Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NHỚ VỀ CÁC NHÀ VĂN HÀ NỘI






Mừng 60 Năm Ngày Giải Phóng Hà Nội
- Khi tôi lớn lên, chiến tranh đã lùi xa. Đất nước yên bình và vững bước trên con đường hội nhập. Thế nhưng, những ký ức về chiến tranh, về những ngày tháng lịch sử hào hùng cùng sự hi sinh xương máu của các thế hệ đi trước vẫn khắc sâu trong tôi qua những bài học lịch sử, những áng văn, thơ truyền cảm.
Trong dòng lịch sử đó, ngày “Giải phóng Thủ đô” đã mang đến cho tôi cảm giác hân hoan vì chính tôi cùng bạn bè học sinh trường tiểu học Quang Trung đi bộ đến Phố Huế đón bộ đội tiến về Hà Nội. Đây cũng là điều tôi luôn tự hỏi, bởi tôi vốn sinh ra, lớn lên ở Hà Đông (nay là Hà Nội). Vì thế, trong tiềm thức, ngay từ khi còn nhỏ thì ý niệm về Hà Nội trong tôi đã vô cùng thiêng liêng. Có lẽ đơn giản bởi một điều: Hà Nội là Thủ đô là trái tim của cả nước. Vậy nên, tự trong lòng mình tôi đã yêu Hà Nội, yêu cả những góc phố, hàng cây, những trang lịch sử hào hùng của Hà Nội.
Trong những ngày tháng lịch sử này, Hà Nội chuẩn bị tròn 60 năm giải phóng khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Cách đây 60 năm, ngày 10-10-1954, khi những tên lính thực dân cuối cùng rút khỏi Hà Nội thì Ủy ban Quân chính TP và các đơn vị quân đội nhân dân chia làm nhiều cánh lớn, mở cuộc hành quân lịch sử tiến vào Hà Nội. Trong rừng cờ hoa, với niềm vui sướng tột độ, 20 vạn nhân dân Thủ đô náo nức đón đoàn quân chiến thắng trở về. Cờ đỏ sao vàng tung bay, cả Hà Nội tưng bừng hân hoan trong niềm vui giải phóng.
Các nhà văn sinh quán tại Hà Nội
- NGUYỄN KHẢI
Nguyễn Khải sinh năm 1930 ở Hà Nội, quê cha ở Nam Định. Là nhà văn quân đội. Tác phẩm tiêu biểu: “Xung đột” (1953-1962), “Mùa lạc” (1960), “Chiến sĩ” (1973), “Gặp gỡ cuối năm” (1982), “Thời gian của người” (1985), v.v… Nguyễn Khải là một nhà văn giàu sáng tạo, rất nhạy bén trước hiện thực cuộc sống. Năng lực phân tích tâm lý sắc sảo, sức mạnh của lý trí là mặt mạnh của trang văn Nguyễn Khải. Thời kỳ đổi mới văn học nước nhà, tác phẩm của Nguyễn Khải hàm chứa chất chính luận - triết lý.

- NGUYỄN TUÂN
Nguyễn Tuân (1910 – 1987) xuất thân trong một gia đình nhà nho ở Hà Nội. Tác phẩm tiêu biểu nhất: “Vang bóng một thời” (1933), “Sông Đà” (1960), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi…
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: tài hoa, độc đáo và uyên bác. Cái đẹp, cái thiên lương trong cuộc đời được ông nói đến với tâm hồn nghệ sĩ đích thực, với cái nhìn phát hiện và đầy sáng tạo. Văn của ông, chữ nghĩa của ông giàu có, tài hoa. Chuyện xưa và nay, chuyện trên rừng dưới biển, chuyện làm ăn, thú ăn chơi tao nhã… đến đặc sản, thổ ngơi, chuyện người, chuyện cây cỏ… từ rượu đến hoa, từ giò chả đến phở… được ông nói đến thật hay. Người đọc cảm thấy tâm hồn mình giàu có thêm lên qua từng trang văn độc đáo của ông, để yêu hơn, tự hào hơn đất nước, con người và nền văn hoá Việt Nam.
Nếu đồng ý rằng đối với Nguyễn Tuân, Hà Nội là nơi còn in lại nhiều dấu vết lịch sử “vang bóng một thời”, nơi những người tài tử hội ngộ, chúng ta sẽ hiểu tại sao tuy đây đó tác phẩm của ông có đượm chút “hoài cổ” song lại là những trang sách có ích, nó cho thấy “bề dầy” của Hà Nội, và làm cho chúng ta trân trọng những khía cạnh truyền thống tốt đẹp.

- TẠ VŨ
Tên khai sinh : Vũ Hùng, sinh ngày 22-3-1935 tại Hà Nội.
Nhiều năm làm giáo viên bổ túc văn hoá tại Tổng cục Đường sắt. Sau đó nhiều năm làm thợ. Đã xuất bản : Vừng sen Hàm Rồng ( Trường ca, 1975 ); Những cánh chim trời ( 1984 ).

- TÔ HOÀI
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27-9-1920 (tức ngày 16-8 năm Canh Thân) tại thị trấn Nghĩa Đô, Từ Liêm , Hà Nội. Là một nhà văn có nguồn sáng tạo to lớn. Có trên 100 tác phẩm. Trước cách mạng, nổi tiếng với truyện “Dế mèn phiêu lưu ký”. Sau năm 1945, có “Truyện Tây Bắc”, “Mười năm”, “Miền Tây”, “Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ”, “Tự truyện”, v.v…
Sáng tác của Tô Hoài thể hiện vốn hiểu biết phong phú về đời sống và phong tục, chất tạo hình và chất thơ qua miêu tả và kể chuyện đầy thú vị. Là một nhà văn viết truyện về miền núi rất thành công.
- NGUYỄN ĐÌNH THI
Sinh ngày 20-12-1924, tại Luang Prabang ( Lào ). Quê quán : Vũ Thạch, Hà Nội. Sau cách mạng Tháng Tám ( 1945 ), ông làm Tổng thư kí Hội văn hoá cứu quốc, Tổng thư kí Hội Văn nghệ ( 1956-1958 ); Tổng thư kí Hội Nhà văn Việt Nam các khoá I, II, III.
Đã xuất bản : Người chiến sĩ ( 1956 ); Bài thơ Hắc Hải ( 1959 ); Dòng sông trong xanh ( 1974 ); Tia nắng ( 1983 ); bài hát “Người Hà Nội” và “Diệt Phát-xít” nổi tiếng.
- NGUYÊN SA

Nguyên Sa tên thật Trần Bích Lan, sinh năm 1932 tại Hà Nội.
Thơ Nguyên Sa trữ tình, lãng mạn, giàu nhạc điệu, chất chứa sáng tạo trong ngôn ngữ cũng như hình ảnh, đôi khi pha lẫn thi tứ triết học. Tác phẩm tiêu biểu: Thơ Nguyên Sa (1958), các tập biên khảo Quan Điểm Văn Học và Triết Học, Một Bông Hồng cho Văn Nghệ..., truyện Gõ Đầu Trẻ, tập truyện Mây Bay Đi.
- NGUYỄN HUY THIỆP
Sinh năm 1950 tại Hà Nội, là nhà văn đương đại Việt Nam trong địa hạt kịch, truyện ngắn và tiểu thuyết với những góc nhìn mới, táo bạo. Năm 2004, bài viết "Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn" đăng trên Tạp chí Ngày này của ông tạo ra những tranh luận sôi nổi trong giới văn chương trong một thời gian dài trên Báo Văn nghệ và một số trang mạng tại Việt Nam.
Các nhà văn quê ở Tỉnh, sinh sống - viết văn tại Hà Nội
- Hoàng Ngọc Phách: người Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thời thanh niên của Hoàng Ngọc Phách gắn liền với những kỷ niệm về các trường học của Hà Nội, cũng như ở trường Cao đẳng Sư phạm về sau. Nhìn lại nội dung tập sách, có điều lý thú là các nhân vật chính trong Tố Tâm đều mang cốt cách Hà Nội khá rõ.
- Nguyễn Công Hoan: đã học ở trường Bưởi Hà Nội từ khi chưa đầy mười tuổi,từ nhỏ, ông đã quen với nhân tình thế thái người phường phố, thành thạo sự đời, và chả coi cái gì làm quan trọng. Thành thử, tuy không phải bao giờ cũng trực tiếp đả động đến chuyện Hà Nội, nhưng trong cái nhìn của ông, chất Hà Nội rất rõ.
- Ngô Tất Tố: trong các tiểu phẩm của ông, đời sống Hà Nội hiện ra  như một thứ kẻ chợ lộn xộn, ồn ào, phồn vinh giả tạo, một nhà nào như ông thấy rất chướng tai gai mắt. Chỉ riêng trong Lều chõng, chúng ta thấy Hà Nội hiện lên với nhiều nét đẹp, người Hà Nội từ những cô hàng bán giấy bút, cho đến ông chủ quán trọ cũng đều hết sức tài hoa, lịch thiệp.  
- Nguyên Hồng: chỉ ở Hà Nội mấy tháng, rồi nhớ Hải Phòng, ông lại trở về thành phố cảng, có một dạo, Nguyên Hồng cùng gia đình ở hẳn Thủ đô vào năm 1943. Từ đây, cái nhìn của Nguyên Hồng về Hà Nội rất rạch ròi. Ông xa lạ một thứ kinh thành hoa lệ của bọn nhà giàu. Nhưng ông càng thêm yêu một Hà Nội khác, Hà Nội tranh đấu. Hà Nội đầy sức sống.
-Trần Huyền Trân – Thâm Tâm – Nguyễn Bính: nhưng ngay trong lòng Hà Nội, thường cũng có một lớp người viết sống rất nghèo khó, như dân thất nghiệp, họ lam lũ làm văn làm báo như người khác cày thuê cuốc mướn. Báo của họ bán không chạy, sách in ra không gây được tiếng vang gì lớn. Nhưng họ vẫn gắn bó với nghề, với Hà Nội, và vừa sống vừa viết một cách thanh thản. Lớp nhà văn vô sản này đại khái như Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Nam Cao, Tô Hoài.
- Nguyễn Huy Tưởng
Với Những người ở lại, Luỹ Hoa, Sống mãi với Thủ đôNguyễn Huy Tưởng là một trong những người xứng đáng nhất với danh hiệu nhà văn Hà Nội. Những thành công chính của ông đều gắn với đề tài này. Lại nữa, trong khi viết về thủ đô, ông biết mang lại cho sinh hoạt nơi đây một vẻ trang nghiêm, một không khí lịch sử, nó là cái sắc thái cần thiết cho suy nghĩ của người ta về thủ đô mọi nước nói chung, và rất tiêu biểu cho Thủ đô Hà Nội nói riêng.


                    
Nhóm Tự lực Văn đoàn với:
- Nhất Linh – Khái Hưng – Hoàng Đạo – Thế Lữ – Thạch Lam – Tú Mỡ, và Xuân Diệu
Tự Lực văn đoàn là một câu lạc bộ viết văn do Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) khởi xướng và bắt đầu hình thành vào cuối năm 1932, chính thức năm 1934. Trụ sở chính của văn đoàn đặt ở nhà số 80 phố Quán Thánh, Hà Nội. Đây vừa là tòa soạn báo Phong Hóa, Ngày Nay; vừa là trụ sở nhà xuất bản Đời Nay. Ban đầu, bút nhóm chỉ có 6 thành viên, gồm:– Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), là Trưởng văn đoàn và cũng là Giám đốc báo Phong Hóa – Khái Hưng – Hoàng Đạo – Thế Lữ – Thạch Lam – Tú Mỡ, về sau có Xuân Diệu.
Từ trái sang phải: Xuân Diệu, Thế Lữ, Nhất Linh, Khái Hưng
Việt Nam Danh Tác: Hà Nội băm sáu phố phường
Hà Nội băm sáu phố phường là tập tuỳ bút xuất sắc của Thạch Lam do NXB Đời Nay xuất bản năm 1943. Đây là những trang viết về các giá trị văn hoá Hà Nội với nhiều nét đặc sắc. Trong từng mục, từng đoạn của Hà Nội băm sáu phố phường, mọi sự ghi chép của nhà văn đều hướng theo mục đích: cái đẹp. Đọc kỹ tác phẩm, nhìn vấn đề theo định hướng đó, ta thấy Thạch Lam quan tâm đến hai mảng văn hoá nổi bật của một Hà Nội ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ tinh hoa văn hoá dân tộc. Đó là mảng vật thể văn hoá và văn hoá phi vật thể. Trong bài viết này, chúng tội xin đề cập một số ý kiến về những văn hóa phi vật thể và văn hóa vật thể.

 -Tuy Thạch Lam chỉ dành một số ít trang (khoảng 1/4) so với mảng thứ hai nhưng theo chúng tôi, đây là mảng Thạch Lam rất tâm huyết. Những biển hàng là bài viết rất lành. Nhà văn rủ rỉ kể về một nét độc đáo của Hà Nội: chỉ có Hàng Đào là một trong số ba mươi sáu phố phường có các biển hàng vẽ hình con vật mà chỉ là các con vật hiền không có con nào dữ cả”: trâu vàng, bò vàng, cá chép vàng, lạc đà, con gà trống, con hươu sao, con kỳ lân, con phượng hoàng, con rùa, con vịt che ô, con voi.v..v. Có chăng con tê giác là con vật dữ, “nhưng con tê giác ở Hàng Đào thì lành lắm: nó không cắn ai bao giờ”. “Không có hổ vàng, sư tử vàng” (Những biển hàng). Gắn với các biểu tượng này là một vài câu chuyện mang tính chất giai thoại không xác định tạo một nét hấp dẫn bình dị. Tất cả điều đó kết hợp thành một nét đẹp độc đáo mà một ai yêu Hà Nội chưa tận độ, hoặc không chuyên tâm tìm hiểu thì khó mà phát hiện được.
 Nâng niu trân trọng những nét đẹp mang tầm vóc lịch sử văn hoá dân tộc, Thạch Lam không đồng tình với một số việc, một số hiện tượng chưa đẹp . Mục Người ta viết chữ Tây: Vẫn là chuyện biển hàng, nhưng “bây giờ các biển hàng viết chữ Pháp chiếm đến chín phần mười trong các biển hàng. Nhiều hàng, tuy chỉ giao thiệp với khách hàng Việt Nam thôi, cũng toàn chữ Pháp, cũng như ngày xưa họ đã dùng toàn chữ Nho”. Người sử dụng không nắm vững mẹo luật, sai nghĩa, sai chính tả thành ra lố bịch, phản cái đẹp, thiếu văn hoá. Thạch Lam chắc cũng không thích gì phải dẫn ra nhiều trường hợp sai sót đến thế nhưng không thể không làm.
 Ông không phải là người hoài cổ, nhưng ông thực sự tiếc những cái đẹp mang chiều sâu văn hoá của dân tộc bị mai một khi quan sát và suy ngẫm về Những biển hàng.Ông nâng niu, trân trọng giá trị văn hóa, những nét đẹp ẩn chứa trong từng vật thể này. Bởi ở đó kết đọng những phẩm chất tốt đẹp của một thương hiệu, là kết tinh những giá trị thư pháp, là truyền thống quý báu, là công sức của nhiều thế hệ vun đắp mới có được. “Tạng” của ông không khi nào gay gắt, đốp chát nhưng quả là ông ngỡ ngàng và đau buồn khi thấy “Tất cả cái gì cũng thay mới: người ta không những thấy có biển hàng, người ta thấy cả bề mặt cái cửa hàng nữa. Và sự thay đổi bề ngoài ấy đem đến cho phố xá Hà Nội một vẻ mới riêng, hơi lạ lùng và đột ngột .”
 Ông là người thấy rõ giá trị những tiến bộ của thời đại mới, bởi ông là người có vốn Tây học uyên thâm, trẻ trung, rất nhạy cảm với cái mới. Đồng thời ông cũng luôn có ý thức nâng niu và bảo tồn truyền thống. Ông thấy: “Những phố gạch thẳng và rộng rãi, với từng dãy nhà giống nhau đứng xếp hàng, thẳng và đứng hàng, đó là biểu hiện của văn minh” . Nhưng cũng vì nó mà mất đi vẻ tự nhiên, vẻ yên tĩnh của những giá trị ổn định trong đời sống của một Thăng Long- Hà Nội cổ kính mang vẻ đẹp xưa- một Hà Nội giản dị mà hài hoà, mộc mạc mà chan chứa tình người, ấm tình làng xóm, với những nét sinh hoạt thân quen đậm đà bản sắc văn hoá.
Trang văn nhắc đến một vài lối ngõ con : “ngõ Phất Lộc… ngõ Trung Yên”,.. ngọn cỏ Ô Quan Chưởng không có gì khác lạ mà sao thức dậy trong lòng người yêu Hà Nội bao nỗi xót xa. Hình ảnh “Bên này một cửa hàng tạp hoá có đầy đủ quả sơn đen, có chồng giấy bản và ống bút nho, có cô hàng thuỳ mỵ mà hàng phố vẫn khen là gái đảm đang.
 Bên kia, nhà một ông cụ Tú, có tiếng trẻ học vang, có cậu học trò xinh trai đứng hầu chè thầy bên tràng kỷ” không cao sang, lộng lẫy, xa hoa nhưng thật đẹp, đầy cảm mến. Đáng yêu sao Hà Nội một thời tuy không có nhà cao tầng, ít tiện nghi như châu Âu hiện đại nhưng lại tiềm tàng bao nét đẹp cổ điển phương Đông với một lối kiến trúc riêng: “Giữa nhà, mảnh sân vuông lộ thiên, có bể non bộ và cá vàng, có dãy chậu lan, có bể đựng nước và trên tường có câu đối chữ Nho. Đôi khi đi qua một cánh cửa hé mở chúng ta thoáng nhìn vào: bóng một thiếu nữ nhẹ qua sân, hình dáng một cụ già cúi mình trên cây cảnh. Tất cả cuộc đời của những kẻ bên trong, cuộc đời xưa, những ý nghĩ cũ, những hy vọng và mong ước khác bây giờ “.
 Yêu Hà Nội nghĩ về những giá trị của một nền văn hoá đang bị tàn phai, bị thay thế, Thạch Lam không kìm giữ được tâm thế điềm tĩnh vốn có của mình đã phải đau xót thốt lên: “Không còn gì của Hà Nội ngoài năm sáu mươi năm trở về trước. Thăng Long của vua Lê, của chúa Trịnh không còn dấu vết nào: đâu còn những cung điện ngày xưa, những phụ đế của các bậc công hầu, khanh tướng? Thỉnh thoảng một vài tên gọi còn khắc lại, một vài đống đất còn ghi dấu, thế thôi”.
 Đặc biệt, những suy nghĩ, quan niệm và trăn trở của nhà văn, dưới góc nhìn văn hoá ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Ông không chịu được sự lai căng, pha tạp làm tổn thương đến giá trị trường tồn của những công trình mang giá trị biểu trưng của dân tộc:Hình ảnh Hồ Gươm, Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn là một cái gì thiêng liêng, cao quý trong tâm thức của người Hà Nội nói riêng, người Việt nói chung. Mọi sự đổi thay, gán ghép cho dù mới chỉ trong ý định cũng không thể chấp nhận.
 Với tầm nhìn văn hoá vượt thời đại, bằng cảm quan nghệ thuật tinh tế, Thạch Lam sớm nhận ra nét đẹp hoàn mĩ và giá trị thực của các di sản văn hoá này. Với ông, những việc làm cho dù với dụng ý tốt đẹp như mắc thêm đèn điện chiếu sáng, đắp tượng đài, làm bót cảnh sát để giữ gìn an ninh... nhưng thiếu mất cái nhìn của người có con mắt văn hoá sắp đặt thì đều chỉ là “sự thêm thắt xấu xa”, là “bôi nhọ vẻ đẹp”. Nhìn những cột điện thẳng tắp, sừng sững, dây điện nhằng nhịt, với những cái “bình tích” bằng sứ trắng, ông thấy cột điện “như một thứ cây già mọi rợ, vụng về. Cái cây đó làm cho vẻ đẹp của cổng đền Ngọc Sơn giảm mất đến chín phần mười”.
 Không phải ông phản đối việc đưa văn minh công nghiệp vào việc làm đẹp, mà ông nói rõ : “ Muốn sáng cổng, sáng cầu thì thiếu gì cách: mắc đèn vào những chỗ lõm, khuất khúc của cổng và của cầu: đèn để như thế vừa được kín đáo, vừa không làm giảm vẻ đẹp, không kể đến lối ánh sáng đập lại ấy dịu dàng và làm tôn cảnh đền hơn lên. Đằng này, mắc những vòng sắt với cách hoa hoét rẻ tiền kia vào cái cổng đẹp đẽ có lối kiến trúc riêng, có vẻ cổ sơ ấy, thực là một cách đập phá mĩ thuật tai hại không gì bằng” .
 Điều đó chứng tỏ khả năng nhìn nhận cái đẹp của Thạch Lam thật tinh tế, sâu sắc, nhất là những giá trị văn hoá cổ truyền dân tộc, ẩn chứa trong từng vật thể và phi vật thể như những gì ông đã thể hiện.
Khu phố cổ Hà Nội: phố Bắc Ninh (nay là Nguyễn Hữu Huân)
"Hà Nội 36 phố phường" là một cách gọi không chính xác của khu phố cổ, vì 36 phố phường là một cách gọi ước lệ khu vực đô thị cổ, nằm bên trong và bên ngoài cả khu phố cổ.
Với khoảng 400 phố hiện nay, Hà Nội thưa thớt dăm ba cái tên phố là địa danh nơi khác. Và Hà Nội từng có một phố mang tên Bắc Ninh. Thời thuộc Pháp, có một phố mang tên thống chế Pétain, mang thêm tên phố Bắc Ninh, sau đổi thành phố Phan Thanh Giản và nay, tên chính thức là phố Nguyễn Hữu Huân. Một đầu là chỗ ngã ba với phố Trần Nhật Duật (có Trường tiểu học Trần Nhật Duật), nhưng theo một góc nhọn chứ không phải là góc thước thợ như những ngã ba thông thường khác.
Trường Tiểu Học Quang Trung - 39, Quang Trung ,Q.Hoàn Kiếm *** Trường tiểu học Nguyễn Du – phố Nguyễn Hữu Huân, Q.Hoàn Kiếm (bên phải)


Sau khi lăn mình gần tròn 450m, nó kết thúc ở ngã tư Lý Thái Tổ và Lò Sũ, mà một thời phố Lý Thái Tổ được gọi là Hàng Vôi trên, phân biệt với Hàng Vôi đi song song và nhỏ hơn về phía Đông. Trường tiểu học Nguyễn Du từng được gọi là trường Hàng Vôi cũng vì thế.
Hà Nội là nơi hội tụ nhiều thứ hàng, nhiều nghề, mỗi nghề cũng thường mang một nét gì đó tượng trưng, chẳng hạn các cửa hàng chữa điện thường mang chữ Quang, hàng đồ gỗ mang chứ Lâm, hàng vàng bạc mang chữ Kim.
Trong đó, những hiệu làm và bán đồ gỗ có chữ Lâm thì tập trung khá nhiều ở phố Bắc Ninh như Quảng Lâm, Quản Nam Lâm, Thành Lâm, Mỹ Lâm, vì phố Bắc Ninh một thời gần như phố bán đồ mộc từ cái giường đôi, cái ghế đẩu, chạn bát, giá để sách, tủ đứng, bàn làm việc.... có nhà làm ngay đồ trên vỉa hè, có nhà buôn gỗ súc để hàng đống gỗ tròn, trẻ con trèo lên chơi, có nhà chỉ buôn thành phẩm.
Cho đến thời điểm năm 1997-1998, chỉ còn một hai nhà chế biến đồ gỗ, còn mấy chục nhà buôn cất hàng đóng sẵn từ nơi khác đến giường, tủ, bàn, ghế, tủ gương, tủ tường, xa lông, những thứ đóng ở Hà Đông, Sơn Tây, Cổ Nhuế.
Chỗ đầu phố, trước khi có cây cầu Chương Dương đồ sộ, người Hà Nội quen gọi chỗ này là phố Cột Đồng Hồ vì có một cái đồng hồ công cộng. Còn hai bên phố có hai cái ngõ nhỏ, rất Hà Nội. Một là ngõ Phất Lộc (Thạch Lam có nhắc đến). Còn con ngõ nữa có tên chính thức là ngõ Nguyễn Hữu Huân, trước đây có tên là phố Bạch Thái Bưởi. Khi tên phố đổi, cái ngõ cũng phải đổi tên theo, Bạch Thái Bưởi chỉ còn là kỷ niệm trong lòng người Hà Nội.

Phố Nguyễn Hữu Huân nằm gọn trong khu phố cổ. Nguyên lòng phố Nguyễn Hữu Huân nay phẳng lỳ, thẳng tắp, nằm sâu trong lòng đất Hà Nội chứ khoảng trăm năm trước, đây còn là bờ sông, con đê chắn sóng còn nằm trên lòng con đường ngày nay.

Nguyễn Hữu Huân, người làng Tịnh Hà, tỉnh Tiền Giang. Ông thi đỗ thủ khoa năm 1853, nên ông mang thêm tên Thủ Khoa Huân. Năm 1875, chúng bắt ông, tuyên án tử hình, ông tự cắn lưỡi chết không chịu để Pháp chặt đầu. Ông cũng để lại nhiều áng văn thơ giá trị, còn trong nhiều tuyển tập do đời sau sưu tầm.

Đi trên hè phố Nguyễn Hữu Huân, cứ mang máng nhớ đây là phố Bắc Ninh xưa. Hàng cây xà cừ lực lưỡng mới trồng mấy chục năm nay, loáng thoáng reo vui, bóng lá thưa thớt chỉ đủ cho gió lướt qua nhè nhè, mà mình hình dung ra lơ thơ dòng nước sông Cầu, phảng phất tiếng ca quan họ, thấp thoáng tá áo đổi vai của liền chị ngày xuân cùng cái ô anh hai dùng dằng người ở...
TÓM TẮT
-Trong lời bạt viết cho cuốn Sống mãi với thủ đô -tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng - in ra 1961, nhà văn Nguyễn Tuân từng đưa ra một nhận xét chung:
hình như hầu hết danh nhân, anh hùng cổ kim nước ta đều là những con người Hà Nội. Các vị ấy có thể quê quán gốc tích ở “ngũ tỉnh đàng trong, tứ tỉnh đàng ngoài!” nhưng cái đoạn trội nhất của các bậc ấy vẫn là diễn ra trên mảnh đất thủ đô.
Cũng là một điều đúng vậy, khi mọi người bảo rằng Thủ đô là cái nơi kết tinh mọi phong vị nhân tài của một dân tộc đời này qua đời khác. Cho nên những con người Thủ đô bao giờ cũng bén nhậy sắc cạnh hơn những người khác với tất cả những ưu điểm và nhược điểm của nó, với tất cả cái trí cái dũng, cái tài, cái tật của nó”.
Hà Nội, Thủ đô ngàn năm văn hiến của ta là vậy. Mừng 60 năm giải phóng Hà Nội, chúng ta hãnh diện về một rừng Nhà văn – dù sinh quán tại Hà Nội hay ở Tỉnh – đều về sinh sống tại đất Thăng Long ngàn năm văn vật, chính tại nơi đây, họ đã viết biết bao điều hay lý thú về Thủ đô yêu dấu của đất Việt con cháu Rồng Tiên vậy.
Nhớ Về Ngày Giải Phóng Thủ Đô, chúng ta cùng nhau hát ca khúc :
     Tiến Về Hà Nội - Sáng tác: Văn Cao

     Chùng chùng quân đi như sấm./ Ngàn ngàn đoàn quân tiến về
     Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng/ Cờ ngày nào tung bay trên phố.

     Chùng chùng say trong câu hát./ Lấp lánh người nghe sáng ngời
     Chúng ta đem vinh quang/ Sức dân tộc trở về. /Cả cuộc đời tươi vui về đây.

     Năm Cửa Ô đón mừng đoàn quân tiến về./ Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào
     chảy dọc sức sống long lanh./ Chúng ta ươm loại hoa sắc hương phai ngày xa.

     [ĐK:]

     Ôi phố phường Hà Nội xưa yêu dấu./ Những bông hoa ngày mai đón tương lai vào tay
     Như xuân đời mỉm cười vui hát lên./ Khi đoàn quân tiến về là đêm tan dần
     Như mùa xuân xuống cành đường nghe gió về./ Hà Nội vang tiến quân ca.

(Tham khảo: Tài liệu trên Sách báo trên Internet)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 24.9.2014.