Việt Văn Mới
Việt Văn Mới


- Nam Bộ Kháng Chiến -

Liên Hiệp Quốc Không Ngăn Cản

Chiến Tranh Thế Giới lần III




M ột nhận xét và đánh giá rất chuẩn xác rằng “Miền Nam đi trước về sau” khi nhìn về toàn bộ miền Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ từ năm 1945 tới năm 1975 kết thúc chiến tranh, sau Chiến tranh thế giới thứ II. Cả thế giới đều coi cuộc Chiến tranh thế giới này đã chấm dứt từ năm 1945 sau khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh và phát xít Đức bị tiêu diệt bởi quân đội Liên Xô và sự ra đời của tổ chức Liên Hiệp Quốc và Hội đồng Bảo an.

    Thế nhưng, thực tế cuộc chiến thế giới đẫm máu này không dừng lại ở đó mà vẫn tiếp tục kéo dài từ đó đến nay mà Việt Nam là một một nạn đầu tiên do thức dân Pháp kết cấu với đế quốc Mỹ và nhiều nước đồng minh của họ theo đuổi bị lôi kéo vào cuộc bắn giết này thêm 10 năm (đánh Pháp) rồi 20 mươi năm nữa (đuổi Mỹ) và các nước nhược tiểu kém may mắn khác vẫn còn tiếp tục bị thế lực ngoại bang chiếm đóng và áp chế cho tới ngày nay, như ở Trung Đông, Đông Âu, Châu Phi… Ngay như Triếu Tiên bị chia đôi đất nước và quân đội Mỹ vẫn chiếm đóng Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines v.v…
    Mặc dù tổ chức Liên Hợp quốc và Hội đồng Bảo an ra đời từ năm 1945 nhưng không can thiệp để ngăn chận Chiến tranh thế giới thứ III xảy ra, bắt đầu ở Việt Nam với sự quay trở lại của thực dân Pháp có sự giúp sức của Anh và ủng hộ của Mỹ. Từ đó đến nay, LHQ vẫn là như vậy, hầu như bỏ ngỏ cho nước lớn ăn hiếp nước nhỏ. Như chuyện TQ đưa tàu các loại và đặt dàn khoan trên thềm lục địa Việt Nam, hiếp đáp các tàu đánh cá, tàu cảnh sát biển của ta khiến cho cả khu vực đều nóng lên, biển Đông nổi sóng mà tổ chức LHQ, Hội đồng Bảo an im lặng trong khi Việt Nam là một thành viên tích cực từ nhiều năm nay.
    Hành động của TQ ở biển Đông được coi như hành động xâm lược biển Việt Nam thế mà LHQ làm tai ngơ mắt điếc. Việc làm của TQ vừa qua cũng là một hành động gây ra chiến tranh thế giới! Palestine tói nay vẫn bị Isareil dánh phá liên tục không thể yên ổn để thành lập nước . Một I Rắc bị Mỹ vá một số nước trong khối Nato xâm chiếm, đánh bom tan nát, nhân dân bị sát hại, tài sản quốc gia là dầu mỏ bị phân chia, cướp đi, cả người đứng đầu lá ông Sadam Hussein – Tổng thống mà vẫn bị cầm tù và treo cổ bởi tòa án quốc tế bất minh, a dua theo nước lớn…Một sự bất nhân, bất nghĩa, bất dân chủ, tự do như vậy mà tổ chức LHQ-HĐBA vẫn làm ngơ.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh sau ngày tuyên bố độc lập của Việt Nam 2/9/1945 đã nhiều lần và có nhiều dịp liên lạc, gởi thư cho Tổng thống Hoa Kỳ, cho Chính phủ Pháp để nói chuyện hòa bình và thân thiện của ba dân tộc. Thế nhưng họ đều ỷ lại sức mạnh của mình, coi thường chính phủ non trẻ Việt Nam, cứ tiếp tục khởi động chiến tranh ở Đông Dương, hà hơi tiếp sức cho quân đội viễn chinh nước ngoài còn lại ở Việt Nam. Chính họ đã vi phạm Hiến chương LHQ và chủ quyền của một nươc vừa giành lại độc lập, tư do. Họ đã gây chiến, dân tộc Việt Nam đã muốn “Dĩ hòa vi quý” cũng không được nên buộc phải cầm súng đứng lên kháng chiến, Nam Bộ đi trước, toàn quốc đi sau do quân đội Pháp quay trở lại ở miền Nam trước, ở miền Bắc sau, cách nhau 15 tháng (23/9/1945-19/12/1946).
    Nam Bộ kháng chiến nổ ra rạng sáng ngày 23/9/1945 do quân đội Anh giúp cho quân đội Pháp lấy súng đạn của quân đội Nhật (bị giải giới) khởi động đánh chiếm Sài Gòn và sau đó lan tỏa ra toàn Nam Bộ. Ủy ban hành chánh Nam Bộ sau nhiều lần thương thuyết với quân đội Pháp không thành nên buộc phải chuyển đổi thành Ủy ban kháng chiến Nam Bộ để ra lời kêu gọi :”Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp và tay sai của chúng.”. Ông Hòang Quốc Việt và ông Cao Hồng Lĩnh đã đại diện cho Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam DCCH và Tổng bộ Việt Minh có mặt tại Sài Gòn cùng với Ủy ban kháng chiến Nam Bộ lãnh đạo cuộc kháng chiến bắt đầu từ thành phố Sài Gòn, trong đó thực hiện chủ trương “Trong đánh ngoài vây” thành lập bốn mặt trận quanh Sài Gòn thông qua bốn con đường dẫn ra ngoại thành với sự tham gia của các nhà trí thức, lãnh tụ của Việt Minh, Công đoàn, Thanh niên và quần chúng nhân dân yêu nước, kéo dài suốt cả tháng trời, nổi tiếng là mặt trận cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Phú Lâm và cầu Mống đã gây tổn thất rất nhiều cho quân đội Pháp tìm cách mở rộng sự chiếm đóng trong nội thành ra ngoại thành và các tỉnh.
    Ngày 28/9/1945, qua làn sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi :”Lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ” và khẳng định :”Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà”.
    Ngay từ ngày 24/9/1945, nhiều tỉnh Nam Bộ gởi các đơn vị vũ trang đến Sài Gòn để tham gia chiến đấu. Ngày 25/9/1945, tỉnh Quảng Ngãi đã gởi một đơn vị Giải phóng quân vào Sài Gòn với tinh thần quyết chiến. Ngày 26/9/1945, đoàn tàu hỏa đầu tiên chở bộ đội Nam tiến của các tỉnh Bắc Bộ rời ga Hàng Cỏ (Hà Nội) vào miền Nam.
Nam Bộ kháng chiến đang trong thế bao vây quân Pháp ngày càng ác liệt thì Mỹ đã giúp Pháp chở 7 tàu với 13.000 quân viễn chinh Pháp tới Sài Gòn. Đến tháng 12/1945, Mỹ lại cho thêm 8 tàu chở Sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 của Pháp vào Nam Bộ. Quân Anh lấy danh nghĩa giải giới quân Nhật chiếm đóng một số nơi rồi giao lại cho quân Pháp. Với danh nghĩa đó, quân đội Anh di chuyển ra ngoại thành tự do nhưng lại mở đường cho các lực lượng của Pháp lấn theo khiến cho các chốt bao vây của dân quân kháng chiến của ta khó chống trả rồi lần lượt bị tan vỡ.
    Sau mặt trận Sài Gòn, lực lượng kháng chiến của ta đã lập nhiều căn cứ như An Phú Đông (nay thuộc quận 12), Chiến khu Đ (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), Đồng Tháp, U Minh…khi tướng Nguyễn Bình từ miền Bắc được Bác Hồ chỉ định vào Nam tham gia lãnh đạo kháng chiến. Ngày 15/10/1945, Xứ ủy Nam Bộ được thành lập và tăng cường thêm các cán bộ đảng viên bị tù ở Côn Đảo trở về như Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Thị Thập…Nam Bộ kháng chiến bắt đầu sôi nổi đánh thắng xâm lược Pháp nhiểu trận nổi tiếng như Láng Le – Bàu Cò (nay thuộc huyện Bình Chánh TP HCM), An phú Đông (Gia Định), Tầm Vu (Hậu Giang), Tây Ninh…
    Trong Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ tháng 10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi lòng yêu nước và tinh thần chiến dấu của quân dân Nam Bộ :”Trong cuộc chống xâm lăng này, các bạn là bức Vạn lý trường thành vững chắc”. Tháng 2/1946, Hồ Chủ tịch đã tặng Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”. Với danh hiệu vinh dự này, quân dân Nam Bộ vững tin vào đường lối chủ trương của Đảng có sự lãnh đạo của Bác Hồ và chính phủ, Mặt trận Việt Minh, đồng bào miền Nam quyết tâm kháng chiến đến cùng để bảo vệ nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.
Trong khi đó, ở miền Bắc, quân Pháp lại bám víu vào các lực lượng của đội quân Tưởng giải giới quân Nhật để ngóc đầu dậy, từ Trung Quốc vượt biên giới đánh chiếm Lạng Sơn và đổ bộ Hải phòng tiến công vào Hà Nội. Đảng và Chính phủ lâm vào thế “lưỡng đầu thọ địch” (vừa Pháp vừa Tưởng) nên đã chủ trương ”Hòa để tiến” , thực hiện giải pháp thương lượng tạm thời từ hội nghị Đà Lạt, Fontainebleau (Pháp) và ký kết Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, Tạm ước 1/9/1946.
    Hồ Chủ tịch khi được Pháp mời lên đường sang Pháp để theo dõi hội nghị thì đã phát biểu :” Đồng bào Nam Bộ đã hy sinh tranh đấu mấy tháng trường để giữ gìn cho toàn nước Việt Nam. Cho nên đồng bào cả nước đêu phải nhớ ơn đồng bào Nam Bộ”, và khẳng định :”Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Khi ở Pháp, Bác đã trả lời báo chí :”Nam Bộ là một miếng đất Việt Nam. Đó là thịt của thịt chúng tôi, máu là máu của chúng tôi – C’est la chair de notre chair, c’ est ” le sang de notre sang).
    Ngày 11/5/1946, với tư cách Phó Trưởng đoàn Việt Nam DCCH Võ Nguyên Giáp tham gia hội nghị đã lên tiếng cảnh cáo thực dân Pháp :”Nếu Nam Bộ mất thì dân Việt Nam chiến đấu cho đến khi đòi lại được:” . Cuối cùng, do phía quân đội Pháp trở mặt nổ súng vào quân dân Việt Nam ở một số nơi với âm mưu chiếm đóng nước ta lần nữa nên Đảng, Chính phủ đã ra lệnh phát động toàn dân trên cả nước “Toàn quốc kháng chiến” vào rạng sáng ngày 19/12/1946.
    Như vậy, dân quân Nam Bộ khởi đầu tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại lần thứ hai, đã đi trước cả nước trên một năm trời. Kể từ đó, Nam Bộ luôn có Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và cùng chung sức chung lòng, Mặt trận Việt Minh đã huy động, đoàn kết toàn dân, toàn dân tộc tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp trên khắp cả nước. Trên nửa thế kỷ trước, khi quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha cấu kết đem tàu chiến đánh Đà Nẵng không được lại vào đánh chiếm thành Gia Định – Sài Gòn (đầu năm 1959) và lần lượt chiếm đóng cả Nam Bộ. Các anh hùng dân tộc như Nguyễn Trung Trực, Trương Định, Thiên hộ Dương, Thủ Khoa Huân …tập hợp nhân dân và nông dân các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu là khu vực bên trong và bên ngoài Đồng Tháp Mười (chiến khu đầm lầy) đứng lên đánh Pháp, dù chưa thành công nhưng cũng đã làm khiếp đảm quân thù, là những lực lượng nhân dân ở Nam Bộ đi trước cả nước để kháng chiến chống ngoại xâm phương Tây đầu tiên.
    Sau khi ra chỉ thị “Toàn quốc kháng chiến” tháng 12/1946, Trung ương Đảng và Chính phủ, Quốc hội và lãnh đạo các đoàn thể, trong đó có Tổng bộ Việt Minh đã lui về các tỉnh phía Bắc để lập chiến khu Việt Bắc chống lại giặc Pháp. Kể từ năm 1946-1947 cho tới năm 1945, dân quân cả nước, ở vùng bị địch tạm chiếm và ở các khu giải phóng, các căn cứ cách mạng, chiến khu …dân quân đều một lòng kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ, Chính phủ, Quốc hội và Mặt trận Việt Minh, mà nòng cốt là Mặt trận Việt Minh (nay là Mặt trận Tổ quốc) đã tập họp mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo và các thành phần khác, trong đó có giới trí thức ở trong nước và nước ngoài trở về hăng hái đi vào khu tham gia kháng chiến.
    Chỉ sau 9 năm kháng chiến toàn quốc, trong đó Nam Bộ và Trung Bộ gắn chặt với nhau thành một bức tường thành ngăn chặn và cầm chân giặc Pháp chiến đấu tiêu hao tại chỗ. Mỹ đã viện trợ cho Pháp rất nhiều từ quân sự tới kinh tế nhưng vẫn không lay chuyển tình thế, để cuối cùng phãi chịu thất bại đầu hàng nhục nhã tại mặt trận Điện Biên Phủ vang dội thế giới ngày 10/5/1954 và chịu ký kết hiệp định Geneve ngày 20/7/1954, rút quân đội viễn chinh về nước trả lại nền độc lập cho Việt Nam nhưng một vài nước như Hoa Kỳ, Trung Quốc lại âm mưa lừa đảo Việt Nam để chia đôi đất nước tạm thời theo vĩ tuyến 17.
    Chính Hoa Kỳ đã âm mưu chiếm đóng miền Nam để thay chân thực dân Pháp, bày ra trò tạo dựng chính quyền ngụy ở miền Nam, phá vỡ hiệp định Geneve. Hoa Kỳ qua nhiều đời tổng thống đã chiếm đóng miền Nam còn mưu toan đánh chiếm miền Bắc bằng nhiều lực lượng không quân và tàu chiến. Nhưng chúng bị thất bại chua cay bởi trận chiến “Trận Điện Biên Phủ trên không” 72 ngày đêm quyết đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá ! Mỹ giống như Pháp bị thua trên chiến trường (thực địa miền Nam lẫn trên không phận miền Bắc) nên buộc phải ký kết hiệp định Paris 1972 rút quân cuốn cờ về Mỹ và chư hầu về nước. Mỹ lôi kéo 7 quốc gia ở Đông Nam châu Á vào cuộc xâm chiếm miền Nam như vậy chẳng khác nào gây ra Chiến tranh thế giới lần III.
    Mặt trận giải phóng miền Nam (nay là Mặt trận Tổ quốc ở phía Nam) gắn kết với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã làm nên chiến thắng lịch sự cuối cùng để giải phóng hòan toàn miền Nam tiến tới thống nhất đất nước vinh danh khắp thế giới trong thời đại Hồ Chí Minh. Đó là miền Nam “đi trước” từ Nam Bộ kháng chiến ngày 23/9/1945 và đã “về sau” trong ngày đại thắng mùa Xuân 30/4/1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh “Thần tốc, thần tốc và thần tốc hơn nữa” qua mệnh lệnh hành quân từ xa của “Đại tướng nhân dân” Võ Nguyên Giáp anh hùng đáng kính – học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước khi đi xa đã Di chúc lại (1969) với câu nói như sấm thần :”Cuộc chiến chống Mỹ còn kéo dài thêm vài năm nữa” (1969-1975 = 6 năm).
    Tóm lai, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Bộ đã xảy ra trước lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Trung ương do tình hình thực tế ở miền Nam giặc Pháp nổ súng xâm chiếm trở lại trước 15 tháng (9/1945-12/1946). Khi cuộc kháng chiến toàn quốc kết thúc sau 9 năm thì miền Nam vẫn tiếp tục chống Mỹ thêm 20 năm nữa mới kết thúc thắng lợi, trở thành trở về sau hơn miền Bắc trong sự nghiệp chống ngoại xâm giải phóng một nửa đất nước. Nhưng khi thống nhất Tổ quốc thì miền Nam nhanh chóng hợp nhất với cả nước Việt Nam theo ý nghĩa lời dạy của Bác Hồ kính yêu :”Nhân dân miền Bắc và nhân dân miền Nam là một”.
    Ngày nay, sau khi hòa bình lập lại, tiến tới xây dựng nước nhà phồn vinh theo lời căn dặn của Bác Hồ :”Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây lại bằng mười” nên Việt Nam luôn theo đuổi nhất quán chính sách ngoại giao – kinh tế :”Muốn là bạn của mọi quốc gia” khi hòa nhập vào khu vực và thế giới.
    Vận mệnh Việt Nam đã phần lớn tự mình chủ động nêu cao quyết tâm với tinh thần chiến đấu anh hùng, bất khuất, hy sinh của trên bốn ngàn năm lịch sử dựng nước từ thời đại vua Hùng. Một phần khác được nhân dân tiến bộ của thế giới ủng hộ cả tinh thần lẫn vật chất và vơi sự hỗ trợ khí tài của các nước cộng sản anh em như Liên Xô, Trung quốc, Cu Ba và các nước Đông Âu, châu Phi và châu Mỹ La Tinh. Một cuộc chiến chống ngoại xâm to lớn và lôi kéo cả thế giới vào cộc như vậy, chẳng khác nào Chiến tranh thế giới.
    Trong khi đó, LHQ và Hội đồng Bảo an giả làm mắt điếc tai ngơ. Đó chẳng khác nào đã ngầm ủng hộ phe tư bản chống phe cộng sản. Phải chăng LHQ đã phân biệt đối xử chủ tộc và quốc gia, đi ngược lại tôn chỉ, mục đích và đường lối cơ bản của mình ? Họ đã sợ một thế lực nào đó vì người đứng đầu tổ chức quốc tế này e dè khi thấy một vài đồng chức trước đó đã từng bị sát hại bằng nhiều cách khi ủng hộ, bênh vực “phe” đối lập. Cho tới ngày nay cũng vậy. một Tổng thư ký Ban Ki Moon không làm nên trò trống gì để ngăn chặn chiến tranh, nước lớn hiếp nhỏ. Mỷ và phe Nato đã hùng hổ bênh vực lẫn nhau, cấu kết với nhau để gây ra bao nhiêu cuộc chiến, sát hại bao nhiêu người dân vô tội, bao nhiêu lãnh đạo, nganh nhiên đem quân đội đi đánh nước này, chiếm đóng nước kia với dnah nghĩa mơ hồ “bảo vệ hòa bình, bảo vệ dân chủ”. Trong khi họ đi ngược lại Hiến chương LHQ, sát hại biết bao nhiêu mạng người bằng bom đạn của mình. Không lẽ LHQ coi đó là chính nghĩa, là phù hợp với luật pháp quốc tế ?
    Tình hình của thế giới hiện nay cho thấy Chiến tranh thế giới lần III đang diễn ra dưới hình thức văn minh, hiện đại : nước lớn, nước mạnh được quyền đưa quân đi đánh hay xâm chiếm nước nhỏ, yếu sức. Mỹ ngụy biện khi cho rằng mình có quyền bảo vệ hòa bình, dân chủ nước này nước nọ để xâm chiếm nước khác, hủy hoại nước khác trước mặt LHQ. Mỹ tự vệ kiều Mỹ như vậy đó. Mỹ không ngờ chính hành động này đã “gieo gió gặt bão”, Mỹ đã tạo sự căm thù cho nhiều phía. Mỹ hãy tự bảo vệ mình trong đất nước mình, còn lại chuyện gì xảy ra trên đất nước khác, cứ để cho họ tự xử. Nếu ai vi phạm, tổ chức LHQ và Hội đồng Bảo an ra tay giải quyết. Mỹ đừng tự coi mình là LHQ hay HĐ Bảo An.
    Nếu mỗi quốc giá đều tự mình lo cho nước mình với sự giúp đỡ của LHQ thì hòa bình luôn vãn hồi, thế giới luôn ổn định. Hãy đối xử với nhau bằng luật pháp quốc tế. Rất may mắn là Việt Nam đã thoát ra khỏi Chiến tranh thế giới lần III từ Nam Bộ kháng chiến và Toàn quốc kháng chiến. Nay chỉ còn lại một nước bạn lớn ở phương Bắc do tiếp giáp đất và biển nên luôn dòm ngó phương Nam và cứ tưởng mình đang ở vào thời đại phong kiến chuyên đi xâm chiếm hết đất tới biển, rồi tự tạo ra đất trên biển thuộc chủ quyền nước khác để chiếm đóng. Thực tế này không ai chấp nhận được. Thế giới lên tiếng nhưng họ vẫn ù lì, không biết liêm sỉ, nhục nhã. LHQ thì coi đó như “pha”. Luật pháp quốc tế tới lúc cần tu chỉnh lại :”Tội đắp đất làm đảo ngay trên hải phận nước khác phải xét xử ra sao ?”.


. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 26.9.2014.