Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Từ trái sang phải :
Xuân Diệu, Thế Lữ, Nhất Linh, Khái Hưng


THẾ LỮ VỚI THƠ & NHẠC






Bài thơ của 8 thành viên Tự lực Văn đoàn

Trong giờ phút chia tay với Xuân Diệu vừa được bổ làm Tham tá nhà Đoan tại Mỹ Tho: Hoàng Đạo, Nhất Linh, Thạch Lam, Huy Cận, Thế Lữ, Tú Mỡ, Khái Hưng, Xuân Diệu (theo thứ tự chữ ký) mỗi người góp một câu:

BÁT TIÊN QUÁ… CHÉN

Bỗng dưng thi sĩ hóa tây Đoan
Nửa mặt nhà văn, nửa mặt quan
Chén rượu tiễn đưa thơ khó nghĩ
Nỗi niềm cách biệt ý khôn toan
Hôm nay nhớ bữa chia bùi ngọt
Lát nữa còn vui cảnh tóp chan
Ví thử anh em đều xuất cả
Còn tuôn ra lắm mạch thơ gàn…

                                        Hanoi 2-2-1940

THẾ LỮ (1907-1989)
NGHỆ SĨ TÀI HOA VỀ VĂN -THƠ –NHẠC- HỌA TRONG TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
    Tên thật là Nguyễn Đình Lễ, hoặc Thứ Lễ. Thứ Lễ nói lái thành Thế Lữ: Người khách phiêu du qua trần thế.
    Ông dùng bút hiệu Lê Ta, và cả Lê Tây khi viết văn vui (bài Lê Tây viết cho Lê Ta, Ngay Nay,số 169 trang 15) . Các tên của ông lập thành một vế câu đối, không ai đối nổi.: Thế Lữ làm quà hai thứ lễ : Một quả Lê tây, một quảy Lê ta.
    Nhất Linh công nhận chất sáng tạo mới của ông trong: “Nguyễn Thế Lữ, một nhân vật mới trong làng thơ mới” trên báo Phong Hóa số54,1933.
    Thế Lữ ra nhập ban biên tập Phong Hóa, và trở thành thành viên Tự Lực Văn Đoàn 1934 ngay khi Nhất Linh thành lập. Ông hoạt động tích cực cùng các bạn văn nghệ sĩ trên hai báo Phong Hóa, Ngày Nay từ 1932 tới 1940.
    Thời kỳ 1934-1937, sau khi Mấy Vần Thơ ra đời, ông được người đời ưa thích nhất trong số các nhà thơ mới.
    Ông là người tiên phong trong việc xây dựng nền thơ mới, những câu thơ của ông còn mãi trong lòng người yêu thơ như:…
-Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu! (Hổ Nhớ Rừng)
 -
Rũ áo phong sương trên gác trọ
 Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang…(Giây Phút Trạnh Lòng)…

 -
Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên (Lời Than Thở của Nàng Mỹ Thuật)

 
    Những tiêu mục Tin Thơ, Tin Văn Vắn… của ông, là những bài phê bình thơ, dậy cách làm thơ, thưởng thức thơ được thanh niên đón đọc sôi nổi. Ông đã đỡ đầu nhiều nhà thơ trẻ như Xuân Diệu, Huy Cận…. Ngoài ra, những truyện đường rừng, truyện kinh dị, truyện trinh thám … của ông cũng rất được hâm mộ… vì chúng đột nhiên cùng ông xuất hiện trên văn đàn Việt Nam. Thế Lữ còn là một người làm báo tài hoa. Với bút hiệu Lê Ta, (Lễ =Lê ngã, với chữ nho ngã = Ta, một cách đùa với luật chiết tự, phân tích chữ.), ông viết phóng sự, bút chiến, văn vui…rất thu hút, như loạt bài Lê Ta Làm Báo, Lê Ta Xuống Hải Phòng…
    Khi nền móng thơ mới thiết lập xong, rực rỡ hơn bao giờ hết với hàng loạt thi sĩ đầy tài năng: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, … mà nhiều thi nhân đã được chính ông khám phá và giới thiệu. Thế Lữ quay sang kịch nói, tuy vẫn viết, vẫn làm báo Ngày Nay. Là một nghệ sĩ say mê kịch, đầy tài năng, tự học trước một thể loại hoàn toàn mới, ông đã trở thành một diễn viên kỳ đặc, một nhà dàn cảnh (đạo diễn) xuất sắc đầu tiên. Ông muốn xây dựng nền kịch nói riêng của Việt Nam. Vì sân khấu bao giờ cũng là bộ mặt văn hoá của một nước. Đó là lúc ông tìm thấy nơi dừng lại, sau bao nhiêu tìm kiếm, khám phá, xây dựng, rồi để lại con đường cho người đi sau: Có lẽ chỉ nơi sân khấu đầy biến đổi, những màn kịch phù du, như thật như ảo…  là phù hợp với tâm hồn vô trụ, lúc nào cũng đi tìm cái mới của ông.
Phạm Duy phổ nhạc TIẾNG SÁO THIÊN THAI của Thế Lữ  

                         Ánh Xuân lướt cỏ Xuân tươi
                  Bên rừng thổi sáo một hai kim đồng
                         Tiếng đưa hiu hắt bên lòng
                 Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn . . .

   Tiếng Sáo Thiên Thai là thơ của Thế Lữ được Phạm Duy phổ nhạc.
   Tiếng Sáo Thiên Thai là một bài thơ lục bát. Theo nhà nhạc học Phạm Quang Tuấn, về ý thơ, có một sự vừa tương phản vừa hòa hợp giữa cái vui cùa cảnh Xuân tươi, Tiên đồng với cái buồn buồn của Thi sĩ nhớ Thiên Thai không bao giờ tìm lại được.

Ca khúc Tiếng sáo Thiên Thai –thơ: Thế Lữ -nhạc: Phạm Duy
   -  Xuân tươi, êm êm ánh xuân nồng, Nâng niu sáo bên rừng, Dăm ba chú kim đồng. . . - (Hò xang xê) Tiếng sáo  Nhẹ nhàng lướt cỏ nắng, Nhạc lòng đưa hiu hắt, Và buồn xa, buồn vắng, Mênh mông là buồn! - Tiên Nga Buông lơi tóc bên nguồn, Hiu hiu lũ cây tùng, Ru ru tiếng trên cồn. . . -  Hò ơi Làn mây ơi! Ngập ngừng sau đèo vắng, Nhìn mình cây nhuộm nắng, Và chiều như chìm lắng, Bóng chiều không đi! -  Trời cao xanh ngắt! Xanh ngắt! Ố ố ô kìa! Hai con hạc trắng (ơ) Bay về nơi nao? - Trời cao xanh ngắt! Ố ố ô kìa! Ố ố kìa! Hai con hạc trắng (ơ) Bay về về Bồng Lai. - Đôi chim ơi Lên khơi sáo theo vời, Hay theo đến bên người, Tiên Nga tắm sau đồi. . . - Đường lên Thiên Thai! Lọt vài cung nhạc gió, Thoảng về mơ mòng quá, Nàng Ngọc Châu tưởng nhớ Tiếng lòng bay xa!
   Nhạc sĩ Phạm Duy là một trong các nhạc sĩ tiền bối cùa nền âm nhạc nước ta với số lượng ca khúc trên 1000 bài gồm nhiều thể loại, là bạn thân của Văn Cao, hơn Văn Cao hai tuổi, năm 2005, Phạm Duy đã hồi hương và về sinh sống ở Tp HCM, đã từ trần vào ngày 27-1-2013. Ông đã phổ nhạc bài Tiếng sáo Thiên Thai vào năm 1959 tại Sài Gòn.
THẾ LỮ đặt lời Việt cho ca khúc Xuân và Tuổi trẻ của La Hối
   Có những khúc xuân ca, khi hát lên, chúng ta lại nôn nao nhớ về kỷ niệm của ngày Tết xưa cũ. Âm nhạc cũng giống như người tình, thường đem lại sự hân hoan, khắc khoải và những hoài niệm khôn nguôi... Hơn 60 năm trôi qua, mỗi độ xuân về, bất cứ ai là người Việt Nam đều không thể nào quên được giai điệu thắm tươi, rạo rực và thiết tha của La Hối trong ca khúc "Xuân và Tuổi trẻ”.
    Nhạc sĩ La Hối sinh năm 1920 tại Hội An (Quảng Nam) trong một gia đình phong lưu mà phần đông con cái đều có ít nhiều năng khiếu về nghệ thuật. Từ nhỏ, La Hối đã tỏ ra là một học sinh xuất sắc ở các môn học và đặc biệt rất có năng khiếu về âm nhạc. Cậu tự học, tự nghiên cứu âm nhạc Đông-Tây, 14 tuổi đã tập tành sáng tác những giai điệu vui tươi, sôi nổi... Từ năm 1936-1938, La Hối vào Sài Gòn để hoàn chỉnh chương trình học vấn đồng thời cũng là dịp để cậu gặp gỡ, học hỏi các giáo sư, nhạc sĩ về nhạc cổ điển Tây phương. Sau đó, ông trở về Hội An dạy đàn và vận động những người cùng sở thích thành lập Hội yêu âm nhạc (Société philharmonique). Ông được anh em tín nhiệm bầu làm hội trưởng và ông cũng là người đầu tiên đưa các hành khúc cách mạng Việt Nam vào chương trình hòa tấu (trước đó chỉ sử dụng nhạc ngoại quốc). Một số nhạc sĩ trẻ thời đó đã từng được La Hối hướng dẫn như: Dương Minh Ninh (tác giả ca khúc Gấm vàng), Lê Trọng Nguyễn (tác giả Nắng chiều), Lan Đài (tác giả Chiều tưởng nhớ)...
   Trong giai đoạn phát xít Nhật xâm chiếm Trung Hoa, VN và các nước Đông Nam Á khác, phong trào kháng Nhật nổi lên mạnh mẽ ở khắp VN. La Hối đã gia nhập một tổ chức chống phát xít. Tháng 5-1945, ông và 10 đồng chí trong tổ chức bị Nhật bắt giữ. Sau nhiều ngày giam giữ và tra tấn vô cùng dã man, quân Nhật đã đem tất cả 11 người ra xử bắn và vùi lấp chung một huyệt tại chân núi Phước Tường (phía tây nam TP Đà Nẵng). Năm ấy, nhạc sĩ La Hối mới 25 tuổi!
    - Ca khúc Xuân và Tuổi trẻ được sáng tác trong thời kỳ La Hối bị hiến binh Nhật theo dõi, hoàn cảnh sống rất phức tạp và vô cùng khó khăn, thế nhưng giai điệu của tác phẩm lại là niềm hứng khởi, phấn chấn tin yêu vào cuộc sống.
    - Qua tìm hiểu và xúc động trước cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy khí phách của chàng nhạc sĩ - liệt sĩ tài hoa, Thế Lữ đã xin phép gia đình La Hối để đặt lời Việt cho nhạc phẩm giá trị này (Trước đó chỉ có lời tiếng Hoa). Từ đó, Xuân và tuổi trẻ luôn vang lên trong mỗi độ xuân về.
    Nhạc sĩ La Hối vĩnh viễn ra đi trong tư cách một chiến sĩ khi tuổi đời còn rất xuân: 25 tuổi, nhưng ông đã kịp để lại cho đời một Xuân và tuổi trẻ bất diệt!
Xuân và Tuổi Trẻ -nhạc La Hối -thơ Thế Lữ
Ngày thắm tươi bên đời xuân mới,
Lòng đắm say bao nguồn vui sống.
Xuân về với ngàn hoa tươi sáng,
Ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng.

Ngày thắm tươi bên đời xuân mới,
Lòng đắm say bao nguồn vui sống.
Xuân về với ngàn hoa tươi sáng,
Ta muốn luôn luôn cười với hoa .

Xuân thắm tươi, én tung bay cao tít trời,
Vui sướng đi, cao tiếng ca mừng vui reo
Đừng để lòng thổn thức tình mê đắm
Ta trẻ vui, ta trẻ vui đời xuân thắm tươi

Xuân thắm tươi, én tung bay cao tít trời,
Vui sướng đi, cao tiếng ca mừng reo
Đừng để lòng thổn thức tình mê đắm
Ta trẻ vui, ta trẻ vui đời xuân thắm tươi

Vui sướng đi cho đời tươi sáng,
Vui sướng đi cho lòng thêm tươi,
Ta hát ca đón mừng xuân mới,
Ta hát ca cho lòng thêm hăng hái

Hát vang lên đời ta thắm tươi,
Tiết xuân huy hoàng muôn sắc hoa
Tiết xuân êm đềm muôn tiếng ca
Hát vang hòa lòng thêm hăng hái

Hát vang lên đời ta thắm tươi,
Tiết xuân huy hoàng muôn sắc hoa
Tiết xuân êm đềm muôn tiếng ca,
Xuân tưng bừng ...
Tác phẩm và phong cách nghệ thuật của THẾ LỮ
    Là một nghệ sĩ đa tài, Thế Lữ hoạt động rộng rãi trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật, từ thơ, văn xuôi nghệ thuật (kinh dị, trinh thám, lãng mạn) cho đến báo chí, phê bình, dịch thuật và sân khấu. Trong tất cả các lĩnh vực, Thế Lữ đòi hỏi sự nghiêm túc, phong cách làm việc khoa học, cặn kẽ, tỷ mỷ, luôn muốn tìm ra sự hoàn mỹ. Đó là biểu hiện cho khát vọng của Thế Lữ: luôn săn đuổi và phụng thờ cái Đẹp đến suốt đời, như ông từng nêu tuyên ngôn trong bài thơ Cây đàn muôn điệu:
Tôi chỉ là một khách tình si
Ham vẻ Đẹp có muôn hình, muôn thể.
Mượn lấy bút nàng Ly Tao, tôi vẽ,
Và mượn cây đàn ngàn phím, tôi ca

- Cách tân nghệ thuật
    Thế Lữ được xem là người có đóng góp đáng kể vào việc hiện đại hóa thơ Việt Nam. Tuy chưa thoát hẳn khỏi phong cách diễn đạt ước lệ của thơ cũ, thơ ông đã có những cách tân táo bạo về hình thức nghệ thuật[. Ông đã thử nghiệm nhiều thế thơ khác nhau (trừ thơ Đường luật), bao gồm cả lục bát, song thất lục bát, năm chữ, bảy chữ, tám chữ trường thiên và cả thơ phá thể[. Do đặt nặng tính duy lý, nên đơn vị trong thơ Thế Lữ không phải là mỗi câu thơ đơn lẻ mà là một mảng thơ, cấu trúc theo văn phạm tiếng Pháp. Khác với thơ cũ thường hàm súc, cô đọng, thơ ông thường đề cao tính dư thừa và diễn đạt khúc chiết, logic. Vì lý do này, Thế Lữ thường sử dụng lối "bắc cầu" thông dụng trong thơ Pháp, nhằm kết dính các câu thơ và cả đoạn thơ thành một mạch với nhau[. Ông cũng sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật, như phép đảo ngữ, sử dụng nhiều dấu câu, liên từ..., tuy nhiên những cách tân này không góp phần làm mới nhiều đến giọng điệu hoặc thể thơ trong thơ Thế Lữ. Những thể thơ đấy Thế Lữ chưa sử dụng thuần thục, về sau được các nhà thơ mới khác khắc phục. Ở thời kỳ đầu của Thơ mới, những cách tân của Thế Lữ đã mở đường cho bút pháp của nhiều nhà thơ sau này.
- Đánh giá về Thơ
    Hà Minh Đức nhận xét: "Thơ Thế Lữ giàu chất lãng mạn, trữ tình. Hình ảnh thơ đẹp, giọng điệu thơ mềm mại, trau chuốt. Tuy nhiên, cảm hứng thơ ít phát triển, hình tượng thơ có ít biển hóa và trong một số trường hợp rơi vào đơn điệu". Uyên Thao khi bình luận, cũng cho rằng Thế Lữ chỉ hoàn toàn thành công ở một số bài như Nhớ rừng, Ý thơ, Tiếng sáo Thiên Thai, Giây phút chạnh lòng, còn lại thì chỉ thành công ở từng tiếng, từng âm, trong mỗi đoạn, mỗi câu.
    Dù như thế nào, ảnh hưởng và vai trò tiên phong của Thế Lữ đối với thơ mới vẫn được công nhận. Vũ Ngọc Phan ghi nhận: "Phan Khôi, Lưu Trọng Lư chỉ là những người làm cho người ta chú ý đến thơ mới mà thôi, còn Thế Lữ mới chính là người làm cho người ta tin cậy ở tương lai của thơ mới". Và Hoài Thanh hoa mỹ hơn: "Độ ấy thơ mới vừa ra đời, Thế Lữ như vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam... Thế Lữ không bàn về thơ mới, không bênh vực thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng, mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ".
TÓM TẮT
    Tự lực Văn đoàn là tổ chức văn học chưa có tiền lệ trong văn học Việt Nam - được lãnh đạo bởi một nghệ sĩ đa tài, một con người giàu tâm huyết và có tầm nhìn xa - Nhất Linh đã biết đoàn kết cả nhóm lại trong một ý hướng chung do mình xướng xuất, biết truyền niềm say mê mãnh liệt của mình cho người khác, nhất là có con mắt tinh đời, biết khơi gợi đúng thiên hướng của từng người để mỗi tác giả trong Văn đoàn trở thành một cây bút chuyên biệt nổi danh về một thể loại. Còn Thế Lữ dưới con mắt Nguyễn Tường Tam phải là người mở đầu cho “thơ mới”…Sau đó, Thế Lữ được cả làng “thơ mới” thừa nhận là chủ soái thi đàn. Và Xuân Diệu, người tiếp bước Thế Lữ đem lại sự toàn thắng cho “thơ mới”, phổ vào thơ cái ma lực của những cảm xúc đắm say quyến rũ. Tự lực văn đoàn là nơi phát hiện ra Anh Thơ, Tế Hanh, Nguyên Hồng, Đỗ Đức Thu, Mạnh Phú Tư, Bùi Hiển, Thanh Tịnh... (Nguyễn Huệ Chi –Thử định vị Tự lực Văn đoàn).
    - Trong buổi đầu của nền văn học quốc ngữ Việt Nam, Thế Lữ đã có những đóng góp to lớn cả ở thơ, truyện, báo chí, và sân khấu kịch nói. Với ý thức chủ động học tập phương Tây để đổi mới nền văn học nước nhà, thực hiện tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn, ông đã tìm đến văn học Anh Pháp và có sự tiếp nhận sáng tạo độc đáo kĩ thuật sáng tác trong thể loại truyện ngắn. Đặc biệt là thể loại truyện trinh thám. Tiếp thu linh hoạt năm hình mẫu truyện trinh thám của nhà văn Mỹ Edgar Poe mà hầu hết các nhà viết truyện trinh thám coi là khuôn mẫu, kết hợp tư duy Đông – Tây độc đáo, Thế Lữ đã có nhiều thử nghiệm mới mẻ, góp phần đặt nền móng cho truyện trinh thám Việt Nam.
   - Thế Lữ là người “khởi điểm của những khởi điểm” (Đỗ Lai Thúy, 2000, 31). Tên tuổi của ông gắn liền với tiến trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX.
  Về thơ, Thế Lữ là một trong người mở đầu, khẳng định vị thế cho Thơ Mới (1932-1942).
  Về truyện, Thế Lữ là một trong số ít những nhà văn đầu tiên góp phần lớn hiện đại hóa truyện truyền kỳ, mở đầu truyện kinh dị huyễn tưởng hiện đại và cũng là một trong những người đặt nền móng cho thể loại truyện trinh thám Việt Nam.
   Thế Lữ còn là một nhà báo, một cây bút phê bình văn học sắc sảo của Tự Lực Văn đoàn. Đặc biệt, ở lĩnh vực sân khấu, ông vừa là diễn viên vừa là đạo diễn vừa là nhà biên kịch có tài, góp phần to lớn trong việc xây dựng nền kịch nói Việt Nam buổi đầu phôi thai đến những đỉnh cao của nó.
(Tham khảo: Tài liệu trên Sách báo và trên Internet)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 28.7.2014.