Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
trường phái Dã Thú


NỀN HỘI HỌA

CẬN ÐẠI & HIỆN ÐẠI (2)








Trường phái Dã thú
(Fauvism)
Xuất xứ: Vào đầu thế kỷ XX, Paris trở thành trung tâm điểm của những phòng tranh. Những phòng triển lãm nổi tiếng phải kể đến: Phòng triển lãm của Hàn lâm viện, phòng triển lãm mùa thu, phòng triển lãm Luxembourg và sau cùng là phòng triển lãm của những người độc lập. Trong phòng triển lãm mùa thu năm 1905, người ta tổ chức tập trung lại những tranh có màu sắc và nét bút mãnh liệt vào căn phòng số VII, để người xem dễ nhận xét. Nhà bình luận mỹ thuật Louis Vauxcelles khi vào phòng nầy thấy pho tượng của nhà điêu khắc cổ điển Albert Marque để giữa phòng, còn chung quanh treo toàn những bức tranh thuộc loại "táo bạo" của lớp họa sĩ trẻ như Vlaminck, Matisse, Derain... buộc miệng Vauxcelles thốt lên: “Đây là Donatello cùng các dã thú..."
Chúng ta cũng biết Donatello là nhà điêu khắc cổ điển lớn thời đại Phục Hưng. Nhà bình luận cố ý so sánh những tranh táo bạo với những tiếng "gào thét" của dã thú. Lời châm biếm của Vauxcelles vô tình đã đặt tên cho lối vẽ táo bạo không theo nề nếp của nhà trường. Cái tên khá ngộ nghĩnh nầy được báo chí nêu lên, và nhanh chóng được mọi người công nhận.
Nội dung: Theo định nghĩa thông thường thì trường phái Dã thú (Fauvism) là phong cách hội họa dựa trên cách dùng màu sắc chói lọi mãnh liệt không tự nhiên, diễn biến đầu tiên trong số những diễn biến quan trọng có tính chất tiền phong trong nền nghệ thuật Tây Phương từ đầu thế kỷ XX đến Thế chiến lần thứ nhất. Gương mặt nổi bật của nhóm Dã thú là Henri Matisse. Ông đã từng dùng màu sắc tương phản kể từ năm 1899, nhưng lần đầu tiên được nhận ra tiềm năng của màu sắc, nếu được giải phóng ra khỏi vai trò trang trí cổ truyền là khi ông vẽ với Signac trong ánh sáng chói lọi ở Saint Tropez vào muà hè 1904.
Phong trào hội họa Dã thú lên tới cao điểm trong cuộc Triển lãm Mùa thu 1905 và cuộc Triển lãm của Những Hoạ sĩ Ðộc lập năm 1906. Ðối với phần lớn nhóm, Dã thú là một giai đoạn tạm thời, qua đó họ sẽ phát huy những phong cách rất khác nhau, và sau đó, không có lúc nào tác phẩm của họ cho thấy sự giống nhau như vậy nữa. Tuy nhiên, phong cách Dã thú, dù chỉ tồn tại một thời gian ngắn, nhưng đã gây ảnh hưởng quan trọng đối với trường phái Biểu hiện ở Ðức quốc.
Ðặc tính: Sự thật những họa sĩ Dã thú không có ý lập ra trường phái nào cả. Họ cũng chẳng có nguyên tắc, quy phạm. Phong cách, trình độ chẳng giống nhau. Điểm tương đồng giữa những hoạ sĩ trẻ nầy là sự bồng bột, hăng say, bướng bĩnh và bất mãn với xã hội đang sống. Phái Dã thú (Fauvism) là tính chất táo bạo với dụng ý đập mạnh vào tâm trí người xem, do sự mãnh liệt của sắc thái và sự tự tiện tô màu. Họ bất chấp tất cả nguyên tắc về màu sắc, ánh sáng, không khí của thiên nhiên. Để làm cho người xem ngạc nhiên, họ có thể vẽ bầu trời màu lục, lá cây màu đỏ, thân cây màu tím, dường đi màu hồng. Nét bút của họ cũng không theo nguyên tắc nào cả, và còn làm ngược lại những thể lệ đặt ra từ trước. Nhưng dù màu sắc không theo thiên nhiên, nhưng họ thường để màu bổ túc cạnh màu căn bản, để tăng cường độ tươi đẹp.
Canh tân: Như vậy, tất cả những gì gò bó, cổ điển, Hàn lâm, mang tính chất ước lệ, cho đến cả ánh sáng và chủ nghĩa Tự nhiên của hội họa Ấn tượng... cũng đều bị những người chủ trương trường phái Dã Thú chối bỏ. Phải canh tân toàn diện. Ða phần họ dùng những màu nguyên, có sức biểu tả cao, những màu rực rỡ, chói lọi, đầy sức kích thích mạnh mẽ và tràn trề của hình thể, để gia tăng sức biểu hiện cảm xúc của mình. Một khuôn mặt xanh lẹt, một đám người quay cuồng nhảy múa rực lên một màu đỏ dữ dằn, Tất cả như gây ra một cơn “sốc” cho người thưởng ngoạn. Ðiều nầy được Paul Gaugin giải thích: “Với tôi, cần phải tiến đến một phong cách nghệ thuật kết hợp giữa trực cảm và chối bỏ hoàn toàn sự trung thành với thiên nhiên. Do đó, phải dùng đến những màu sắc thuộc loại Phi Biểu Tả”.
Thành thử, những hoạ sĩ của chủ nghĩa Dã thú rất có ý thức sâu sắc trong cách chọn lựa những màu sắc phi biểu tả, với mục đích tăng cường đến tối đa sự biểu tả của mình.
Họ gọi đó là “Cơn sốt của màu sắc” mới có thể lột trần hết được nguồn cảm xúc của mình.
Trong địa hạt nầy, ta thấy rõ các bậc thầy của chủ nghĩa Dã thú đã chịu ảnh hưởng của nghệ thuật phương Ðông, không những cả nghệ thuật “bốc lửa” của người da đen, mà còn cả chất trang trí theo phong cách Ả Rập. Theo họ, nếu không có thể tạo được “cơn sốc về màu sắc” lên trên họa phẩm của mình, thì sẽ làm tan biến ngay chất hội hoạ. Nhưng dù sao, chủ đích của những hoạ sĩ Dã thú vẫn là muốn tạo ra cuộc thể nghiệm hoá thân vào cảm xúc, để thực hiện những ước mơ hoà hợp được thiên nhiên và con người.
Henri Matisse, người đại diện xuất sắc của họa phái nầy đã phát biểu: “Ðiều mà tôi mong ước thường xuyên là dùng loại nghệ thuật thăng bằng, trong sáng, yên tĩnh. Tôi không có những lo âu, thao thức trong chủ đề của mình. Tất cả thể tào nào, đối với người nghệ sĩ chân chính là trở thành một liều thuốc an thần, êm dịu. Phải làm sao cho tâm trí được bình an, thoải mái”.
Henri Matisse (1869-1954): Ông sinh trưởng tại Paris bắt đầu sự nghiệp trong ngành luật pháp, đồng thời theo học những lớp vẽ như là một thứ nghiệp dư. Ông tỏ ra có tài năng đặc biệt trong ngành nầy. Matisse thể một lối vẽ phóng túng, vui tươi, màu sắc tự do, thường gây xúc động cho người xem.
Ông ta bắt đầu bằng vẽ chân dung vợ mình, đã gây tiếng vang lớn, có tên tranh là "Sọc xanh" (Green Stripe), vì trong tranh, ông đã vẽ bóng mờ màu xanh lên hình khuôn mặt vợ mình một cách táo bạo. Toàn bộ đề tài trong tranh vẽ, tranh in, tranh minh họa, tranh nghệ thuật và điêu khắc của Matisse đều là hình ảnh con người. Con người là nhân vật trung tâm trong tác phẩm của Matisse.
Về sau, Matisse còn sử dụng họa văn Bắc Phi vào tranh của ông. Ông còn cắt và dán giấy để tạo nên những tranh màu với hình khối ước lệ. Trong suốt 50 năm trời, Matisse làm việc không mệt mỏi, không mấy khi nghỉ ngơi, ngay cả khi ngồi trên xe lăn khi về già, ông vẫn còn làm việc. Matisse có nhiều tác phẩm nổi tiếng: "Chân dung vợ họa sĩ" (1913), "Tĩnh vật hoa quả" (tranh sơn dầu) (1941), "Vũ nhạc" (1933), "Xưởng đỏ" (1937). Về nghệ thuật Dã thú, Matisse thường nói: "Tôi muốn một nghệ thuật không làm cho người xem áy náy, lo sợ, mê loạn. Tôi muốn khi người ta mệt nhọc vì làm việc quá sức, thì tranh của tôi sẽ đem lại cho người xem sự vui thú và đỡ mệt".
Theo ông, nguyên tắc cơ bản của một họa sĩ theo trường phái Dã thú là: Sử dụng những đường nét trong bức tranh thiên về lý trí; còn về màu sắc thì phải phụ thuộc theo cảm giác và tình cảm của mình. Cả hai phải hoà hợp. Ðiều quan trọng bậc nhất của một họa sĩ trường phái Dã thú là nghệ thuật phải bộc lộ toàn vẹn cá tính của mình, phải biểu hiện cho thật đầy đủ cảm xúc chủ quan. Tất cả những điều còn lại chỉ là phụ thuộc. Trên nguyên tắc nầy, màu sắc không dùng để mô tả cảnh vật “đúng như nó vốn có”, mà là để phản chiếu “tâm tình sôi nổi” của người nghệ sĩ.. Có thế, mới trở về trạng thái nguyên sơ của “Dã thú”, đúng như danh xưng đó.
Với chủ trương nầy, họ đã không ngần ngại gia tăng sức mạnh của màu sắc, gây cho màu sắc trở thành tiếng vang vọng, dội đập, chẳng khác gì tác dụng của âm nhạc vậy. Ðó là mức độ cao nhất của nghệ thuật Dã thú vậy.
Vlaminck (1876-1958) là họa sĩ được xem là "dã thú nhất" trong nhóm Dã thú. Ông ta xuất thân trong giai cấp bình dân. Để mưu sinh và hội họa, ông ta đánh đàn trong những quán cà phê và đua xe đạp. Ông vẽ tranh cốt là để phá phách và tiêu khiển. Nhưng chuyện lạ là những bức tranh thuộc loại phá phách nầy lại được nhiều người thích và bán được. Thế là ông ta bỏ nghề đánh đàn và đua xe, chuyên vẽ tranh và trở nên giàu, tậu nhà đất ở vùng Ruel La Gadelière sống với vợ con.
Nghệ thuật của Vlaminck là sự sáng tác theo bản năng của một con người có tính chất quyết liệt, táo bạo, phá phách. Làm ăn ra, Vlaminck cũng làm tranh khắc gỗ, vẽ trang trí bìa sách và kiếm tiền khá. Nhóm Dã thú tập hợp lại từ năm 1903 và tan rã vào năm 1907, đánh dấu sự bùng nộ cuộc đấu tranh của những họa sĩ để giải phóng hội họa khỏi mọi sự ràng buộc của một nhà mỹ thuật có quyền thế. Trường phái "Dã thú" là sự nổi dậy đầu tiên của giới nghệ thuật thế kỷ XX; nó tạo cái đà cho sự ra đời của những trường phái mỹ thuật tân kỳ hơn của thời hiện đại.
André Derain (1880-1954). Ông cũng là nghệ sĩ người Pháp, kiệt sắc của trường phái Dã thú, có biệt tài trên nhiều ngành: hội họa, điêu khắc, trang trí và đồ họa. Trong hai muơi năm đầu của thế kỷ XX, vị trí của ông là gần trung tâm phong trào Tiền phong tại thủ đô Paris. Một thời, những tác phẩm của ông đã không ngừng dưạ theo các danh sư hội hoạ Cổ điển, cho nên trở nên khô khan và sặc màu kinh viện.
Nhưng sau đó, đã có những chuyển hoá sâu sắc. Chính ông là một trong những nhà sáng lập trường phái Dã thú, và đồng thời, trong chuyển biến, cũng đã là thành viên đầu tiên của trường phái Lập thể. Qua hai phương hướng nầy, ông là một trong những người đầu tiên đã khám phá ra thể loại “Nghệ thuật Nguyên thủy” (Primitive art).
Mặc dầu ông là một nhân vật có tầm quan trọng trong lịch sử hội họa tiền bán thế kỷ XX về mặt lý luận và tổ chức, tuy nhiên, tác phẩm của ông thì lại không theo kịp được phẩm chất tác phẩm của những hoạ sĩ lớn cỡ như Matisse và Picasso. Ông cũng biên soạn nhiều tài liệu quý của các trường phái kể trên. Ngoài ra, ông cũng chuyên về nghệ thuật trang trí sân khấu.
Trường phái Dã thú suy thoái và mất dạng vào 1910.

Trường phái Siêu thực
(Surrealism)
Ðịnh nghĩa: Theo Bách khoa Tự điển Triết học thì: Trường phái Siêu thực (Surrealism) là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa Tượng trưng và Phân tâm học, đặt phi lý tính lên trên lý tính. Danh từ “Siêu thực” (surréalisme) mượn theo một câu thơ của Apollinaire, để nói về sự đảo lộn hệ thống các giá trị văn hoá nghệ thuật vào Tiền bán thế kỷ XX.
Phong trào nầy được quan niêm như phương thức tư tưởng và hành động có tính cách mạng - một lối sống hơn là một hệ thống quan điểm về phong cách – và ở điểm nầy, có nhiều điểm gần với trường phát Ða-đa, mà từ đó sinh ra. Những nghệ sĩ của phong trào nầy thường hay tìm đến những đam mê về “cái kỳ dị”, “cái phi lý” và mang (theo André Breton).
Tuy nhiên, mặc dù cả hai phong trào (Siêu thực và Ða-đa) đều chống lại chủ nghĩ duy lý, nhu4ng phong trào Siêu thực lại chủ trương tích cực hơn là hư vô chủ nghĩa.
Chống lại chủ nghĩa Tự nhiên trong văn học nghệ thuật, chủ nghĩa Siêu thực khám phá và thể hiện cái thực tế vô hình chứa ẩn bên dưới cái hữu hình, khám phá thế giới của tiềm thức. Do đó, những nhà văn Siêu thực đã triển khai tư tưởng Phân tâm học của Freud, trên mọi bình diện sáng tác của mình.
Theo chủ trương, khuynh hướng nầy nhằm giải phóng con người khỏi mọi xiềng xích xã hội, thể hiện nội tâm và tư duy tự nhiên, không bị gò bó bởi lý trí, lô-gic, luân lý, mỹ học, kinh tế, tôn giáo. Những sáng tác phẩm của những nghệ sĩ Siêu thực ghi chép tất cả những trạng thái tâm lý luôn luôn chuyển biến trong tiềm thức, không phân biệt thực hay mộng, tỉnh hay điên, đúng hay sai.
Phong trào Siêu thực trong văn học được quan niệm như một phương thức tư tưởng và thể hiện có tính cách mạng, thay đổi toàn diện về cách sống và cách nghĩ. Trong quan điểm nầy, phong cách của khuynh hướng Siêu thực có phần giống với trường phái Ða-đa. Tuy nhiên, mặc dù cả hai phòng trào nghệ thuật nầy đều chủ trương chống lại chủ nghĩa duy lý, tuy nhiên, phong trào Siêu thực lại có tinh thần tích cực hơn là tính chất hư vô chủ nghĩa thường thấy của trường phát Ða-đa.
Lý thuyết gia chính của phong trào (hay chủ nghĩa) Siêu thực là André Breton. Ông viết: “Mục đích chính của phong trào Siêu thực trong văn học là giải quyết dứt khoát tình trạng mâu thuẫn sẵn có giữa mộng và thực, để đưa nó đến một thực tế tuyệt đối, thực tế Siêu thực” (trích: Cương lĩnh Siêu thực)
Hai chủ điểm: Chủ nghĩa Siêu thực không phải là một khuynh hướng vô chính phủ hay chống lại mọi thứ giá trị đã được định hình từ trước. Mục tiêu là: Tìm mối quan hệ mới giữa con người và hiện thực. Từ quan niệm nầy, chủ nghĩa Siêu thực có 2 chủ điểm: Chủ điểm đầu tiên và chính yếu là quan tâm đến những hiện tượng khác thường trong cuộc sống. Về lãnh vực nầy, họ xích gần lại với chủ nghĩa Ða-đa và trường phái Lập thể. Về điểm nầy, họ dùng 2 phương thức: Hình thái tự phát (automatique) và nghệ thuật cắt dán trong hội họa (collage). Chủ điểm thứ nhì là: Quan tâm đến thế giới của tiềm thức. Phải khai thác những giá trị tiềm ẩn trong hành động và tâm lý của nhân vật, hơn là chỉ nhìn vào mặt hời hợt bên ngoài. Về điểm nầy, chúng ta thường thấy những nhà văn thuộc trường phái Siêu thực thường hay viết lại những chuyện thần thoại, những truyền thuyết vốn đã có, nhưng với cách nhìn về chiều sâu thẳm, giá trị tiềm ẩn của sự việc hay của tâm hồn, mà từ trước đã bị bỏ quên. Về điểm nầy, những nhà văn Siêu thực được đánh giá là những người “đổi mới kho tàng văn học nghệ thuật của quá khứ”.
Chiều hướng lịch sử: Về mặt lịch sử: trường phái nầy tiếp tục sau trào lưu Đa-đa, khởi đầu vào năm 1919 và kết thúc vào năm 1944. Khi trường phái Đa-đa cáo chung, ngoại trừ Tristan Tzara, đa số những nghệ sĩ tiếng tăm trong nhóm, như André Breton, Philippe Soupault, Paul Eluard, Louis Aragon đã họp lại, bàn định việc tiếp nối một số luận điểm của trường phái Đa-đa, đồng thời nêu những "phản lý", để phủ nhận tư tưởng nghệ thuật của xã hội tư sản, hiểu theo họ. Họ quay sang nghiên cứu khai thác phần tiềm thức con người, những hình ảnh hão huyền, không bị lý trí kiềm chế để sáng tạo những tác phẩm mỹ thuật.
Trong "Bản Tuyên Ngôn" của trường phái Siêu thực, André Breton viết: "Siêu thực là sự tự động của tâm linh một cách đầy đủ để tỏ ra bằng lời nói, chữ viết, màu sắc, hay bằng những phương tiện nào khác, sự vận chuyển thực sự của tư tưởng hoàn toàn không bị kiểm soát của lý trí và ra ngoài tất cả ý nghĩ về thẩm mỹ và luân lý..." Chính vì chủ trương nầy, cho nên những nghệ sĩ trường phái nầy coi trọng ảo mộng, thích những cái huyền bí. André Breton, trong Tuyên Ngôn nói trên, phát biểu thêm: "Chúng ta phải dứt khoát nhận thức: Cái huyền bí là cái đẹp". Từ chủ trương nầy, những nhà phê bình cho rằng: Chủ nghĩa Siêu thực làphi hiện thực, xây lưng lại với đời sống thực tế của con người.
Khuynh hướng Siêu thực với quan điểm đổi mới xã hội, đã nhanh chóng bành trước sâu rộng: Tại Ðức với các họa sĩ Richard Oelze và hans Bellmer chủ xướng; tại Anh với Roland Penrose phát huy; tại Tây Ban Nha với hoạ sĩ Miro, Dali; tại Italia vớm nhóm “Hội họa Siêu hình” của Giorgio De Chirio; tại Hoa Kỳ với André Breton khi di cư sang đó.
Xã hội học: Những nhà văn Siêu thực cũng nhìn xã hội qua một lăng kính khác: Phải gạt bỏ những đường lối chính trị mang tính khoa trương. André Breton là nhân vật chủ xướng về hành động chính trị nầy. Sau cách mạng tháng Mười Nga, ông ta gia nhập đảng Cộng Sản, xem đó là điển hình của thay đổi lớn. Nhưng chẳng bao lâu, với cách thống trị của chuyên chính vô sản, ông thấy rõ bản chất của chế độ Sô Viết, nên ly khai khỏi đảng nầy. Những người theo đường hướng của ông cũng ly khai theo, và chống đối dữ dội.
Chủ nghĩa Siêu thực chủ trương tiến hành một cuộc “cách mạng mới”, cho nên đã thu hút đông đảo những nhà văn học, nghệ thuật tham gia, mong tìm một đường lối tư tưởng để giải phóng con người ra khỏi nền chính trị của chủ nghĩa Tư bản và chủ nghĩa Công sản.
Từ sau Ðệ nhị thế chiến, qua những đảo lộn thứ tự chính trị quốc tế, đến những cuộc bạo động xẩy ra liên tiếp vùng Trung Ðông, những vụ khủng bố do các tổ chức Hồi Giáo quá khích, cuồng tín, chủ nghĩa Siêu thực càng thấy con đường mình đi là chính xác. Cho đến nay, ý thức về một cuộc đổi mới của họ vẫn không hề thay đổi.
Phân loại: Những hoạ sĩ Siêu thực được phân chia ra làm 3 loại: Loại thứ nhất dùng nhân vật có thực, vẽ rất kỹ, nhưng kết hợp lại bằng một cách hết sức kỳ dị, những kiểu kết hợp không nghĩa lý gì hết. Loại thứ hai tạo ra những hình kỳ quái như trong cơn ác mộng, rồi vẽánh sáng, bóng tối rất rõ ràng như vật có thực. Loại thứ ba vẽ bằng những đường nét dấu hiệu như hình bùa của phù thủy, không hiểu được gì hết; loại nầy không có ánh sáng, bóng tối; màu sắc thì tùy tiện. Loại thứ nhất được gọi là "hiện thực ma thuật", với những tài năng như Chirico người Ý, Salvador người Tây Ban Nha... Loại thứ hai gọi là "huyền bí vũ trụ", tiêu biểu là Ives Tanguy, Jean Lurcat người Pháp. Loại thứ ba gọi là "Siêu thực của dấu hiệu ma thuật", tiêu biểu là Miro người Tây Ban Nha, Paul Lkee người Đức... Với 3 loại trên, André Breton, người đứng đầu của trường phái Siêu thực đã viết: "Chủ nghĩa Siêu thực là sự tự giác tâm lýphong phú mà nó định thể hiện, dùng bằng lời hay bằng chữ viết, nét vẽ, trong quá trình suy nghĩ thực tế. Sự hướng đạo của ý nghĩa luôn tự do, không bị sự kiểm soát nào và hoàn toàn độc lập, thoát khỏi bất cứ mối quan tâm nào về đạo đức, mỹ học". Trong khi nhìn lại quá trình phát triển của trường phái Siêu thực, trên tạp chí La Revolution Surréalist, André Breton nhận định: Từ khi bắt đầu cho đến nay (1936), trường pháp Siêu thực có thể phân 2 giai đoạn: Giai đoạn trực cảm phong phú và giai đoạn duy lý. Giai đoạn 1 được khái quát bởi niềm tin được bộc lộ trong suốt thời gian tư duy phát huy quyền năng, biểu lộ khả năng tự cảm nhận. Giai đoạn 2 thì nhấn mạnh đến tư duy là quyền lực tối cao đối với mọi vật thể.
Nội dung: Trong phạm vi mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa Siêu thực, bao gồm những vấn đề của chủ thuyết và kỹ thuật khác nhau, nhằm vào mục đích phá vỡ sự thống trị của lý trí và sự kiểm soát của ý thức con người. Theo André Breton, nội dung chính của chủ nghĩa Siêu thực bao gồm những hoạt động sâu sắc của tâm linh thuần túy. Nhờ đó, có thể thể hiện sự vận hành của tư tưởng, bằng lời nói hay bằng chữ viết. Dĩ nhiên là những tư tưởng nầy không lệ thuộc bất cứ sự kiểm soát hay điều khiển nào về mặt luân lý cũng như về mặt mỹ thuật học.
Thành thử, chủ nghĩa Siêu thực căn cứ vào sự tin tưởng nơi thực tại của những hình thức liên tưởng, sức mạnh toàn năng của giấc mộng và cơ chế tư tưởng vô tư. (André Breton).

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 02.8.2014.