Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Tomas Tranströmer trong buổi lễ nhn giải Nobel


                 NOBEL VĂN HỌC 2011


TOMAS TRANSTRÖMER          






Tomas Tranströmer - chủ nhân giải Nobel văn học 2011 đã quen thuộc với độc giả Thụy Điển và thế giới từ hơn 30 năm qua.

    Transtroemer sinh tháng 9 năm 1931 tại thủ đô Stockholm  Thụy Điển.  Ngay từ thuở niên thiếu, Transtroemer đã say mê văn học và bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi. Tập thơ đầu tay với cái tên giản dị 17 dikter (17 bài thơ). của ông đến với bạn đọc năm 1954.  Bốn năm sau, khi ra mắt tập thơ thứ hai Hemligheter på vägen (Bí mật trên đường), Tomas Tranströmer đã tạo được bản sắc riêng và nhanh chóng được chú ý. Những bài thơ của ông tỏa sáng với sự giản dị hiếm có, nhận thức tinh tế, ấn tượng thân thiết và ẩn dụ phong phú. Lúc ấy, Tomas Tranströmer còn là sinh viên ngành tâm lý học tại Đại học Stockholm Ông tốt nghiệp Khoa Tâm lý học trường Đại học Stockholm năm 1956. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông Tomas gồm tập thơ “Windows and Stones” ra đời năm 1966 và tập thơ “Baltics” năm 1974.
Nhà thơ Tomas Transtroemer được coi là một trong những cây viết xuất chúng nhất tại khu vực Bắc Âu kể từ Thế chiến II, Tập thơ mới nhất "Den stora gatan" – “Điều bí ẩn lớn” của ông được xuất bản năm 2004. Ngoài thi ca, Transtroemer cũng viết một cuốn ký ngắn có tên "Minnerna ser mig" – “Những kỷ niệm đang nhìn tôi”.
 
 
HAI NGƯỜI BẠN CHÍ THÂN
 
    Bên cạnh giải Nobel Hòa bình,  giải Nobel Văn học là một trong hai hạng mục được chờ đợi nhất mỗi kỳ Nobel. Những người đoạt giải trước Transtroemer gần đây gồm Mario Vargas Llosa, Herta Mueller, Jean-Marie Gustave Le Clezio, Doris Lessing, Orhan Pamuk, Harold Pinter, Elfriede Jelinek, JM Coetzee, Imre Kertesz, VS Naipaul, Cao Hành Kiện, Guenter Grass, Jose Saramago, Dario Fo và Wislawa Szymborska.
Trước khi Nobel Văn học 2011 được công bố thì có nhiều đồn đoán là nhà thơ người Syria Adonis sẽ đoạt giải.
 Trong danh sách các ứng cử viên trong năm 2011 còn có một nhà văn khá quen thuộc với độc giả Việt Nam là tác giả người Nhật Haruki Murakami.  Các dự đoán thường trật nhiều hơn trúng vì việc trao giải này luôn bất ngờ vào phút cuối. 
    Nobel Văn học 2011  trao cho thi sĩ - nhà tâm lý Tomas Transtroemer - người đã từng vào danh sách ứng cử của giải này vài lần. Trước khi đoạt giải Nobel, tác phẩm của Tomas Transtroemer đã được dịch ra gần 60 thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt,  Tomas Transtroemer mới in 13 tác phẩm tiếng Thụy Điển, thì đã có 11 tác phẩm được dịch ra tiếng Việt. 11 tác phẩm được sáng tác trong giai đoạn từ 1954 đến 1996, thi sĩ Nguyễn Xuân Sanh dịch qua bản tiếng Pháp từ đầu thập niên 1990, NXB Văn học in năm 2000 với tên gọi Tomas Transtroemer Toàn tập thơ. Tuyển tập này gồm các tập: 17 bài thơ (1954), Những bí mật trên đường (1958), Bầu trời một nửa đã xong (1962), Tương đồng và dấu ấn (1966), Hình tượng ban đêm(1970), Những lối mòn (1973), Biển Baltic (1974), Rào cản của chân lý(1978), Quảng trường hoang dã (1983), Vì người sống và người chết (1989), Du thuyền tang lễ (1996). Năm 1998, Nguyễn Xuân Sanh đã sang Thụy Điển để gặp Tomas Transtroemer, cùng đàm đạo và làm sáng tỏ nhiều ý tưởng mà ông muốn chuyển sang tiếng Việt. Do ngôn ngữ khác biệt , dịch giả không cảm được thì không thể dịch được,  bởi thơ gần như không thể dịch, mà chỉ có thể đồng sáng tạo, thông qua việc đồng hành với thi sĩ. Họ đã trở thành “hai người bạn chí thân”, như trong lời tựa tuyển tập đã đề cập. 
    Ngoài sáng tác văn chương, ông còn được biết đến là nhà tâm lý học làm việc trong những trại giam dành cho trẻ vị thành niên và là bác sĩ tâm lý của những phạm nhân tàn tật, nghiện ma túy. Những đóng góp của ông cho xã hội là điều vô giá, xuất phát từ chính tâm hồn nhạy cảm và lòng trắc ẩn của tác giả tài năng này
 
THƠ TOMAS TRANSTROEMER
 
    Tomas Transtroemer là nhà thơ thứ ba của Thụy Điển  đoạt giải Nobel sau Harry Martinson và Eyvind Johnson (1974). Nhà thơ Tomas Transtroemer dấn thân qua  tiếp cận và giáo hóa các tội phạm trẻ, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật bằng kiến thức tâm lý chuyên ngành  "qua những hình ảnh trong sáng, súc tích trong thơ, ông đã mang tới cho mọi người cách tiếp cận hiện thực mới mẻ". Thơ của Tomas Transtroemer được dịch ra gần 60 thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt, Nhà thơ Tomas-80 tuổi- là người thứ 108 nhận giải Nobel Văn học danh giá kể từ năm 1901. Ông là người châu Âu thứ tám giành giải  Nobel Văn chương trong 10 năm qua. Điều này từng khiến Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển bị chỉ trích là hẹp hòi và cục bộ. Theo AFP, thơ ông dồi dào sự ẩn dụ và hình tượng, vẽ nên những hình ảnh đơn giản từ tự nhiên và cuộc sống thường nhật. Thơ ông làm người đọc liên tưởng tới Naïve Kunst –Nghệ thuật ngây thơ (một trường phái  hội họa nhấn mạnh đơn giản, vô tư, lựa chọn trí tưởng tượng của các họa tiết. Nổi tiếng là họa sĩ Niko Pirosmani của   Gruzia,  Ivan Generalić  của Croatia Antonio Ligabue  của Italia.  Peter Englund - Thư ký thường trực Viện Hàn lâm - nhận xét thêm: "Tomas Transtromer đến với thơ ca bắt đầu từ năm 1951. Gia tài của ông không quá đồ sộ. Nhưng ông đặt ra những câu hỏi lớn. Ông viết về cái chết, về lịch sử, ký ức và tự nhiên". Thơ Thụy Điển còn khá xa lạ tại Việt Nam, chủ yếu do cách ngăn ngôn ngữ. Năm 2009, quyển Thơ Thụy Điển (NXB Hội Nhà văn) ra đời, trong đó có nhiều thơ của Tomas Transtroemer.  Năm  2010, dịch giả Đoàn Tử Huyến in  quyển Các nhà văn Thụy Điển giải Nobel, NXB Lao động phát hành.
 
TRÍCH THƠ TOMAS TRANSTROMER

Trại giam

(Chín bài thơ haiku làm ở Henbiu, Trại giam các tội phạm vị thành niên)

1. Thật rối bời
Trong lúc chơi đá bóng:
Quả bóng bỗng vụt bay qua tường.


2. Người ta làm rùm beng
Cho thời gian hoảng sợ
Để nó chạy đi nhanh hơn.


3. Cuộc đời nhầm lẫn
Vẻ đẹp nơi đây –
Là những bức tranh trong các vết xăm mình.


4. Sự tất bật của công việc
Cùng nóc nhọn tháp canh
Làm cho rừng ngạc nhiên vô kể.


5. Tấm lưới sắt đã được kéo lên
Chúng tôi vào trong sân
Một thời điểm khác của năm.


6. Ngọn đèn soi bức tường
Những con ruồi nhìn thấy vết bẩn
Của ánh sáng ảo huyền.


7. Đêm. Chiếc xe vận tải đi qua
Giấc ngủ người tù
Run rẩy.


8. Uống sữa xong
Chàng ta thiu thiu ngủ
Buồng giam – Bà mẹ sắt đá!


9. Chàng trốn trại bị bắt ngay trở về
Dốc ngược hết cả túi quần, túi áo
Chứa đầy lá xanh.
 
Trích chùm thơ “Điều bí ẩn nhiệm màu”


1. Những mảnh vườn treo
Trong tu viện Tibet –
Một bãi chiến trường.


2. Con hươu nhìn mặt trời…
Đàn ruồi xanh lập lòe thoáng hiện
Đơm bóng đen vào đất.

3. Bức tường tuyệt vọng…
Những con chim bồ câu ngây thơ
Bay đến rồi bay đi.


4. Mặt trời mùa Đông…
Bóng tôi lồng lộng bơi
Rồi mờ đi.


5. Cái chết nghiêng xuống bờ vai tôi
Tôi chỉ là một quân cờ
Hắn thông tỏ mọi đường đi, nước buớc.


6. Mặt trời ghé qua
Những con tàu mõm chó
Nhìn tôi.


7. Ở những nơi lồi lên
Của đường nứt và lối mòn
Là giấc ngủ và núi băng trôi.


8. Trời nắng gắt
Đàn dê leo lên đồi
Xuỵt xùy nhóm lửa.


9. Những chiếc lá vô giá lìa cành
Như là bao tiếng réo
Của Biển chết.


10. Họ viết hoài, viết mãi
Chất keo chảy thành dòng
Qua cả bến Xơtíc.

11. Một khu rừng rậm
Ngôi nhà tuềnh toàng của mặt trời
Những bức tường toả sáng.


12. Buông lỏng dây cương mặt trời
Theo lối mòn lần bước –
Có ai gọi mình chăng?


13. Mặt trời trôi…
Những lá buồm đen sẫm
Mọc lên từ ký ức.


14. Nắp quan tài bị nứt
Tử thi liền nhìn tôi –
Ồ đây là gương mặt!


15. Cái lặng im của màu tro tàn…
Người khổng lồ xanh đi qua,
Ngọn gió lạnh thổi từ biển cả…
dịch thơ Triệu Lam Châu


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 23.9.2014.