Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


NHỮNG GIỌT TRĂNG LUNG LINH

TRONG THƠ PHÙNG QUÁN




Có những phút ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy


Phùng Quán

Phùng Quán là người rất yêu thơ. Thơ đối với anh là hy vọng, là cứu cánh của cuộc đời như anh đã viết :“Nhưng với tôi, thơ là tất cả, thơ là lý lịch, là mạng sống đời tôi. Là người lính dãi dầu trận mạc, tôi tin vào sức mạnh của thơ như tin vào sức mạnh của vũ khí. Tôi coi thơ là khẩu tiểu liên báng gập ngày còn làm lính trinh sát ở Trung đoàn. Khi cầm khẩu tiểu liên báng gập trên tay, tôi không ngán bất kỳ đối thủ nào.

Tôi cầm khẩu tiểu liên báng gập Thơ đánh vỗ mặt thói dối trá, đạo đức giả, tệ quan liêu tham nhũng…” Và anh đã giữ lời cho đến cuối cuộc đời.

* Phùng Quán, người chiến sĩ yêu nước

Năm mười bốn tuổi (1946), Phùng Quán tham gia Vệ Quốc Đoàn tại Thừa Thiên, làm liên lạc, trinh sát, rồi gia nhập Thiếu sinh quân Liên khu IV.
Ngày anh lên đường nhập ngũ, không có mẹ gấp áo quần, không có cha cầm tay dặn dò cố gắng, không có em gái nắm cơm, cũng không có người yêu đưa tiễn một quãng đường mà chỉ có sóng nước sông Hương và mảnh trăng hạ huyền đưa tiễn:
            Ngày tôi lên đường cứu nước cứu nhà
            Tiễn đưa tôi
            Chỉ có sóng nước sông Hương dềnh cao chạm bờ cỏ
            Trăng hạ huyền như một lưỡi gươm cong
            Trăng, sóng thương tôi, đưa một quãng đường…
            (Tự bạch)
Một chiều mưa hành quân qua làng quê yên ả, thấy trong một nhà dân, vợ chồng con cái ngồi quanh bếp lửa hồng, bên mâm cơm mới xới, anh chợt thấy lòng ấm lại trong niềm vui no ấm của nhân dân và tiếng hát của bé thơ như một lời nhắc nhở các anh phải làm tròn bổn phận của người lính với quê hương:
            Tiếng hát thanh thanh
            Ngọt mùi sữa mẹ
            Như nhắc chúng tôi
            Giữ lấy hòa bình các anh nhé!
            Cho em vui hát mãi điệu tình tang.
            (Chiều hành quân)
Bước chân vào đời lính, cầm súng ra chiến trường là cầm chắc cái chết trong tay nên trước khi công đồn diệt viện ở Phò Trạch, Thừa Thiên, anh đã hạ quyết tâm thư dặn dò các bạn đồng ngũ nếu anh chết đừng đưa anh đi đâu cả, hãy chôn ngay nơi chính anh đã ngã xuống và:
           Nếu phần mộ tôi là vị trí tốt để đánh mìn
            Xin các đồng chí đừng do dự gì tất cả
            Hãy đào mộ tôi lên
            Quẳng hài cốt tôi đi
            Và thay vào đó cho tôi một trăm cân thuốc nổ.
            (Di chúc chiến sĩ)

* Phùng Quán, người chân thật, ngay thẳng và khí phách

Phùng Quán suốt đời sống chân thật. Với anh, chân thật là một lẽ sống mà người làm thơ không thể không có. Anh kể rằng lúc mới lên năm, anh đã một lần dối mẹ, tưởng phải ăn đòn, nhưng không, mẹ anh chỉ hôn lên mái tóc và nói với anh rằng trước khi cha nhắm mắt
có dặn con suốt đời phải làm một người chân thật. Anh hỏi chân thật là gì thì mẹ đáp: chân thật là:
            Thấy vui muốn cười cứ cười
            Thấy buồn muốn khóc là khóc
            Yêu ai cứ bảo là yêu
            Ghét ai cứ bảo là ghét
            Dù ai ngon ngọt nuông chiều
            Cũng không nói yêu thành ghét
            Dù ai cầm dao dọa giết
            Cũng không nói ghét thành yêu.
Từ những lời mẹ dặn, anh nhất định nghe theo, quyết làm nhà văn chân thật trọn đời và nhân đó nói lên cái khí phách của một nhà văn không biết cúi đầu:
            Tôi muốn làm nhà văn chân thật
            Chân thật trọn đời
            Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
            Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
            Bút giấy tôi ai cướp giật đi
            Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
            (Lời mẹ dặn)
Là nhà văn, nhà thơ suốt đời cầm bút, anh rất yêu sự ngay thẳng nên dù dư sức viết rất thẳng trên giấy không kẻ dòng, anh vẫn luôn luôn viết trên giấy có kẻ dòng như thời mới vỡ lòng tập viết:
            Là người viết
            Anh yêu tha thiết
            Sự ngay thẳng tột cùng
            Sự ngay thẳng thủy chung
            Của mỗi dòng chữ viết
Nhưng điều ấy thật không dễ dàng gì:
            … Khó vô cùng
            Viết trọn đời văn
            Dòng đầu thẳng ngay như dòng cuối.
            (Anh thích viết trên trang giấy có kẻ dòng)
            (Bài thơ do em gợi ý (1)

* Phùng Quán chống tham ô, lãng phí

Một trong những điều bức xúc nhất của Phùng Quán là tham ô lãng phí. Giữa lúc đất nước ta còn nghèo và gặp vô số khó khăn, một số người đã phí phạm của công vào những công trình vô bổ, không cần thiết. Trước hết, anh vẽ lại cảnh cơ cực của những bà mẹ và trẻ em. Các bà mẹ thì “quấn giẻ rách, da đen như củi cháy giữa rừng” vì không có áo quần để mặc, còn trẻ em thì “còm cõi, cơm thòm thèm độn cám và rau” vì đã “hai mùa rồi lúa không có một bông, phân người toàn vỏ khoai tím đỏ”. Các chị em đổ thùng (phân) thì “run lẩy bẩy chui hầm xí tối”, thế mà “suốt đêm quần quật, sáng ngày vừa đủ nuôi con”.
Trước tình cảnh ấy của nhân dân, bọn tham ô lãng phí đã làm gì? Chúng đã cao hứng dựng lên ở Nam Định cái “đài xem lễ” tốn hàng chục triệu rồi bỏ dở nửa chừng vì thiếu tiền:
            Về Nam Định mà xem
            “Đài xem lễ” họ cao hứng dựng lên
            Nửa chừng bỏ dở
            Mười một triệu đồng (2) dầm mưa dãi gió
            Mồ hôi máu đỏ mốc rêu
Rồi Phùng Quán muốn hét to cho mọi người đều biết:
            Bọn tham ô lãng phí, quan liêu
            Đảng đã phê bình trên báo
            Còn bao tên chưa ai biết ai hay
            Lớn, bé, nhỏ, to, cao , thấp, béo, gầy
            Chúng nảy nòi, sinh sôi như giòi bọ.
            (Chống tham ô lãng phí)
Bình sinh Phùng Quán rất ghét bọn này:
            Tôi căm ghét bọn lãng phí tham ô
            Nguyền rủa chúng chẳng tiếc lời tiếc chữ.
            (Tự kiểm điểm)

* Phùng Quán với thơ và rượu

Phùng Quán rất yêu thơ, xem thơ như người bạn thân nên:
            Có những phút ngã lòng
            Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy
Thơ đối với anh là nguồn sống, là nước trên sa mạc, bởi thế không có thơ, anh không thể nào sống được, cơn khát thơ dày vò anh, hành hạ anh khiến anh đau khổ đến tột cùng:
            Thơ với tôi là nước trên sa mạc
            Đã từ nhiều năm nay
            Tôi sống mà như chết
            Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi
Nhưng rồi may sao, Nàng đến (3). Anh gặp Nàng trên thành phố quê hương (Huế) và nàng đã mang lại cho anh “một ốc đảo bóng chà là xanh mát” với “giếng sa mạc đầy tràn”. Anh uống thơ không kịp thở như để bù lại những ngày sống thiếu thơ:
            Tôi uống thơ tôi từ đôi mắt em nhìn
            Tơi vục môi uống không kịp thở
            Cảm tạ em, tôi đã hồi sinh!
            Trong khoảnh khắc tôi lại trở thành triệu phú
            (Cảm tạ)
Đã yêu thơ tất yêu rượu. Một ngày của nhà thơ hết nửa ngày say. Khi say thì nằm dài ngắm trời mây rồi cao hứng thơ tuôn ra không kịp viết: thơ rượu, thơ tình, thơ cỏ cây… Khi không có bạn thì độc ẩm và để đỡ buồn, thi nhân mời núi Ba Vì xích lại gần mình để cùng nhau đối ẩm:
            Mời bác Ba Vì xích lại đây
            Ta cùng túy lúy ngắm sóng say
            Tôi đùa bác đấy, đừng tưởng thật
            Bác xích lại gần tôi cũng gay.
Đùa thế thôi, chứ bác Ba Vì làm sao xích lại gần cho được. Vì thế tác giả bảo bác cứ ngồi yên đấy, việc ai nấy làm, có nhớ nhau thì tưới rượu xuống Hồ Tây:
            Thôi bác cứ ngồi yên ở đó
            Còn tôi cứ tĩnh tọa ở đây
            Tôi thì làm thơ, bác làm núi
            Nhớ nhau tưới rượu xuống Hồ Tây
            (Mời rượu)

* Phùng Quán với tình yêu

Khi chống tham ô lãng phí thì Phùng Quán quyết liệt là thế, nhưng khi viết về tình yêu thì thơ anh dịu dàng êm ái lạ thường:
            Trời đã sinh ra em
            Để mà xinh mà đẹp
            Trời đã sinh ra anh
            Để yêu em tha thiết

            …Yêu nhau ai không muốn
            Gần nhau và hôn nhau
            Nhưng anh, anh không muốn
            Hôn em trong tủi sầu
            (Hôn)
Trong tình yêu, màu hồng là biểu hiệu của hạnh phúc vẹn toàn, còn màu tím là biểu
hiệu của chia ly, tang tóc (như trong bài Màu tím hoa sim của Hữu Loan). Phùng Quán cũng gặp cảnh chia ly nên anh làm bài thơ Tím gồm 19 câu thơ thì trong 18 câu có một hay
hai chữ “tím”:
            Hay em hiện ra từ một nhành hoa vi-ô-lét
            Mà mắt em thăm thẳm tím hoang đường
            Cổ tích dắt trẻ thơ vào đêm huyền thoại tím
            Em dắt anh vào một biển tím sương
Trong chuyện tình, Phùng Quán có cuốn “Trăng hoàng cung” là tiểu thuyết tình gồm 13 chương kể về mối tình của tác giả với nàng thơ Hà Khánh Linh, trong đó chương 7 (Trăng hoàng cung) là thi vị hơn cả. Cuối sách có hồi ức của Hà Khánh Linh viết về chuyện tình này.
Đó là một đêm trăng 16 âm lịch tuyệt đẹp, Phùng Quán và Hà Khánh Linh dắt tay nhau vào chơi trong Đại nội hoàng cung triều Nguyễn. Phùng Quán đóng vai một ông vua thất thế, lưu lạc lâu năm trở về thăm lâu đài, đền tạ, lăng miếu của triều đại cũ, còn Hà Khánh Linh đóng vai Hoàng hậu. Vua thì phải đi vào cổng chính – cửa Ngọ Môn – chứ sao lại phải đi cổng phụ, vì thế Hà Khánh Linh đã hợp đồng với tay gác cổng để mở cửa Ngọ Môn đêm hôm ấy từ 8 giờ đến 11 giờ để “vua” vào với giá bằng năm bát bún bò giò heo.
            “Bầu trời cố đô đêm đó không một gợn mây, vầng trăng mười sáu hoàn hảo đến khó tin, kiêu sa, lộng lẫy như một vị hoàng đế cao ngạo, cô độc, trị vì một giang sơn trống rỗng, đẹp mà đơn điệu đến kinh hoàng.
            Hoàng đế râu tóc rối bù, vận long bào vải chàm cũ bạc, chân dận dép lốp máy kéo nặng như cặp cùm, khoác tay Hoàng hậu vận áo Pull, quần bị mốc, mí mắt tô xanh màu mất ngủ, móng tay móng chân sơn đỏ, chếnh choáng tiến vào cửa Ngọ Môn” (Trăng hoàng cung).
Ngọ Môn quan là cổng chính đi vào hoàng cung, bên trong là con đường Trung lộ lát đá Thanh dẫn đến sân Đại triều và điện Thái Hòa, nơi vua và bá quan văn võ họp bàn việc nước.
            Em dắt tôi đi
            Trên con đướng lát những phiến trăng thanh
            Ôi, những phiến trăng có màu hoa sứ
            Em nói với tôi:
            Đây con đường Trung lộ
            Xưa chỉ có vua đi
            Và đêm nay anh đi
Đêm ấy sân Đại triều và điện Thái Hòa ngập giữa biển trăng, những giọt trăng lung linh trên cây lá, lấp lánh trên những hạt sương, đẹp đến não lòng. Hai người dạo quanh hoàng cung, dẫm đạp lên trăng, lần bước qua những lối xưa xe ngựa mà thấy bâng khuâng trước những phế tích hoang tàn.
Trong thoáng chốc, giờ hợp đồng sắp mãn, trăng đã lên cao, phút từ giã hoàng cung đã đến gần:
            Tôi sắp phải từ giã ngai vàng
            Từ giã hoàng cung
            Giã từ mộng tưởng
            Giã từ em
Đêm hôm ấy là một đêm tuyệt đẹp với những kỷ niệm mà hai người không bao giờ quên được. Phùng Quán thấy lâng lâng như sống trong mơ, anh tin rằng chính Trăng đã dùng tuyệt kỹ của mình để tạo ra Nàng với vùng tóc đen như vùng biển tối, với đôi mắt sâu thăm thẳm như đại dương và ngón tay ngón chân có mùi thơm hoa dại:
            Từ chất liệu gì Trăng bày đặt ra em?
            Một vùng tóc như một vùng biển tối
            Vừng mắt em thăm thẳm tia nhìn
            Những ngón tay ngón chân có mùi hoa dại
            Cái cổ trần như rong dưới đáy sông Hương
            (Trăng hoàng cung)
**
* * *
Phùng Quán mất đi, nhưng những câu thơ độc đáo của anh và những giọt trăng lung linh trong thơ anh sẽ còn in dấu ấn lâu dài trong sâu thẳm tâm hồn người đọc. Phùng Quán xứng đáng được nhận giải thưởng Nhà Nước về văn học nghệ thuật năm 2007 do cựu Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao tặng

    (1) Em đây là nhà văn nữ Hà Khánh Linh, tên thật là Nguyễn Khoa Như Ý, có hồi ức in chung trong cuốn Trăng hoàng cung.
    (2) Mười một triệu đồng thời ấy tương đương với 11 tỷ đồng ngày nay.
    (3) Nàng đây vẫn là Hà Khánh Linh.

Bài này đã đăng trên tạp chí KIẾN THỨC NGÀY NAY số số 858 ngày 10-6-2014
Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 13.7.2014 .