Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VÀI MẨU CHUYỆN VỀ VUA THÀNH THÁI





Vua Thành Thái (1889-1907), ông vua thứ 10 của triều Nguyễn, tên thật là Nguyễn Phúc Bửu Lân, là con của vua Dục Đức, sinh ngày 14-3-1879, lên ngôi ngày 1-2-1889, lúc mới 10 tuổi.

    Là một ông vua yêu nước, có tinh thần chống Pháp nên Ngài bị Khâm sứ Pháp lấy cớ Ngài bị điên, đã tuyên bố truất quyển Ngài và quản thúc trong Đại Nội. Một Hội đồng phụ chính do Trương Như Cương cầm đầu được thành lập.
    Ngày 3-9-1907, triều thần theo lệnh của Pháp, vào điện Càn Thành dâng lên vua dự thảo chiếu thoái vị có chữ ký của các đại thần – trừ Ngô Đình Khả - (1) với lý do sức khỏe kém nên xin thoái vị. Vua Thành Thái chỉ cười nhạt, cầm bút ghi hai chữ “phê chuẩn” rồi bỏ đi vào trong.
    Ngày 12-9-1907 nhà vua bị đưa đi quản thúc ở thành phố Cap Saint-Jacques (nay là Vũng Tàu). Đến năm 1916, Ngài cùng với con là vua Duy Tân bị Pháp đày sang đảo Réunion ở châu Phi.
    Tháng 5 năm 1945, sau khi vua Duy Tân mất, nhờ sự vận động của con gái và con rể Ngài – vợ chồng luật sư Vương Quang Nhường – cựu hoàng Thành Thái mới được cho về Việt Nam, sống tại Sài-Gòn.
    Tháng 3 năm 1953, Ngài được phép về Huế thăm lăng tẩm của cha mẹ. Ngài mất ngày 24-3-1954, thọ 75 tuổi, được an táng trong khuôn viên thành An Lăng (lăng vua Dục Đức), thế là cha con được đoàn tụ cùng nhau.

***

    Có một giai thoại vui vui về vua Thành Thái: Thời còn làm vua, một lần Ngài cải trang thành một thư sinh nho nhã lên Kim Long chơi. Sau khi thăm thú nhiều nơi, vua cùng mấy người tùy tùng xuống bến đò. Thấy cô lái đò xinh đẹp, nhà vua ỡm ờ hỏi:
    - Này, có ưng làm vợ vua không?
    Tưởng là lời nói đùa, nàng đánh bạo nói “Ưng”.
    Thế là nhà vua giành lấy tay chèo, cho đò đến trước Phu Văn Lâu rồi nhanh chóng “đưa em vào Nội”. Thật là một cách tuyển cung phi mới lạ. Câu ca dao:
Kim Long có gái mỹ miều,
Trẫm thương Trẫm nhớ, Trẫm liều Trẫm đi.
phải chăng xuất phát từ câu chuyện này?
    Vua Thành Thái rất thích hát bội mà cũng rất thích chuyện vi hành. Một lần Ngài vào Sài-Gòn gặp bữa có tuồng hay, Ngài cùng hai viên quan cận vệ giỏi võ nghệ giả dạng thường dân mua vé vào xem. Theo số ghế, Ngài ngồi ở hàng thứ hai, phía trước là một người điền chủ từ Lục tỉnh lên, quen thói ở quê nhà, vào rạp hát mà cứ đội mũ nỉ trên đầu. Đến đoạn tuồng gay cấn, người điền chủ nhổm dậy xem, cái mũ trên đầu y che khuất đào kép trên sân khấu nên nhà vua bực lắm. Muốn dạy cho gã kia một bài học, Ngài bèn lấy cây ba-toong vẫn cầm theo hất chiếc mũ trên đầu y xuống. Không ngờ người này là một kẻ giỏi võ nghệ nên phản ứng ngay, một tay chụp mũ, tay kia thoi vào mặt nhà vua. Nhưng một viên quan cận vệ rất giỏi võ và nhanh hơn, gạt tay y ra và thét lớn:
    - Không được phạm giá !
  Gã điền chủ hoảng hồn, vội vàng sụp lạy. Nhà vua bèn đỡ dậy và nói:
    - Không sao, không sao !
    Lần khác, nhà vua cũng giả dạng thường dân đi xem hát bội. Người kép hát đóng vai vua rất đạt, còn cô đào thì đẹp tuyệt trần, nhà vua muốn xem mặt hai người ấy. Khi gần vãn hát, vua sai viên quan cận vệ vào hậu trường báo trước vua sẽ vào thăm. Khi Ngài vào, người kép hát đóng vai vua chưa kịp thay áo, thấy Ngài bèn sụp lạy. Nhà vua vội đỡ dậy và cười nói:
    - Ta là vua, ngươi cũng là vua, việc gì phải lạy.
    Câu nói đùa nhưng có hàm ý sâu xa: Ông vua kia là anh kép hát, còn ngài làm vua nhưng không có thực quyền (vì quyền hành nằm trong tay người Pháp) thì cũng như nhau, có ai hơn ai đâu (2).
    Vua Thành Thái còn là nhà thi sĩ. Bài thơ “Kỷ độ tang thương” của Ngài dưới đây chẳng những cho ta biết thi tài của Ngài mà còn nói lên tâm sự, chí khí của Ngài nữa:

KỶ ĐỘ TANG THƯƠNG

Kỷ độ tang thương, kỷ độ kinh,
Kim triêu hồi thủ bất thăng tình.
Ngưu Hồ dĩ định tam triều cuộc,
Long Đỗ nhưng lưu bách chiến thành.
Nùng Lĩnh phù vân kim cổ sắc,
Nhị Hà lưu thủy khốc ca thanh.
Cầm Hồ, đoạt sáo nhân an tại,
Thùy vị giang sơn tẩy bất bình.

Vua Thành Thái

    Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn dịch:

                        Biển dâu dời đổi trải bao nhiêu,
                        Ngoảnh lại càng đau ruột chín chiều.
                        Bến cũ ba triều trâu mẹp lấm,
                        Lũy xưa trăm trận cọp nằm queo.
                        Bức tranh mới cũ mây Nùng chấm,
                        Khúc nhạc vui buồn nước Nhị reo.
                        Hàm Tử, Chương Dương còn đó đó,
                        Non sông luống để bụi trần đeo.

     Ý của nhà vua là trách anh hùng hào kiệt trong nước sao không vùng dậy kế tục cái truyền thống “Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan” của người xưa mà đánh đuổi quân thù, rửa sạch lớp bụi ô nhục trên đất nước. Trách sĩ dân mà cũng tự trách mình, tâm sự nhà vua thật xốn xang đau đớn (3).
      Thuở vua Thành Thái ngự du Nam Kỳ, lúc tàu cập bến Sài-Gòn, Ngài có làm bài thơ sau đây:

                        Tai nghe nổi tiếng dội ù vang,
                        Tàu ghé gieo neo rộn rộn ràng.
                        Trẻ lật đật khiêng rương vũ trụ,
                        Già bôn chôn quảy gánh giang san.
                        Ầm ầm lên xuống đồ vương bá,
                        Nượp nượp đi về lũ lỗ man.
                        Ở đó nhộn nhàng dân sáu tỉnh,
                        Đi rồi, nước lặng, cõi bờ an.

Khi vua Thành Thái dự yến tại Sài-Gòn, bà Sương Nguyệt Anh (con gái cụ Đồ Chiểu) có bài thơ nhan đề:

                        HOÀNG ĐẾ THÀNH THÁI DỰ YẾN TẠI SÀI- GÒN

                        Ngàn thu may gặp hội Minh lang,
                        Thiên hạ ngày nay trí mở mang.
                        Tấc đất ngọn rau tràn dưới mắt,
                        Đai cơm bầu nước chật ven đàng.
                        Vui lòng Thánh đế nơi xe ngựa,
                        Xót dạ thần dân chốn lửa than.
                        Nước mắt cô cùng trời đất biết,
                        Biển dâu một cuộc nghĩ mà thương (4).

Những di vật của vua Thành Thái

Sau khi vua Thành Thái qua đời, hai di vật của nhà vua là chiếc xe kéo mà nhà vua tặng mẹ là bà Từ Minh Hoàng Thái hậu để dạo chơi trong vườn ngự uyển và chiếc long sàng của nhà vua đã lưu lạc sang Pháp.

Chiếc xe kéo thì Việt Nam đã đấu giá trúng 55.000 Euro cộng thêm 24% lệ phí đấu giá, nhưng Huế mới có 46.000 Euro và đang vận động thêm, chắc ngày trở về Việt Nam của di vật này cũng không xa. Còn chiếc long sàng bị đẩy giá quá cao (100.000 Euro) cộng thêm 24% lệ phí nên Việt Nam không thể với tới. Tin sau cùng cho biết người đấu giá được chiếc long sàng là ông Tạ Văn Quang, cháu họ của vua Thành Thái nên có nhiều hy vọng chiếc long sàng sẽ được trả về Việt Nam.

________________________________________________

(1) Vì thế ở Huế có câu : “Đày vua không Khả, đào mả không Bài”. Khi Khâm sứ Pháp ở Huế là Mahé ra lệnh đào lăng vua Tự Đức để tìm vàng thì Thượng thư Bộ Công là Nguyễn Hữu Bài cực lực phản đối.
(2) Theo lời kể của ông Trương Đình Nam.
(3) Lam Giang – Hồn thơ đất Việt thế kỷ XX.
(4) Vũ Ngọc Phan – Thi sĩ Trung Nam.
Bài này đã đăng trên tạp chí KIẾN THỨC NGÀY NAY số số 862 ngày 20-7-2014
Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 01.9.2014 .