TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la banlieue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).






BÚT KÝ & TRUYỆN


THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 1/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E -mail 2/2

CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ

ĐÊM DÀI TÌNH ÁI

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA -Chương 1 Kỳ 1

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 1 Kỳ 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 2/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3 tiếp theo

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 4

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 4

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 5

CON CHÓ LIÊM SỈ

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 6

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 5

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 7

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 8

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 9

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 10 - KẾT





BIÊN KHẢO


LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 1





Mời bạn mở để nghe
Hoài Cảm của nhạc sĩ Cung Tiến.





















THAY LỜI DẪN

Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA vv..hoặc ở Pháp, Đức, Úc..

Newvietart xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :

a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)

b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).

c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)

d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).

e) Le Journal d'Extrême Orient (Saigon, 3 Décembre 1959)" Lược sử văn nghệ Việt nam-Hisotire de la littérature vietnamienne". Histoire sommaire de la littérature vietnamienne, òu l'auteur passe en revue les écrivains d'avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre est tirée sur ronéo avec une tirage limitée. Fruit de minuitieuses recherches et d'une riche documentation donnée une vue d'ensemble des diverses époques et tendances des écrivains, des poètes du Vietnam, de leurs oeuvres, d'une littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l'Histoire. C'est une synthèse remarquablement coordonné annotée parle critique éminent qu'est ThếPhong qui l'achevée dans les derniers jours de Juin 1956

(đã in ở cuối sách "LSVNVN-Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của ThếPhong, NXB Vàng Son Saigon 1974)...

Từ Vũ và Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu .






VÀI DÒNG TÂM SỰ NGƯỜI VIẾT SÁCH

T rước hết cảm ơn bậc đàn anh bước trước: Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh – Hoài Chân ... (chẳng là gần với tài liệu văn học tham khảo, cũng như so sánh).

Viết sách biên khảo hay phê bình, giá trị nhiều hay kém có thể nằm trong vài ý kiến dưới đây: Lập trường người viết phải có trước khi tìm kiếm tài liệu. Ấy là đã phải kể tới kiến thức, học và đọc; khả năng và tâm hồn văn nghệ nhạy cảm của người viết phê bình.

Lại cần kinh nghiệm, nhỡn quan nhìn, phải được chế biến theo lập luận người viết càng nhuyễn, sách càng phong phú. Không thể coi sách tương tự như cours nhà trường, làm thành gọi là biên khảo, phê bình văn học. Cũng như étude, non-fiction, fascicule, étude critique sur critique phân minh rõ ràng.

Tài liệu dồi dào, nhưng tài liệu nào chưa đọc, không nên bao biện. Người viết không định ý, lập luận; hẳn tài liệu phong phú dồi dào đi nữa; cuối cùng người viết chết theo với tài liệu sưu khảo được. Nhớ tới Nguyễn Hiến Lê trong một sách biên khảo bàn về tài liệu, nhất là tìm tài liệu văn học, sử học Việt Nam khó gấp bội phần khi sưu tập tài liệu tương tự ở nước ngoài. Ý kiến thật xác đáng. Nước ta triền miên khói lửa, và tầm mức thẩm định giá trị tài liệu văn học chưa được sử dụng đúng mức, công bằng.

Cộng đời sống thấp kém, ít thời giờ đọc sách, mua sách, bảo tồn sách, nên tủ sách văn học Việt Nam cần cho người viết sử dụng còn ở tình trạng rất thiếu thốn.

Khi viết bộ sách này, khích lệ tôi nhiều nhất phải kể tới một người: đó là anh Nguyễn Đức Quỳnh. Ông nhắn nhủ tôi rằng: “tài liệu nhiều chưa chắc đã là một yếu tố thành công, còn phải dám làm, dám nhận trách nhiệm”.

Đôi khi, chính kẻ dám làm lại liều lĩnh và dám biết mình ngu. Như vậy, chắc chắn tôi biết trách nhiệm khi viết sách. Cảm ơn một lần nữa nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh, ông bạn văn tiền chiến vong niên. Nữa, cho tôi xin cảm ơn thêm vài tấm áo vải lao động: như anh chị Hai Nụ ở Xóm Chùa (Tân Định) làm nghề thợ thêu. Anh chị nuôi sống tôi hai năm trời: cơm và nhà ở. Nhà thuê vào năm viết bộ sách là một trăm năm mươi đồng. Tiền cơm bốn trăm đồng. Chưa hết, ông già Lịch bán thuốc lá, cũng ở đây; cho tôi chịu khoảng hai ngàn đồng tiền thuốc lá. Thuốc lá Ruby khoảng sáu đồng một bao. Sáu tháng liền, tôi chỉ đi ra tới ngõ; xa hơn là 147B Trần Quang Khải (Sàigòn 1) tới tiệm cho thuê sách Đức Hưng. Nơi này đủ gần hết tác phẩm tiền chiến, giấy dó Hàn Thuyên, mướn đem về đọc để làm tài liệu viết. Một người bạn nữa anh Lung cũng ở Xóm Chùa ngập nước, có một tủ sách khá lớn. Anh cho mượn và tôi sử dụng một cách sở hữu chủ. Anh từ miền Bắc vào Nam lâu, có viết báo tài tử, một người thật chân tình. Phải chăng chân tình này làm tôi cảm động, khi nghe kể đoạn đời anh tham gia kháng chiến ở Nam Bộ bị Pháp cầm tù. Đời tù đầy thêm kinh nghiệm sống, đời quất ngọn roi phũ phàng bao nhiêu, nạn nhân chịu nổi hờn đau sẽ sống lâu hơn; sau thì người ấy sẽ được liệt vào bậc tốt nhất xã hội trên mọi phương diện.Và một bạn học cũ Hà Nội : Tạ Văn Tài đạp xe đạp thăm tôi để khích lệ - trước khi anh đậu hai thủ khoa Văn chương và Luật khoa Sài Gòn rồi sang Mỹ du học.

THẾ PHONG







BỘ LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM 1900-1956

gồm 4 tập:

1). NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930 -1945

2). NHÀ VĂN KHÁNG CHIẾN 1945 -1950 gồm hai phần:

a). NHÀ VĂN KHÁNG CHIẾN CHỦ LỰC 1945-1950 viết theo lối tuyển tập thơ văn kháng chiến, viết về: Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Tố Hữu, Quang Dũng, Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Hữu Thung, Hoàng Lộc, Yên Thao, Nguyễn Đình Thi vv... Các chiến sĩ văn nghệ như: Vô Danh, Hà Minh Tuân, Lê Minh, Vũ Linh, Nguyễn Trinh Cơ, Đình Quang, An Bá Đảm, Quốc Chính, Nguyễn Xuân Hòe, An, Lưu Hương, Chính Hữu, Minh Tiệp, Phùng, Hà Khang, Kim Lân, Siêu Hải, Nguyễn Công Mỹ vv... b). Nhà văn miền Nam 1945 –1950: Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà, Vũ Anh Khanh, Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc, Hoàng Tấn, Bình Nguyên Lộc, Hoàng Tố Nguyên, Quốc Ấn, Sơn Khanh, Vũ Xuân Tự, Hợp Phố (nữ), Phi Vân, Nguyễn Bảo Hóa(78) v.v...

3). NHÀ VĂN HẬU CHIẾN 1950 - 1956.

Bùi Xuân Uyên, Tạ Tỵ, Xuân Nhã (nữ), Hoàng Chu Ngạc, Triều Đẩu, Trúc Sĩ, Phan Phong Linh, Bạch Diện, Mai-Lâm-Nguyễn-Đắc-Lộc, Nguyễn Tố, Văn Thuật, Mặc Thu, Nguyễn Ái Lữ, Kỳ Văn Nguyên, Nhị Lang, Thanh Nam, Huy Quang, Nguyễn Thiệu Giang, Thi Thi Tống Ngọc, Nguyễn Hoàng Quân, Hiệp Nhân, Thùy Linh, Thanh Bình, Vĩnh Lộc, Nguyễn Thạch Kiên, Hà Bỉnh Trung, Hoàng-Lan, Quốc Ân, Hoài Linh, (1 và 2) Kim Dung, Hiền Nhân, Đoàn Thu, Hoàng Công Khanh, Sao Mai, Nguyễn Minh Lang, Văn An, Thanh Hữu, Huy Sơn, Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh, Song Nhất Nữ, Hoàng Phụng Tỵ, Hoàng Song Liêm, Hoài Việt, Trần Nhân Cư, Huyền Giang, Băng Sơn, Vân Long, Song Hồ, Lê Đình Chân, Mặc Đỗ, Phạm Việt Tuyền (Thanh Tuyền), Lê Văn Hòe, Phạm Văn Sơn, Hoàng Như Mai, Huyền Chi, Hoài Minh, Thanh Thuyền, Hồ Đình Phương, Tạ Ký, Xuân Huyền, Thanh Thanh, Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu Mai - Vũ Bá Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân, Nguyễn Hoài Văn, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Nguyên Sa, Mai Thảo, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo,(nữ) Triều Lương Chế, Phạm-Thái –Nguyễn-Ngọc-Tân, Vũ Khắc Khoan, Chấn Phong, Hư Chu, Hồ Hán Sơn, Phan Lạc Tuyên, Đỗ Tấn, Hoàng Trúc Ly, Nguyễn Văn Cổn, Hoàng-Nguyên-Bùi-Khải-Nguyên, Cung Trầm Tưởng, Hà Liên Tử, Kiên Giang - Hà Huy Hà, Chế Vũ, Thế Viên, Diên Nghị, Huyền Viêm, Phan Minh Hồng, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Năng An, Hoàng - Thu - Đông (Hoàng Trọng Miên), Diên Hương, Thanh Nghị, Kiêm Đạt, Hồ Nam– Vương-Tân, Nghiêm Xuân Hồng.

4) TỔNG LUẬN 60 NĂM VĂN NGHỆ VIỆT NAM 1900 -1956 (NAM VIỆT NAM)

Tổng luận văn nghệ Việt Nam từ đầu thế kỷ đến 1960. Người viết bộ sách cô đọng tóm tắt bốn tập dẫn giải ở trên. Người đọc không có thời giờ hoặc cần có quan niệm tổng thể chỉ cần đọc tập này thôi. Bản Anh ngữ của Đàm Xuân Cận: A brief glimpse at the Vietnamese literary scene 1990 - 1956 (Đại Nam Van Hien Books) Phụ lục bộ sách in thêm một cuốn nữa .Hiện tình văn nghệ Nam Việt Nam 1957 -1961(79) , để độc giả theo dõi được tổng quát bình diện văn nghệ Nam Việt Nam, diễn biến qua nét chính yếu sinh hoạt văn nghệ qua các nhóm: Đại Học và Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Nam Châu, Lê Tuyên, Lê Thanh Châu, nhóm Văn Hóa Á Châu, Chủ tịch giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Lê Xuân Khoa,v.v…. Văn Hóa Vụ (Cơ quan văn nghệ chính phủ Ngô Đình Diệm với Nguyễn Mạnh Côn, Hoàng Trọng Miên, Phan Du,v.v… Nhóm Sáng Tạo, Trung tâm văn bút Việt Nam V.N. (PEN) với Nguyễn Thị Vinh, Thanh Lãng, Tường Hùng, Duy Lam, Nguyễn Hoạt; nhóm Văn Hóa Ngày Nay do Nhất Linh chủ trương với Nhật Tiến, Duy Lam, Thu Vân,v.v… và cuối cùng Khép với bức thư người viết trình bày lý do viết bộ sách. Khi viết tôi mới 24 tuổi. Tự nhận rằng nhầm lẫn sơ sót không thể không có. Chủ quan có, nhưng nhớ rằng chủ quan nào mà anh diễn dịch trong tác phẩm? Chủ quan viễn kiến hoặc chủ quan hẹp hòi, ao tù, bè nhóm? Khi sách xuất đầu lộ diện, tôi không muốn nhìn thấy cảnh này, như Vũ Ngọc Phan ra mắt Nhà văn hiện đại; thì một L.H.V. viết bài phê bình trên báo Thanh Nghị rất hay, xác đáng lại không dám ký tên thật. Nhưng điều đau đớn, sau hai chục năm, tôi đây đến sau vẫn biết rằng, người viết ký tên tắt kia chính là Lê Huy Vân. (Bạn học cùng lớp với Nguyễn Hiến Lê). Tôi cho đó đê hèn đáng yêu nhưng không nên có. Một lối phê bình câm nín yên lặng nữa, đểu cáng đáng yêu hơn: mưu mô im lìm – Pháp gọi là: le critique très impitoyable c’est taire. Như vậy không được, một tác phẩm phê bình văn học ra mắt; hay thì khen hay; dở phải chê dở! Sự khen và chê ấy quan thiết ở chỗ đúng cảm quan người viết ở mức độ đúng nhất, không ngụy trang, mưu mô. Tôi cúi đầu trước cử chỉ đó và trong đời chỉ đón nhận thái độ đó. Khi tôi dự định làm văn sĩ, tôi cần đọc nhiều tác phẩm đàn anh, bạn văn trong nước, cả đến quốc tế. Để làm gì? Xin thưa, để xem tác phẩm nào hay hoặc dở, những gì người ta đã và chưa nói tới. Học hỏi và quyền chê khen theo quan niệm đúng nhất của tôi lúc đó. Hoặc như V.Biélinsky(80) , tác giả phê bình văn triết luận nổi tiếng số một của Nga đã chẳng nói: “...Làm sao nghi ngờ hả? Các anh quay lưng không thèm nhìn hả, lại bịt tai không thèm nghe sao? Kệ xác các anh! Không quan tâm tới. Các anh đọc hay không, với tôi không cần thiết. Tại sao à, cuối cùng ai cũng có tự do. Ngoài ra, làm sao tôi phải mặc cả với anh kia chứ? Vậy thì anh bạn ơi, đừng giận nhé! Bằng lòng hay không bằng lòng, các anh vẫn phải đọc. Không đọc, vậy thì anh đọc cái gì mới được chứ? Anh bạn ơi, nếu cho phép tôi, thì tôi bắt đầu nói đây này"…. Sự thật! Sự Thật! Chẳng có gì hơn là sự thật”
Nói theo đàn anh V.Biélinsky, thì xin thưa với các Ngài, sự thật tôi nghĩ, tôi trình bày như thế đó.

Sài gòn, 20 tháng 6 năm 1956.



Ý KIẾN NHỎ VỀ NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930 - 1945

Tiếng Việt hôm nay coi như một ngôn ngữ chính thức trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đó là mảnh đất có ngót năm nghìn năm lịch sử tiền nhân bồi đắp dành lại cho con cháu đã có thành tích chống lại một nghìn năm bị thống trị Tàu, tiếp đến trăm năm lại bị đô hộ Tây. Cứ mỗi lần phong trào cách mạng đột biến là sau đó một lần bình diện văn nghệ bứt thêm được một độ tiến bộ.

Cuộc cách mạng Nguyễn Thái Học tuy không thành công, nhưng thành nhân cũng góp phần tạo thành một Tự Lực văn đoàn thức tỉnh sau cơn mê lãng mạn thuần triết của Từ-Trẫm-Á, Tuyết Hồng Lệ Sử; Song-An Hoàng-Ngọc-Phách Tố Tâm sau đến Đôi Bạn Nhất Linh, một Khái Hưng Tiêu Sơn Tráng Sĩ, Hạnh, Đẹp, một Xuân Diệu, một Thế Lữ, nhất là một Nguyên Hồng với Những Ngày Thơ Ấu... Rồi tiếp đến sự nhục nhã càng dồn nén của thống trị Pháp chà đạp nhân bản; để rồi có một Vũ Trọng Phụng với Giống Tố, Số Đỏ chống đối mãnh liệt, chứng tỏ sự muốn vươn lên của nhược tiểu dân tộc và một Lan Khai mượn quá vãng để lên án hiện tại trong Lầm Than.

Năm 1940, một đợt cải biến nữa, Nhật bắt đầu sang thay thế cho Pháp tạo thành một Hàn Thuyên với Nguyễn Tuân Vang Bóng Một Thời, Chùa Đàn; một Nguyễn Đình Lạp với Ngoại Ô, Ngõ Hẻm; một Nguyễn Đức Quỳnh với Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình, một Trương-Tửu (Nguyễn Bách Khoa) với Kiếp Đọa Đày; hoặc các nhà văn độc lập điển hình cho mọi xu hướng khác nhau, như Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Thụy-An-Hoàng-Dân, Ngọc Giao, Hồ Hữu Tường, Lê Văn Trương, và những nhà phê bình uyên bác như Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Hoài Chân, Trương Chính vv...

Một Nhà văn hiện đại Vũ Ngọc Phan, một Thi Nhân Việt Nam Hoài Thanh là đánh giá, phân tích sắp xếp diễn tiến lịch sử văn nghệ trong giai đoạn cực thịnh từ đầu thế kỷ hai mươi đến năm Nhật đặt chân lên đất nước Việt Nam. Tuy nhiên, hai bộ sách trên không phải không thiếu sót. Có dư luận cho rằng Vũ Ngọc Phan đã không biết phê bình, nghĩa là lột trần tư tưởng thầm kín của sự vươn lên trong tác phẩm chống đối guồng máy chính quyền hồi ấy. Như Giông Tố, Số Đỏ, Đôi Bạn, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giăng Thề, Lầm Than (1) hoặc Nhớ Rừng của Thế Lữ. Xét lại thì giữa một khung cảnh chính trị nô lệ, dưới quyền đàn áp bằng lưỡi lê, nhà tù của Pháp; đặt các cơ cấu bóp chẹt sự thật, thì sự thật đành câm nín trong sự thật muốn diễn đạt, phê bình.

Thế nên, một Đôi Bạn, Thằng Kình, Ngoại Ô, Vang Bóng Một Thời, Vũ Ngọc Phan đành câm lặng ngoảnh mặt đi, không dám nhắc nhở một Dũng đã sang Tàu, sang Nga một Kình nhược tiểu quốc muốn giải phóng dân tộc qua ý chí nung nấu cơ giới hóa, qua hình ảnh tượng trưng của một lớp học Nhì A. Và bao nhiêu nữa; cho đến hôm nay lịch sử cách mạng hoàn thành nền độc lập; trên đà tiến triển trên đường xây dựng chế độ mới. Còn là chúng tôi có điều kiện nhắc lại sự việc mà các bậc đàn anh đã miễn cưỡng bỏ qua.


SƠ LƯỢC KHÁI QUÁT LỊCH TRÌNH
DIỄN TIẾN VĂN NGHỆ TỪ 1865-1950


T rước khi phân tích lịch trình diễn tiến trình diện văn nghệ Việt Nam, chúng ta nhìn lại khởi điểm của lịch sử văn nghệ, từ ngày có chữ quốc ngữ. Chúng tôi xếp loại theo tài liệu của đa số nhà văn hóa, học giả và theo quan niệm riêng của chúng tôi. Có thể chia ra làm 04 giai đoạn:

. Giai đoạn I : Giai đoạn khởi thủy : 1865-1913.

. Giai đoạn II : Giai đoạn nền móng : 1913-1930.

. Giai đoạn III : Giai đoạn cực thịnh : 1930-1945

. Giai đoạn IV : Giai đoạn phân hóa : 1945-1954.


I. – GIAI ĐOẠN KHỞI THỦY:

Từ năm 1865 đến 1913, các nhà văn, học giả như Trương Vĩnh Ký, Paulus Của, Phan Bội Châu cùng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàng Cao Khải với Tuồng, Chèo cổ, Hát đúm, Quan họ, Cò lả, Trống quân, Truyện Tàu, Bài ca Á tế Á, Cô đầu. Tất nhiên phải kể đến một ông Tổ có công sáng tác quốc ngữ là linh mục Alexandre de Rhodes (A Lịch Sơn Đắc Lộ).

II. – GIAI ĐOẠN NỀN MÓNG:

Từ năm 1913 đến 1930 hai nhóm Đông Dương Tạp Chí của Nguyễn Văn Vĩnh (1892-1930), Nam Phong Tạp chí của Phạm Quỳnh với các nhà văn Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học (1857-1921), Hải Triều, Phan Khôi, Dương Bá Trạc, Á-Nam-Trần-Tuấn-Khải, Nhượng Tống, Vũ Đình Long, Trần Huy Liệu, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939), Hồ Biểu Chánh, Phạm Tất Đắc, Nguyễn Quang Oánh, Đào Duy Anh, Phan Kế Bính (1875-1921). Hoàng Thúc Trâm, Nguyễn Văn Tố, Phong trào cải lương Nam kỳ, Song-An-Hoàng-Ngọc-Phách. Những nhà văn này góp rất nhiều công lao tu bổ nền móng giai đoạn xây dựng chữ Quốc ngữ.

III. – GIAI ĐOẠN CỰC THỊNH:

Nhóm Tự Lực văn đoàn hình thành, sau Việt Nam Quốc Dân Đảng thất bại năm 1930. Gồm những nhà văn chịu ảnh hưởng Tây học sâu xa như: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Thế Lữ, Mạnh Phú Tư, Anh Thơ (nữ), Bùi Hiển, Đỗ Tốn, Đỗ Đức Thu... Về tiểu thuyết tâm tình, các tác giả lồng khung cảnh cách mạng tiểu thuyết có lối viết kỹ thuật Tây Phương lôi cuốn được nhiều độc giả Tân học, nhất là thanh niên thiếu nữ mới. Ngoài ra, Xuân Diệu, Thế Lữ khai thác lối thơ mới chịu ảnh hưởng Verlaine, Rimbaud, Lamartine... tạo cho thi ca Việt Nam một sắc thái mới là Thơ Mới. Còn Tú Mỡ với lối đi riêng thơ trào phúng. Về tả chân tiểu thuyết, chúng ta thấy có Nguyên Hồng và Thạch Lam...

Các nhà văn độc lập khác như Lê Văn Trương với lối tiểu thuyết trường giang như Balzac, tuy không thành công cả nội dung và hình thức hoặc Nguyễn Công Hoan tả chân phong kiến; Lan Khai mở rộng tầm mắt cho độc giả hiểu biết về tâm tình, phong tục tập quán người Việt miền núi; Phan Trần Chúc điển hình cho tiểu thuyết dã sử. Cách diễn tả tâm lý sâu sắc, bố cục gọn gàng, hành văn sáng sủa, hấp dẫn. Bên cạnh Lan Khai còn có Tchya, nhà văn, thơ viết loại truyện truyền kỳ, tuy không giá trị bằng Lan Khai, Phan Trần Chúc; nhưng là món ăn tinh thần giá trị giải trí lành mạnh.

Nhóm Hàn Thuyên vào giai đoạn cuối cực thịnh tiền chiến. Nhà văn hoài dĩ vãng Nguyễn Tuân; xã hội Nguyễn Đình Lạp, Trương-Tửu-Nguyễn-Bách-Khoa; hoạt kê Đồ Phồn, tiểu thuyết phóng sự trường thi Chu Thiên, giáo dục tranh đấu Nguyễn Đức Quỳnh, với lối nhìn phân-tâm-học. Đối tượng của nhóm này tạo cho con người hiểu biết quốc tế qua lý luận triết học đệ tứ.

Công lao đóng góp cho văn học thời bấy giờ, về khảo luận văn học đáng kể như Đặng Thái Mai với Văn Học Khái Luận, Trương-Tửu-Nguyễn-Bách-Khoa với những cuốn khảo về Truyện Kiều và Nguyễn Du, Kinh Thi Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi Việt Nam Văn Học Cổ Sử, Lương Đức Thiệp xã hội, Nguyễn Tế Mỹ, Nguyễn Hải Âu kinh tế, hoặc Hồ Hữu Tường với lối viết tiểu thuyết phóng thích chính trị và sau cùng là bác sĩ Nguyễn Trần Huân. Riêng Nguyễn Trần Huân về sau này đóng góp cho văn học qua dịch phẩm giới thiệu văn chương cổ V.N. như Truyền kỳ mạn lục hoặc tác phẩm viết chung với M.Maurice Durand qua cuốn Introduction à la littérature Viêtnamienne (Văn học Việt Nam)do Unesco tài trợ và xuất bản ở Paris vào 1969.
Ảnh hưởng của nhóm này tạo cho nhóm cộng sản đệ tam sau này không nhỏ.
Sau 1945, nhóm Hàn Thuyên chia ra làm hai phe, một ở lại với đệ tam như: Đặng Thai Mai, Đỗ Phồn, Trương Tửu (Nguyễn Bách Khoa), một số chết trong cao trào cách mạng 1945-46, như: Nguyễn Hải Âu, Nguyễn Tế Mỹ, Lương Đức Thiệp v.v... Sau cùng một số vào Nam như: Nguyễn Đức Quỳnh, Lê Văn Siêu, Hồ Hữu Tường và Nguyễn Trần Huân sống ở Paris từ trước thế chiến hai.

Vũ Trọng Phụng là nhà văn xã hội hoạt kê điển hình bậc nhất trong văn học phóng sự. Ông là đại diện cho cả một khuynh hướng như: Tam Lang, Vũ Bằng, Trọng Lang. Vũ Trọng Phụng ghi lại một thực trạng xã hội bị thống trị, sự đảo lộn trật tự gia đình, tất cả những gì ảnh hưởng Tây Phương đôi khi trở thành lố bịch với chúng ta. Dưới mắt ông, tất cả đáng châm biến, chỉ trích, căm thù (Giông Tố, Số Đỏ).

Về trào lộng xã hội sau tiền chiến, Hồ Hữu Tường viết tiểu thuyết thật độc đáo: Ngàn năm một thuở, Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc náo Hoa Kỳ, Phi Lạc bỡn Nga vv...

IV. – GIAI ĐOẠN PHÂN HÓA:

- Cách mạng kháng chiến bùng nổ, Việt-Nam độc lập, giai đoạn này tất cả hàng ngũ nhất tề đồng tâm chống lại xâm lăng, không phân biệt đoàn thể nào. (Giai đoạn Pháp tái chiếm V.N. 19-12-1946). Tuy nhiên, do tình hình chính trị hiệp định Genève ra đời vào 1954, một số nhà văn thơ vùng kháng chiến trở về Hà Nội và một số rời Hà Nội vào Sài Gòn (Quốc Gia).




CÒN TIẾP ...





© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ VÀ NEWWVIETART .




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC