề cho mọi thứ không thỏa mãn ngay cả việc bất tín trong đó, một thứ ảo giác tâm sinh lý nhưng ở đây tạo được một ý thức cho sự thật và được thay vào đó một thứ ảo giác khác; đó cũng là những gì của người nghệ sĩ có được. Giữa hai cái nhìn chủ thể vấn đề và vật thể nghệ thuật với một tương đương lợi ích; phươg thức của phân tâm là hình thức nhạy cảm và sắc diện kiểu cách của tác phẩm cả hai bề mặt nêu trên có thể bày tỏ phương thức thuộc về khoa phân tâm học đã lắng chìm sâu xa trong tư duy người nghệ sĩ. Thể thức, kiểu cách và vấn đề chủ thể là nằm trong tác phẩm nghệ thuật, một tiếp dẫn đặc biệt để đưa tới thánh hóa chủ thể vấn đề hoặc phân tích được tính chất thánh hóa một cách riêng tư của người nghệ sĩ (private iconography of the artist).
    Luận thuyết này được xếp đặc trong vấn đề lý sự của những gì có lợi trong phân tâm của hai bề mặt nghệ thuật và nghệ sĩ; khám phá toàn diện qua tâm lý nghệ sĩ và làm thế nào hình ảnh đó thể hiện chính xác cho một tư duy chung về một nghệ sĩ bình thường và một nghệ sĩ mang chứng tâm bệnh cuồng điên.
   Người nghệ sĩ bình thường sáng tạo bằng một ý thức chủ quan để đưa tới mục đích có lợi cho sản phẩm, bên cạnh đó nói lên cái ngã chính mình. Che đậy một thực thể giả tạo bên trong; lòng háo hức đó làm cho nghệ thuật suy tàn và mất luôn phẩm chất của sáng tạo. Người nghệ sĩ tâm thần với một tri giác phóng ngoại; không làm cho mình, cũng không làm cho người, đòi hỏi của bệnh tâm thần là dạng vô thức tạo ra sáng tạo độc đáo, một vượt thoát để tìm đến đỉnh cao. Thật vậy; lãng mạn hóa là quan niệm của người nghệ sĩ trong khi nuôi dưỡng bằng một nhầm lẫn thiếu nhận thức và thổi phồng sự việc cho lớn lao và gây thêm chú ý cái bản thể tự tại và ồn ào giữa nơi công cọng. Lý luận của Freud, phân tích sự hiện hữu của khoa phân tâm học là động lực thúc đẩy ‘vis-à-vis’ nghĩa là mặt đối mặt, đối kháng với một cái gì liên can tới nghệ thuật, là để tìm thấy cái thực trạng trong một hiện hữu của phân tâm lý dành cho nghệ thuật.
   Trở lại; nghệ thuật nguệch ngoạc (graffiti art) bây giờ là hình dung từ cho mọi thứ thời trang ở đô thị, đặc biệt dân thành phố họ lại yêu chuộng thứ nguệch ngoạc đó. Nghĩa lý ấy đã xâm nhập vào văn chương đương đại một cách thích đáng, một chuẩn mực cố định, biến đổi từ động từ sang danh từ / verb has become noun.Thứ nghệ thuật đó gần giống như một phân tâm học hiện đại, nó phơi bày những thứ mà chúng ta không muốn thấy bằng một tâm sinh lý bệnh hoạn; dù đã nhiều lần chất vấn nhưng sự bung phá đó nằm trong ý thức của sự bùng dậy, khơi từ trí năng của sáng tạo, nhất là những nghệ sỉ mang chứng tâm bịnh và cảm tính. Freud cho đó là động cơ thúc đẩy qua một trí năng hỗn loạn để đi tìm một lối thoát cho chính bản thân họ. Phê bình nghệ thuật qua phương thức phân tâm chỉ là vai trò định hình giữa thực và ảo, hai trạng huống hoàn toàn khác nhau. Ánh sáng đó không những soi đường mà là sự hiểm nghèo liên đới đến phương thức khoa phân tâm học. Nhưng; ở đây là một nhận thức tạm bợ dành cho việc phê bình nghệ thuật trong phân tâm học mà một đôi khi chúng ta bắt gặp trong đời thường ./.


(ca.ab.yyc. 17/9/2014)

* ‘Ngày nay …nghệ thuật hiện đại bắt đầu biến mất để phủ nhận năng lực của nó. Phủ nhận là vì không còn sáng tạo. Tôi chẳng biết nói gì hơn đó là những gì chúng ta đang sống chặn cuối của nghệ thuật: chúng ta đang sống cuối đời của một tư duy nghệ thuật hiện đại’
(Octavio Paz 1914-1998) : Nhà thơ, Nhà văn, Kịch tác gia. Người Mễ Tây Cơ. Văn chương Nobel 1990.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 04.10.2014.