Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


“Ngàn Năm Sau

Ta Nhớ Bóng Quay Về”





Báo Nhân Dân cuối tuần (số ra ngày 1-3-2009) giới thiệu bản dịch của Tiến sĩ sử học Mai Hồng về Một áng văn đặc sắc của Lý Công Uẩn mới được phát hiện, làm xúc động lòng người.

     Đó là bản văn “Lý triều Thái Tổ Hoàng đế ngự chế Bùi gia Thái Tổ sự trạng bi văn” (Bài ngự chế bia ký về công tích vị Thái tổ họ Bùi của Hoàng đế Thái Tổ triều lý) do cụ Nguyễn Tiến Đoàn, một nhà Hán học, nguyên cán bộ Quân đội hưu trí, hiện ở xã Vũ Trung- Kiến Xương- Thái Bình dày công tìm tòi hàng chục năm, trong những cuốn gia phả họ Bùi, phát hiện.
    Bản văn ghi rõ: “Ngày 12 tháng 8 nhuận, năm Thuận Thiên thứ chín (1018) Ngự chế thái sư Khuông Việt (thần) Lý Pháp Chân vâng mệnh chép, thợ khắc đá Phạm Công Thắng vâng mệnh khắc bia”. Tuy tấm bia chưa tìm thấy, nhưng với tính cẩn trọng khoa học, nghiên cứu từ văn bản, cụ Nguyễn Tiến Đoàn và nhiều nhà khoa học xác định chắc chắn đây chính là bản văn bia ngự chế của vua Lý Công Uẩn.
    Tiến sĩ Mai Hồng đọc bản chữ Hán văn bia ngự chế của nhà vua anh minh Lý Thái Tổ với tình cảm trang trọng, linh thiêng, ngưỡng mộ, cẩn trọng, nghĩ suy từng chữ, để bản dịch của mình chuyển được cái hồn văn chương vương đạo, hào khí, đầy trí tuệ, đa tầng, đa giọng điệu, tràn tình cảm và tấm lòng chuộng hiền tài của Đức vua.
    Đọc bản dịch, ta như thấy Đất- Trời Thăng Long- Hà Nội linh thiêng hào hoa hôm nay bỗng vang ngân tiếng nói sang sảng, khoan thai, mở đường, chỉ lối ngàn năm, về cách ứng xử với hiền tài trong công cuộc mở nước và dựng nước của Đức vua Lý Công Uẩn.
Bài văn bia của Đức vua không chỉ ngợi ca công tích vị quan Đặc tiến khai quốc Thiên sách thượng tướng, Minh Triết phu tử, Trinh quốc công Bùi Quang Dũng triều Đinh thủa trước, mà qua đây, Lý Công Uẩn chỉ ra một một tư tưởng, một con đường lâu bền cho các bậc đế vương.
    Mở đầu, Người viết: “Trẫm cho rằng công cuộc mở nền dựng nước dù là chủ trương của bậc nhân quân, song việc dẹp loạn binh nhung phần lớn trông cậy vào sự nỗ lực của các tướng soái tài ba. Từ xưa đến nay đều như thế. Đó là và cũng là thế vậy”.
Người định vị kẻ trung thần là ai?
    “Tuy nhiên ở vào thời thái bình thịnh trị, bổn phận làm bề tôi tốt thì dễ. Nhưng nếu ở vào cái thế cục bế tắc điên đảo, mà làm kẻ trung thần mới khó. Huống chi ở vào tình thế khó khăn mà tìm được trung thần lại càng khó. Tìm được bậc trung thần mà người đó lại biết bảo toàn sinh mạng thì lại càng khó hơn nhiều”.
    Trong buổi đầu dựng nước khó khăn, bậc trung thần đáng kính, đáng nể phục, tôn thờ ấy đã xuất hiện, phò vua Đinh Bộ Lĩnh là Lý Công Uẩn, sau này là Lý Thái Tổ.
    Bằng giọng văn cô đọng, trân trọng, hào sảng ngợi ca, Lý Công Uẩn kể chuyện cuộc đời Bùi Quang Dũng, trong cái nền thời cuộc “bế tắc, điên đảo”. Người dùng chữ “Mỗ” một cách thân thiện, để chỉ Bùi Quang Dũng trong văn bia:
    “Mỗ vốn thuộc dòng giống Tiên Rồng đất Việt, là nòi hổ tướng trời Nam, là khí thiêng của đất trời hun đúc, bẩm thụ tính tinh anh của núi sông. Văn tài, võ lược siêu quần, uy nghi xuất chúng… Ban đầu hai sứ quân Ngô Kiều từng triệu mấy lần, Mỗ đều lấy cớ là con nhà nông, chỉ biết việc đồng áng mà không tường thế sự, kiên quyết không theo. Khắp châu quận, ai cũng nể phục tiết tháo áo.
Sau về với Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp mười hai sứ quân… Oai hổ đánh đông dẹp bắc… Thiên hạ đều ngợi ca là bậc anh hùng hào kiệt… Đinh Tiên Hoàng thống nhất giang sơn một mối, bước lên chín bậc cửu trùng, lấy Mỗ từ chức Anh Dực tướng quân sung vào Điện tiền chỉ huy sứ. Thế rồi bọn giặc bể ở Kỳ Bố lại khởi loạn, Mỗ lại được xung chức Trấn Đông tiết độ sứ. Mỗi khi Mỗ tới thì giặc biển liền tan… Chiến công lẫm liệt, huân danh lẫy lừng của Mỗ hiện ra trước tai mắt mọi người, ai ai cũng thấy.
Kịp khi Lê Đại Hành cướp ngôi, Đinh Điền, Nguyễn Bặc mật đưa thư tới báo, Mỗ biến sắc, tức tốc đề binh lên đường, tới nơi thì hai người đều đã tử tiết. Mỗ liệu sức mình đơn độc khó bề chống chọi, bèn lui vào động Trinh Thạch tự thủ, ôm nỗi niềm cô trung… Tinh thần trung dũng quả cảm ấy của Mỗ thực đã biểu lộ cái tầm nhìn xa rộng của Mỗ về thế gian này…”
    Giọng văn kể chuyện bỗng chuyển sang lời tự sự chân thành của Đức vua:
    “May thay, trẫm được trời rủ lòng thương mến, lấy khoan dung để thay bạo ngược, lặng lẽ thuận tình, hành sự chí công, vỗ về trăm họ. Chiếu thư mời gọi ba lần mà Mỗ vẫn chưa chịu về triều, trẫm rất lấy làm ái mộ đức tính kiên trung ấy lại càng đáng khen cho khí tiết thanh cao của con người ấy. Bấy giờ có giặc lại nổi loạn ở của biển Kỳ Bố rất ngông cuồng tàn bạo, trẫm đã ba phen khiển tướng chinh phạt mà chưa dẹp yên được… Sai tướng Nguyễn Uy đến, giặc chẳng để tâm… Giặc liền hát câu vè: “Uy đến chẳng đáng sợ/ Dũng đến tự nhiên kinh”… Trẫm bèn sai Nguyễn Uy thảo thư đưa vào động, nói rõ sự thực còn dặn thêm Uy: Hãy tìm lời dụ Mỗ. Mãi tới lúc ấy, Mỗ mới chịu nghe lòi trẫm về triều. Trẫm vội lấy lễ khách bậc thầy để tiếp đãi với bái hiệu là Minh Triết phu tử. Nhân đó Mỗ liền tiến cử người con trai của mình là Bùi Quang Anh cho trẫm. Trẫm lấy nguyên chức ngày xưa mà phong tặng Anh Dực tướng quân, trấn Đông tiết độ xứ, phái đi trấn thủ miền đất Kỳ Bố… Mỗ cùng người con trai của mình là Bùi Quang Anh đồng hành. Vừa về đến nơi thì giặc đã tự tới đầu hàng. Thấy rõ uy đức của Mỗ đến như thế, trẫm càng tăng lòng hâm mộ”.
    Lòng hâm mộ của Lý Công Uẩn với hiền tài còn hiện ra ở thái độ Đức vua chăm sóc tận tình, lúc ốm đau, khi về chín suối. Đó là tình thương yêu con người với con người, khó tìm thấy ở những ông vua:
    “Tới nay Mỗ thọ 97 bị dốc bệnh từ tháng trước, trẫm lệnh đình thần chăm lo thuốc thang trị liệu, viết thư ân cần thăm hỏi, lại cũng không quên hỏi han về việc hậu sự. Mỗ có lời đáp rằng: “Trong câu sấm Thập Bát Tử (tức là chữ Lý) xã tắc truyền gia thì thần thích nhất chữ “Bát”, lại dặn thêm: “Ngày sau nếu triều đình hữu sự thì trẫm có thể sai khiến sử dụng đứa cháu của Mỗ”. Lời nói ấy cứ âm vang mãi bên tai trẫm; đinh ninh mãi trong tim trẫm. Trẫm nghĩ cử chỉ ấy của Mỗ chính là một tấm gương để các tôi thần của trẫm này soi chung vậy”.
    Khi nhận tờ cáo phó “Khai quốc Thiên sách thượng tướng Tinh an hầu Minh Triết phu tử Bùi tướng công triều Đinh ngày trước tạ thế” Đức vua bùi ngùi thương tiếc triều Lý mất đi một triết nhân. Vua lệnh triều đình giảm ăn uống, bớt vui chơi, lo tang lễ, ban thêm công trạng, phong mỹ tự cho Bùi Quang Dũng: “Cương nghị, bất khuất, chính trực, không a tòng. Và Đức vua Lý Công Uẩn đã khóc họ Bùi thống thiết, truyền nghìn năm một tấm lòng yêu mến hiền nhân:

Ô hô! Mỗ hiếu trung vẹn cả hai đường
Tiết nghĩa song toàn hai chữ

    Đó quả là điều hiểm thấy, hiếm nghe bậc nhất từ cổ chí kim ở thế gian này. Trẫm mong cho tính danh của Mỗ sẽ bất tử; hơn nữa nó là tấm gương cho các thế hệ bề tôi của trẫm mãi về sau soi vào. Cầu mong trời đất hãy chứng giám cho đức tính trung liệt của Mỗ, giúp cho con cháu nhà họ Bùi này đời đời luôn có anh tài xuất hiện, để giúp đỡ vua nước Nam ta, bảo vệ giữ gìn nước Nam ta.
Đó chính là điều trông đợi sâu xa của quả nhân vậy”.
    Đọc bản văn bia của Thái Tổ Lý Công Uẩn, nghe câu hát ngân nga: “Nghìn năm sau ta nhớ bóng quay về” chúng ta như thấy Lý Công Uẩn đã quay về, tấm lòng chuộng hiền tài của Người hiển hiện từng câu, từng chữ, tỏa nhân cách của bậc minh quân sáng nghìn năm.
    Bởi chỉ có một Đức vua trọng hiền tài, yêu dân, yêu nước, đến mức hiếm thấy như Lý Công Uẩn, thì một hiền nhân “Cương nghị, bất khuất, chính trực, không a tòng” như Bùi tướng công mới được yêu mến, trọng dụng và hiến dâng.

Hồ Gươm Xuân- 2009.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 02.8.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn