Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




 Nguyễn Xuân Khoát  (1910-1993)  

                                 

NGƯỜI MỞ ĐƯỜNG XÂY DỰNG NỀN ÂM NHẠC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM      

 

NGUYỄN XUÂN KHOÁT  

  

                                                                          



 
      Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát sinh ngày 11 tháng 2 năm 1910 ở  Hà Nội.  Vốn có khiếu năng âm nhạc, năm 1927 ông là một trong số mười người hiếm hoi lúc bấy giờ được tuyển vào học ở Viễn Đông âm nhạc viện do Pháp mở tại Hà Nội trong thời gian 1927-1930. Ông  chơi thành thạo violin,piano và nhất là contrebass.
    Giữa thời buổi:  Ăn cơm Tây, ở nhà Tây, nói tiếng Tây, nghe nhạc Tây – Tây là nhất rồi! Nguyễn Xuân Khoát bằng lòng kiếm sống bằng cái nghề chơi đàn ở các tiệm nhảy của Tây. (Năm xưa, tôi vác một cây đàn contrebasse kiếm ăn bằng cách chơi đàn contrebasse trong các hộp đêm.) Nhưng ông bảo  Với cái vốn âm nhạc  học từ một nhạc viện của  Pháp,   Nguyễn Xuân Khoát lao vào công việc nghiên cứu sưu tầm: nghiên cứu nhạc chèo, ca trù và các làn điệu dân ca. Ông mời hẳn một ông thầy chèo, Bác Vương Văn Dương - để ghi chép các làn điệu, ghi đi ghi lại những luyến láy trong giọng hát chèo và trong tiếng đàn của các làn điệu chèo của nhiều nghệ nhân khác nhau. Chính sự sáng tạo cá nhân ấy làm phong phú  các làn điệu và cho người ta thích thú được thưởng thức dấu ấn riêng của âm nhạc dân tộc.    Đi sâu vào ca nhạc cổ truyền, ông rút ra được nhiều vấn đề có tính khái quát:  âm nhạc Việt Nam có những vẻ đẹp của riêng nó: “Chèo chất phác, ca trù thanh cao, dân ca thì hồn nhiên, ý nhị. Nó vui mà không ồn ào, sặc sỡ, bi mà không đát, vừa kín đáo vừa cởi mở. Vừa mộc mạc lại vừa duyên dáng. Tất cả mọi trạng thái đó đều sáng lên trong lòng người cảm xúc, trong lòng người sáng tác ra cũng như trong lòng người thưởng thức. “(Nguyễn Xuân Khoát)
    Ông phổ nhạc ba bài ca dao: Con Cò, Con Voi, Thằng Bờm để diễn đạt tâm tư của ông trong thời buổi xã hội nhiễu nhương, trong khi nhiều nhạc sĩ khác gửi gắm vào sáng tác những mối tình sầu, nỗi buồn cô quạnh. Người ta vẫn thấy ở đó còn có dấu ấn riêng của tác giả, tính cách, bóng dáng con người Nguyễn Xuân Khoát: phát huy tính dân tộc trong âm nhạc.  Tính dân tộc trong âm nhạc còn thể hiện trong thanh xướng kịch Vượt sông cái, Trống Tràng Thành viết cho piano, hoà tấu Ông Gióng, Sơn Tinh Thuỷ Tinh và hoàn toàn cho bộ gõ dân tộc như Tiếng pháo giao thừa, Cúc Trúc Tùng Mai....  Ông đến với Cách mạng là đến với tấm lòng.
    Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc với hiệp định Genève. Trở về thủ đô Hà Nội, ông được bầu làm Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Năm 1996, ông được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật..
 
PHÁT TRIỂN ÂM NHẠC DÂN TỘC HIỆN ĐẠI
 
    Cho tới năm 1814, Na Uy đã hoàn toàn bị lệ thuộc vào Đan Mạch. Từ năm 1814 tới năm 1905, đất nước này bị bắt buộc phải gia nhập liên minh với Thụy Điển. Giai đoạn này cũng chứng kiến sự nổi lên của phong trào văn hoá Chủ nghĩa quốc gia lãng mạn Na Uy, khi người Na Uy tìm cách định nghĩa và thể hiện một bản sắc quốc gia riêng biệt. Phong trào này liên quan tới mọi nhánh văn hoá, gồm cả  âm nhạc (Edvard Grieg).  Grieg học ở Nhạc viện Leipzig (Leipziger Konservatorium) của Trường phái lãng mạn Đức với Mendelssohn, Schumann.   Grieg kết thân với Nils Gade và Richard Nordraak.  Nhà soạn nhạc trẻ tuổi R. Nordraak khuyên Grieg lưu ý tới những giai điệu dân gian Na Uy.  Từ đó, Grieg đi tìm cảm hứng sáng tác trong đời sống hàng ngày của đồng bào mình, trong thiên nhiên và folklore Na Uy. Grieg cùng với Nordraak thành lập nhóm “Euterpe” nhằm kiến tạo nền âm nhạc Nauy hiện đại. Grieg cộng tác với nhà soạn kịch Na Uy Ibsen và kết thân với B. Bjornson.  Grieg cưới ca sĩ Nina Hagerup.  Ông cùng vợ trình tấu các nhạc phẩm của mình ở khắp châu Âu với tư cách là nghệ sĩ piano và nhạc trưởng.  Những nhạc phẩm cho piano, đặc biệt  là những bài hát của Grieg với giọng ca của Nina như luồng gió mát thổi từ vịnh Nauy đến với thính giả Na Uy.

ĐẶNG HỮU PHÚC:
TỪ NHẠC DÂN GIAN ĐẾN NHẠC BÁC HỌC
(1953-…)

Đặng Hữu Phúc sinh ngày 4 tháng 6 năm 1953 tại Phú Thọ, Việt Nam. Cậu bé Phúc học nhạc tại Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam từ năm lên 10 tuổi, và được đào tạo chính quy cả 2 chuyên ngành: sáng tác và biểu diễn Piano.
Trong thời gian là sinh viên piano, ông học với Tào Hữu Huệ (Tsao You-Whai,Trung Quốc), Issac Katz và Ghenxler (chuyên gia Liên Xô), ông đã chơi nhiều tác phẩm lớn viết cho piano như : Concerto No1 của P.Tchaikovsi  [1] , Concerto No2 của S.Rakhmaninoff, Concerto No1 G-dur của M.Ravel, Concerto Cis moll của N.Rimsky-Korsakov, Sonate No23 (Appassionata) của L.V.Beethoven  [2]  , Sonate No2 B-moll và Ballade No1 g-moll của F.Chopin, v.v...
Đặng Hữu Phúc tu nghiệp tại Nhạc viện Quốc gia Paris tại Pháp những năm 1991-1992. Ông là nghệ sỹ dương cầm của Dàn nhạc giao hưởng Quốc gia Việt nam trong hơn 20 năm (1979-2002). Ông cũng đã từng độc tấu piano bản Sonate polyphonique (mà ông là tác giả) tại Liên hoan các nhạc sỹ trẻ các nước Xã hội Chủ nghĩa lần thứ nhất (Liên Xô cũ) năm 1988 , và thu thanh bản nhạc này tại Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam (1978).
Hiện nay, Đặng Hữu Phúc giảng dạy bộ môn sáng tác ở Học viện âm nhạc quốc gia Hà Nội. Đặng Hữu Phúc là nhạc sỹ sáng tác khí nhạc Việt Nam đầu tiên mà tác phẩm được vang lên trong các phòng hòa nhạc sang trọng của nước Cộng hòa Pháp tháng 5 năm 2007.  Chính  nhạc trưởng lừng danh Xavier Rist, người  đoạt bảy giải nhất về chỉ huy dàn nhạc tại Nhạc viện quốc gia Paris,  dàn dựng và chỉ huy biểu diễn cho bản Ouverture Ngày hội  của nhạc sĩ  Đặng Hữu Phúc.  Nhạc trưởng Xavier Rist nhận xét: “Ngày hội là một tác phẩm xuất sắc, nhạc sĩ đã chuyển đổi và tái tạo chất liệu nhạc truyền thống Việt Nam dưới lăng kính của ngôn ngữ giao hưởng đương đại với một cảm nhận về nhịp điệu và màu sắc rất tinh tế”. Trang web của Hội Nhạc sỹ Việt Nam viết:” Đó là câu chuyện cổ tích giữa đời thường!”
 “Những nét nhạc đẹp như thể nét vẽ của người họa sỹ trong tranh, nhạc gây ấn tượng mạnh và làm lay động tâm hồn chúng ta. Nhờ có âm nhạc, số phận của các nhân vật chính đã trở nên rõ nét hơn”. Đó là lời nhận xét về nhạc của Đặng Hữu Phúc trong phim Thời xa vắng của Ban giám khảo của giải Kim Tước,  Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải lần thứ tám tháng 6 năm 2005. 
    Tác phẩm của nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc chia làm hai mảng chính là: Khí nhạc (thính phòng, giao hưởng) và Thanh nhạc. N ăm 2006 tập “Tuyển chọn 60 bài Romances và Ca khúc cho giọng hát với Piano” đã ra đời sau hơn 30 năm,đó là một tuyển tập viết cho thanh nhạc  và duy nhất của một nhạc sĩ Việt nam có đầy đủ cả phần piano Trong tuyển tập có nhiều ca khúc đã được phổ biến rộng rãi trong công chúng như "Cơn mưa sang đò "Trăng chiều , “Ru con mùa đông”, “Tôi vẫn hát”... Một mảng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác âm nhạc của anh là anh đã viết nhạc cho hàng trăm phi m và nhiều vở diễn sân khấu kịch nói, múa, rối, xiếc...vv Như các ph im truyện nhựa: “Ngõ hẹp", “Người đàn bà nghịch cát”, “Tướng về hưu”, “Dòng sông hoa trắng”, “Đêm bến tre”… Đặng Hữu Phúc  là nhạc sĩ hiện đại của Việt Nam . Qua tác phẩm âm nhạc của minh, ông  đi từ nhạc dân gian để đưa âm nhạc bác học - SONATE POLYPHONIQUE CHO ĐÀN PIANO SOLO -đến với người  Việt Nam yêu thích âm nhạc.
                      
 
ROMANCE – VẺ ĐẸP CỦA …
 
Qua đêm Con đường âm nhạc—PHÁC THẢO MÙA THU ta biết, Chất thơ trong âm nhạc của Đặng Hữu Phúc có lẽ bắt nguồn từ một mối tình thuở học trò rất đẹp và nó đã trở thành một nguồn cảm hứng trong nhiều sáng tác của anh. Đó là mối tình tuổi học trò đơn phương với ca sĩ Ái Vân. Nhạc sĩ tâm sự:”Bài hát "Trăng chiều" tôi đề tặng Vân cũng vì những lung linh kỷ niệm tuổi học trò mà cô ấy đã để lại nơi tâm hồn tôi.   Có lẽ chất thơ trong âm nhạc của tôi đã bắt đầu từ những ấn tượng đẹp như giấc mộng ấy. Dư âm của nó vang trong lời hát: "bình yên bình yên giấc nồng, dịu êm dịu êm đóa hồng" (Ru con mùa đông) mà rất ám ảnh: "Bóng em ngời sáng, đóa hoa màu trắng khi trăng chiều lên" (Trăng chiều).....”  
    Ông chia sẻ: “ Khi còn là sinh viên học viện âm nhạc, cái chất romance đã dần ngấm vào trong tôi, tôi đã cảm nhận được vẻ đẹp cao sang, tinh tuý của nó. Từ năm 1975 tôi đã bắt đầu viết, bài Romance đầu tay, phổ thơ của Chu Hoạch. Cái đẹp trong Romance của ông là “những cảm nhận vẻ đẹp của tình yêu, vẻ đẹp tinh tế của những quan sát rung động từ con tim với thiên nhiên.”

                                          ĐẤT NƯỚC TỪ NHẬT KÝ TỚI  NHÀ HÁT LỚN HÀ NỘI
    Nhật ký ngày 27-1-1973viết: “22h ngày 20-3-1973: nghe tiếng loa hàng xóm phát bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi do Châu Loan ngâm trong buổi “Tiếng thơ”. Rất xúc động, bỗng nghĩ bài thơ có thể phổ thành hợp xướng. Thế là cả đêm không ngủ được”. Thứ tư 21-3-1973: “Sáng ra thư viện chép bài thơ. Chuẩn bị một số cơ sở vật chất (đèn dầu, bảng gỗ, bút chì, tẩy, giấy nhạc), định tối vào trường viết nhưng chiều đã chín muồi cảm xúc viết được đoạn đầu rất nhanh. Tối vào trường từ sớm. Làm tiếp (từ Mùa thu nay khác rồi… đến Dây thép gai đâm nát trời chiều). Trong phòng đầy muỗi và ánh đèn bão. Làm khuya, rất cảm xúc, mãi 12h đêm mới về”. Thứ năm 22-3-1973: “Tối vào làm tiếp cho tới hết…”.
    “Cả tòa nhà 4 tầng lúc ấy tối đen, đêm về khuya chỉ còn mỗi phòng của tôi với ánh đèn dầu. Trường nhạc nằm bên nhánh sông Tô Lịch, “muỗi nhiều như trấu”… Đến giờ tôi vẫn còn thấy bồi hồi, xúc động khi mỗi lời thơ về đất nước cất lên thành nhạc”.
    Năm 1976, “Đất nước” được dàn hợp xướng học sinh, sinh viên của Trường Âm nhạc Việt Nam biểu diễn nhân kỷ niệm 20 năm thành lập trường.
    “Đất nước”… nằm im cho đến tối 1-9-2009, dịp kỷ niệm 64 năm Ngày Quốc khánh, mới lại được vang lên tại Nhà hát Lớn, Hà Nội. Dàn nhạc của Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam đã cùng chơi “Đất nước”, do chính tác giả chỉ huy. “Đất nước” mang trong nó cả niềm vui riêng nhỏ bé và sự chung vui lớn lao của cả dân tộc;
 
NGHỆ SĨ VIOLIN VIỆT NAM
BÙI CÔNG DUY
(1981 - ...)       
 
    Bùi Công Duy sinh năm 1981 trong gia đình có truyền thống âm nhạc, cha là nghệ sĩ violin Bùi Công Thành.  Anh bắt đầu học violin từ khi lên 4 tuổi dưới sự dẫn dắt,  định hướng tương lai của người cha.  Khi lên 10 tuổi,  Bùi Công Duy được ba mẹ đưa sang Nga với nhiều hy vọng và niềm tincủa bố mẹ. Bùi Công Duy chia sẻ: "Bố tôi tuy làm giảng viên bên Nga, nhưng để lo cho tôi ăn học đầy đủ, bố tôi hàng ngày dậy từ 5 giờ sáng dưới tiết trời băng giá, có khi xuống tới âm hàng chục độ để làm nghề lái taxi". Nước Nga là chiếc nôi nhạc cổ điển có truyền thống đào tạo những nghệ sĩ violin nổi tiếng thế giới với những nhà sư phạm đầy tình nhân ái, lo ươm cho những tài năng phát triển. Cô giáo Kuzina tạo cho trò Bùi Công Duy một nền tảng vững chắc để anh sự tin  trong nghề và trong cuộc sống. Bùi Công Duy tâm sự: "Tôi còn nhớ, hầu hết những buổi biểu diễn ban đầu để khẳng định bước đường của tôi, cô luôn cho tôi biểu diễn cùng để làm quen với sân khấu và khán giả. Những buổi biểu diễn ấy mang lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhất.” Ở lớp  nâng cao Bùi Công Duy được dìu dắt bởi giáo sư âm nhạc nổi tiếng Gvozdev, bởi nghệ sĩ nhân dân Bochkova.  Sau sáu năm miệt mài khổ luyện Bùi Công Duy tốt nghiệp hệ trung cấp năm 1998, và trở thành sinh viên Nhạc viện Tchaikovsky nổi tiếng ở Moskva. Tất cả những nhạc công của  Virtuose Moscow đều đã đạt các giải thưởng quốc tế.  Dàn nhạc này luôn có chương trình biểu diễn dày đặc tại các nước trên thế giới". Sau 14 năm học tập và rèn luyện, Bùi Công Duy đã trở thành một nghệ sĩ Violon danh tiếng trên nước Nga.   Năm 2007, Bùi Công Duy về nước với nhiều dự định đặt ra cho chính bản thân và cho cộng đồng yêu âm nhạc cổ điển của đất nước thiếu vắng những nhà sư phạm tài năng giầu lòng nhân ái. Bùi Công Duy muốn lấp đầy khoảng trống ở Việt Nam:  định hướng cho thế hệ trẻ và gọt giũa những tài năng mà họ không có điều kiện để phát triển, hay có điều kiện nhưng không có định hướng cho chính bản thân mình. Theo đuổi âm nhạc cổ điển là công việc theo suốt cuộc đời, ở Việt Nam nhiều em có thiên bẩm âm nhạc nhưng lại không mấy em có đủ lòng kiên nhẫn theo đuổi con đường này.

KHÔNG TRỒNG CÂY SAO CÓ HOA THƠM TRÁI NGỌT

    Rất nhiều bạn bè có quan niệm theo học nhiều giáo viên để có một cái nhìn đa dạng hơn, nhưng tôi thì ngược lại. Trong từng giai đoạn, tôi chỉ theo học một thầy, cô giáo và ảnh hưởng một phong cách nhất định”  (Bùi Công Duy).  Mọi con đường đều dẫn tới Rom, nhưng ta không thể cùng một lúc đi trên hai con đường để tới Rom.  Văn học nghệ thuật đòi hỏi phải có năng khiếu, đặc biệt là âm nhạc.  Sinh ra trong gia đình có truyền thống âm nhạc, cả cha lẫn mẹ đều là nghệ sĩ, nhưng không có khổ luyện thì không thể thành danh được.  Âm nhạc là lĩnh vực, thầy nào trò nấy.  Việc Bùi Công Duy năm 2007 về giảng dạy ở Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam đã tạo nên niềm hứng khởi cho sinh viên ngành violin.  Họ có tấm gương thần tượng cho đời mình. Thầy Bùi Công Duy cao 1m84, khỏe khoắn,  gương mặt đầy biểu cảm âm nhạc. Đôi mắt sáng và ánh nhìn rạng rỡ. Vầng trán tỏa sức hút của một người có tư duy thơ mộng... của một nghệ sĩ violin. Tên tuổi nghệ sĩ violin Bùi Công Duy Duy đã vượt ra khỏi biên giới và được biết đến ở nhiều quốc gia có nền âm nhạc cổ điển lớn như Nhật, Pháp, Mỹ, Italia, Đức, Ba Lan... nay lại tỏa sáng trên quê hương.  Nỗ lực của anh và những cộng sự là đưa tinh túy của âm nhạc đến với người Việt Nam. Với nguyên tắc chất lượng, uy tín. Đáng kể nhất là nỗ lực trong hai năm để đưa dàn nhạc giao hưởng Đức danh tiếng Berliner Symphoniker, 66 người về Việt Nam, thuyết phục họ biểu diễn nhạc mục phù hợp nhất với khán giả Việt. Bùi Công Duy là nghệ sĩ violin  từng gắn với nhiều giải thưởng danh giá: Giải Nhất cuộc thi Âm nhạc quốc tế Demidov (1993), giải Nhất cuộc thi Âm nhạc quốc tế Z. Bron (1995), đặc biệt là giải nhất cuộc thi tìm kiếm tài năng âm nhạc mang tên nhà soạn nhạc vĩ đại của nước Nga Tchaikovsky (1997). Bùi Công Duy giảng dạy âm nhạc với vai trò một Phó Trưởng khoa đàn dây của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.
 
 
LỜI BÌNH:  Bối cảnh ra đời của tân nhạc là Việt Nam những năm đầu  thế kỷ 20 ( khoảng năm  1928 ) . Chủ nghĩa tư bản  của người Pháp cùng với nền văn hóa phương Tây vào Việt Nam gây nên những xáo trộn lớn trong xã hội. Nhiều giá trị tư tưởng bền vững mấy ngàn năm trước đó lại bị giới trẻ có Tây học xem thường, thậm chí trở thành đối tượng để mỉa mai của nhiều người. Một tầng lớp tiểu tư sản ở thành thị hình thành. Những đổi thay về sinh hoạt cũng đồng thời với sự thay đổi về ý nghĩ và cảm xúc. Những thay đổi đó cũng do sự tiếp xúc với văn hóa lãng mạn Pháp. Giai đoạn trước  1937  được xem là giai đoạn chuẩn bị của Tân nhạc. Trong bài Lịch sử Tân nhạc Việt Nam nhạc sĩ Trần Quang Hải gọi đây là "giai đoạn tượng hình". Còn Phạm Duy cho rằng những năm đầu thập niên 1930 là "thời kỳ đi tìm nhạc ngữ mới". Từ đầu thế kỷ 20, các bài hát châu Âu, Mỹ được phổ biến mạnh mẽ ở Việt Nam với các đĩa hát 78 vòng rồi qua những bộ phim nói. Những thanh niên yêu âm nhạc thời kỳ đó bắt đầu chơi mandoline ghita  và cảvĩ cầmdương cầm. Năm 1938 được coi là điểm mốc đánh dấu sự hình thành của Tân nhạc Việt Nam với những buổi biểu diễn và thuyết trình của nhạc sĩNguyễn Văn Tuyên tại Hà Nội. tháng 9 năm  1938, tờ Ngày Nay của Nhất Linh, một tờ báo uy tín khi ấy, cho đăng những bản nhạc đầu tiên Bông cúc vàng, Kiếp hoa của Nguyễn Văn Tuyên, Bình minh của Nguyễn Xuân Khoát, Bản đàn xuân của Lê Thương, Khúc yêu đương của Thẩm Oánh,Đám mây hàng, Cám dỗ của Phạm Đăng Hinh, Đường trường của Trần Quang Ngọc... Ngay từ thời kỳ này, nhiều nhạc sĩ tài năng đã ghi dấu ấn với các nhạc phẩm trữ tình lãng mạn. Một số thuật ngữ được dùng để chỉ nền tân nhạc Việt Nam giai đoạn này, phổ biến nhất là "nhạc tiền chiến". Dòng nhạc tiến chiến còn kéo dài tới năm 1954 và cả sau 1954 ở miền Nam. Nhạc sĩ Lê Thương là một trong những người có sáng tác sớm nhất. Khi đó ông dạy học ở Hải Phòng và có tham gia cùng Hoàng QuýPhạm NgữCanh Thân. Thời kỳ này, Lê Thương đã để lại dấu ấn với các truyện ca như Bản đàn xuân, Nàng Hà Tiên, Một ngày xanh, Thu trên đảo Kinh Châu và đặc biệt bộ ba ca khúc Hòn vọng phu, được xem như một nhạc phẩm bất hủ của tân nhạc. Nhạc sĩ Văn Cao ở Hải Phòng và cũng từng tham gia nhóm Đồng Vọng. Từ năm 16 tuổi Văn Cao đã có ca khúc đầu tay là Buồn tàn thu rất được ưu chuộng. Năm 1941, theo lời khuyên của Phạm Duy, Văn Cao lên Hà Nội. Thời kỳ này, ông đã viết nhưng ca khúc vượt thời gian như Thu cô liêuSuối mơBến xuân và đặc biệt  Trương Chi và  Thiên Thai. Tham gia Việt Minh, cuối năm 1944, Văn Cao viết Tiến quân ca, ca khúc trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh rồi quốc ca của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và quốc ca của Việt Nam hiện nay. Đoàn Chuẩn là người say mê Hạ Uy cầm, Đoàn Chuẩn viết nhạc và để lại hơn 10 ca khúc, hầu hết đều nói về mùa thu, trong đó nhiều bài giá trị như Đường về Việt BắcLá đổ muôn chiềuGửi người em gái... Nhạc phẩmVĩnh biệt của ông cũng được sáng tác trong thời gian đó, nhưng đến cuối thập niên 1990 mới công bố và được ca sĩ Ánh Tuyết thể hiện. Các nhạc sĩ khác cũng ghi dấu ấn cho giai đoạn tiền chiến như Ngày về, Mơ hoa của Hoàng Giác, Giáo đường im bóng của Nguyễn Thiện Tơ, Em đến thăm anh một chiều mưa của Tô Vũ, Nỗi lòng của Nguyễn Văn Khánh, Trách người đi của Đan Trường, Đêm đông của Nguyễn Văn Thương, Ai về sông Tương của Văn Giảng, Trầu cau của Phan Huỳnh Điểu, Xuân và tuổi trẻ củaLa Hối, Dạ khúc của Nguyễn Mỹ Ca, Nhớ quê hương của Phạm Ngữ, Tình quê hương của Việt Lang, Màu thời gian của Nguyễn Xuân Khoát... Vào thời kỳ đầu tiên, Phạm Duy với vai trò ca sĩ trong gánh hát Đức Huy là một trong những người góp phần phổ biến tân nhạc. Ông là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở  Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần.
Từ năm 1945, tân nhạc Việt Nam bắt đầu có sự phân tách. Đa số các nhạc sĩ rời bỏ thủ đô và những thành phố lớn để tham gia kháng chiến Với đề tài kháng chiến, ở miền Bắc, Đỗ Nhuận viết Du kích sông Thao, Nhớ chiến khu, Hoàng Vân có Hò kéo pháo, Văn Chung viếtQuê tôi giải phóng, Lê Yên viết Bộ đội về làng... Ở miền trung có Bình Trị Thiên khói lửa của Nguyễn Văn Thương, Lời người ra đi củaTrần Hoàn, Đoàn vệ quốc quân, Có một đàn chim của Phan Huỳnh Điểu, Du kích Ba Tơ của Dương Minh Viên... Còn ở miền Nam, một lớp nhạc sĩ trẻ hơn như Hoàng Việt với Lên ngàn, Nhạc rừngCác ca khúc này đánh dấu sự ra đời thực sự của nhạc kháng chiến, hay "nhạc đỏ".
Hiệp định Genève năm 1954  đã chia Việt Nam thànhViệt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam. Tại miền Bắc, nhạc kháng chiến tiếp tục và cùng với nhạc dân ca, truyền thống là những thể loại âm nhạc duy nhất được phát trên đài phát thanh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Bắc. Ở miền Nam, với sự tự do, đa dạng hơn trong sáng tác nghệ thuật, các nhạc sĩ đã viết các ca khúc thuộc nhiều thể loại. Văn hóa Âu Mỹ tràn ngập miền Nam dẫn đến sự hình thành dòng nhạc trẻ. Bên cạnh đó là các phong trào Du ca và dòng nhạc phản chiến. Một nhạc sĩ tiêu biểu cho dòng nhạc phản chiến này và cả tình ca là Trịnh Công Sơn.
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước nền tân nhạc Việt Nam có nhiều thay đổi thăng trầm
Vào năm 1996 bắc nguồn từ giải thưởng âm nhạc "Làn sóng Xanh" do đài tiếng nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. người đoạt giải là ca sĩ Lam Trường với ca khúc "Tình thôi xót xa"  Bảo Chấn khiến cho trào lưu nhạc trẻ ra đời với hàng loạt ca khúc thành công sau đó như : Hà Nội mùa vắng nhửng cơn mưa, Bên em là biển rộng, giọt sương trên mí mắt, Hôn môi xa, Tình em ngọn nến ... góp phần đưa hàng loạt ca sỉ trẻ nổi danh như : Mỹ Tâm, Đan Trường, Cẩm Ly, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Thanh lam, Quang Linh, Quang Dũng, Đức Tuấn, Tuấn Hưng, Đàm Vĩnh Hưng ...
Nhạc sĩ trẻ Hoài An đoạt giải thưởng từ cuộc thi sinh viên với bài hát "Tình thơ" với phần hoà âm mới lạ hiện đại lúc bấy giờ đã làm thay đổi quan điểm âm nhạc Việt Nam : Phần nhạc dạo đầu bài hát và Phần hoà âm và phối khí được chú trọng hơn so với trước đây làm cho ca khúc Việt Nam trở nên hiện đại hơn, hay hơn.
Nói đến nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát  là  nói con người của sáng tạo, là nói đến hòa thanh phối khí trong nhạc dân tộc... Con đường tìm kiếm đó bắt đầu từ sự tìm kiếm âm hưởng của nhạc cụ dân tộc mà bộ gõ có thể có khả năng đảm nhiệm chức năng độc đáo của nó. Ông rất tâm đắc với nhạc sĩ người Na Uy Edouard Grieg về việc phát triển âm nhạc  dân tộc.  Ông nói: "Muốn cho sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo của mình có giá trị lâu dài, được nhân dân, dân tộc mình yêu thích, người nhạc sĩ trước hết phải thuộc, phải nắm bắt được cái cộng hưởng âm thanh và tiết tấu, cái cộng hưởng của tiếng vang cuộc sống thiên nhiên và xã hội của dân tộc đã được đúc kết làm đẹp lên trong cái cộng hưởng của nhạc cụ dân tộc mình" Những việc làm của ông như một bước đi tiên phong trong công cuộc xây dựng một nền âm nhạc dân tộc hiện đại. 
 
Những người sáng tạo nghệ thuật thích đối đầu với cái khó, thích phá vỡ những quy phạm. Họ coi khó khăn là những thách đố trong nghề và trong cuộc đời. Nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc cũng là người như vậy.  Ông  hướng tới đối tượng thính giả có nhu cầu được thưởng thức những tác phẩm âm nhạc mới mẻ, giàu giá trị thẩm mỹ. Giữa tinh tuyển và phổ thông, Đặng Hữu  Phúc chọn tinh tuyển:  “đích lịch trình khổ nạn”.  Nhạc sĩ đã thành công trên con đường đầy bất trắc bằng  tài năng sáng tạo và hình như có cả may mắn. Đặng Hữu Phúc là nhạc sỹ sáng tác khí nhạc Việt Nam đầu tiên mà tác phẩm được vang lên trong các phòng hòa nhạc sang trọng của nước Cộng hòa Pháp tháng 5 năm 2007.  Chính  nhạc trưởng lừng danh Xavier Rist, người  đoạt bảy giải nhất về chỉ huy dàn nhạc tại Nhạc viện quốc gia Paris,  dàn dựng và chỉ huy biểu diễn cho bản Ouverture Ngày hội  của nhạc sĩ  Đặng Hữu Phúc.  Nhạc trưởng Xavier Rist nhận xét: “Ngày hội là một tác phẩm xuất sắc, nhạc sĩ đã chuyển đổi và tái tạo chất liệu nhạc truyền thống Việt Nam dưới lăng kính của ngôn ngữ giao hưởng đương đại với một cảm nhận về nhịp điệu và màu sắc rất tinh tế”. Trang web của Hội Nhạc sỹ Việt Nam viết:” Đó là câu chuyện cổ tích giữa đời thường!” Đặng Hữu Phúc đã tìm được cảm hứng sáng tác qua việc chắt lọc những nét tinh túy trong âm nhạc dân gian như chèo, tuồng, chầu văn.  Những âm hưởng lãng mạn của 60 bài Romances và ca khúc với piano tạo nên dấu ấn đậm nét.  Những giai điệu đẹp ấy đều được viết ra bởi chính cảm xúc và trái tim của tác giả và  góp phần không nhỏ vào việc phát triển dòng nhạc giao hưởng Việt Nam.
Bùi Công Duy nhớ lại: "Khoảng thời gian từ 4 - 10 tuổi là khoảng thời gian mà vẫn còn ngây ngô, tinh nghịch của trẻ và hầu hết được bố mẹ hết mực lo lắng, cưng chiều. Nhưng với tôi thì khác, ngoài thời gian ăn, ngủ và khoảng thời gian ngắn nghỉ ngơi thì trong tay tôi lúc nào cũng có cây đàn. Những khi tập luyện một đoạn nhạc rất khó tưởng thành công rồi, để có thể được đi chơi nhưng ba tôi vẫn bắt tôi đàn lại. Sau này tôi mới thấy những lời cha dạy, cha ép chơi đi chơi lại mới thấy ông quả là một con người có tầm nhìn chiến  lược. 7 năm theo học NSND Bochkova và làm  thạc sĩ năm 2005. Một năm sau, Bùi Công Duy trở thành thành viên người nước ngoài đầu tiên trong lịch sử 24 năm của dàn nhạc dây Virtuose Moscow danh tiếng thế giới dưới sự chỉ đạo của V. Spivakov -người từng giành bốn giải thưởng lớn dành cho nghệ sĩ violon thế giới và là người sáng lập Dàn nhạc Vituous Moskva. Tiếng đàn violin của nghệ sĩ Bùi Công Duy sắc nét, dày dặn và tinh tế với sự chú trọng đặc biệt anh dành cho tinh thần của tác phẩm -  cái hồn của bản nhạc và sức sống riêng của nó. NSND Bochkova (Nga) nhận xét: “Bùi Công Duy có cả năng khiếu và phẩm chất để trở thành một tài năng hiếm có. Duy có cả tình yêu và khổ luyện là bởi tình yêu của Duy dành cho  âm nhạc  là rất lớn.” Từ khi về nước đến nay, Bùi Công Duy đã đào tạo được khá nhiều tài năng âm nhạc trẻ cho Việt Nam. Điển hình như trường hợp em Nguyễn Linh Nguyên (16 tuổi) đạt Giải Nhì cuộc thi “Mozart International String Competition 2011” tại Thái Lan, và em Trịnh Đan Nhi (10 tuổi) đạt Giải Nhì cuộc thi “The 4th ASEAN International Concerto Competition 2011” ở Indonesia.  Nếu không trồng cây làm sao có những hoa thơm trái ngọt như vậy.

Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 02.8.2014 .