Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





PHÁP CÚNG DƯỜNG





5.- Cúng dường cho PHẬT, để rồi cuối cùng rồi Người Cúng Dường THÀNH PHẬT là như thế nào? Thế nào là PHẬT CỦA TA? CÚNG DƯỜNG cho Phật của ta như thế nào?
Trong mỗi chúng ta đều có hai xu hướng: Thiện và Ác mà Phật dạy là “Phàm Thánh đồng cư”. Trong đó cũng có hai tính chất: TÁNH CHÚNG SINH và TÁNH PHẬT, cũng được gọi là PHẬT TÁNH. Mỗi người đều có chủng tử của Phật Tánh, nên đều có khả năng Thành Phật. Do đó, người tu Phật cần phải tìm cho được cái PHẬT TÁNH của mình rồi khai triển nó để khi hoàn tất gọi là Thành Phật.
Thành Phật có nghĩa là THÀNH TỰU CÔNG VIỆC GIẢI THOÁT KHỎI PHIỀN NÃO. Muốn thành tựu con đường này, trước tiên là phải CẢI ÁC, HÀNH THIỆN. Do đó, CÚNG DƯỜNG PHẬT có nghĩa là XẢ TẤT CẢ NHỮNG THÓI XẤU, NHỮNG RÀNG BUỘC VÀO SINH TỬ, PHIỀN NÃO để được GIẢI THOÁT. Vì thế, người CÚNG DƯỜNG PHẬT thì cuối cùng sẽ THÀNH PHẬT, như vậy mới đúng với mục đích “Độ Khổ” của Đạo Phật.
Kinh LĂNG NGHIÊM viết: “Giải Thoát hay triền phược đồng do Sáu Căn. Được Chứng Thánh hay Đọa Phàm cũng bởi Sáu Căn, chớ không có con đường nào khác”. Do vậy, người muốn tu Phật thì phải nhắm vào THÂN và TÂM mà quán sát.
Khi quán sát về cái THÂN, người tu sẽ thấy: Có cái THÂN thì những nỗi KHỔ sẽ bám vào đó. Nó VÔ NGÃ, vì không có chủ thể. Nó VÔ THƯỜNG, vì thấy đó, rồi chỉ cần dứt hơi thở là trả về cho Tứ Đại những gì nó đã vay mượn. Nhưng thời gian chưa biết về nó, chúng ta cứ tưởng cái THÂN là Mình, nên chìu theo nó rồi tạo Ác Nghiệp mà phải chịu đọa. Chính vì vậy mà cần Quán sát THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN, để thấy sự chuyền níu từ kiếp nọ sang kiếp kia do Ái cái Thân mà ra.
Quán sát CÁI TÂM, ta thấy nó là những ý tưởng xuất phát từ cái THÂN, dựa vào cái Thân mà đánh giá, phản ứng với những gì nó Nghe, Thấy, Va chạm bằng ba nơi: Thân, Khẩu và Ý. Do nghĩ rằng cái Thân là Mình, nên xúc phạm tới nó là ta thấy xúc phạm mình, và trong kiếp sống tìm mọi cách để chìu theo ý muốn của nó, đôi khi bất chấp luật công bằng, quên cả tình nghĩa, tìm mọi cách để phục vụ cho nó. Nhưng suy cho cùng, nó chỉ là một khối da, thịt, xương, tổng hợp bằng Tứ Đại, không trường tồn. Phật gọi nó là cái THÂN NHÂN QUẢ, tạm thời đi theo ta, để Nhận lại những gì đã cho đi, cũng như để Trả những gì đã làm. Cả Thân và Tâm đều không phải là Ta. THÂN là do Tứ Đại họp thành. TÂM bám lấy cái Thân nên Phật gọi đó là cái VỌNG TÂM.
Khi Thấy được CÁI VỌNG TÂM thì phải PHẢN VỌNG QUY CHÂN. Việc Phản Vọng Quy Chân đó tức là “Điều Phục”, hay “Cứu Độ Chúng Sinh”. Muốn Cứu Độ Chúng Sinh thì phải biết nó là gì? Ở đâu? Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Chúng người hãy chú tâm mà nghe cho rõ. Những người mê muội đời sau, nếu biết cái Tâm Chúng Sanh tức là thấy đặng Phật Tánh. Bằng chẳng biết cái Tâm Chúng Sanh thì muôn kiếp tìm Phật ắt khó gặp. Nay ta dạy các ngươi phải biết Chúng Sanh ở Tâm mình thì thấy Phật Tánh ở Tâm mình. Muốn cầu Thấy Phật thì phải biết cái Tâm Chúng Sanh. Chỉ vì Tâm Chúng Sanh làm mê muội Tánh Phật, chớ chẳng phải Tánh Phật làm mê muội Tâm Chúng Sanh. Nếu Tánh mình Giác Ngộ thì Chúng Sanh là Phật. Bằng Tánh mình mê muội thì Phật là Chúng Sanh. Tánh mình bình đẳng thì Chúng Sanh là Phật. Tánh mình tà hiểm thì Phật là Chúng Sanh. Một niệm bình đẳng, ngay thật tức là Chúng Sanh thành Phật.
Lời Lục Tổ dạy quá rõ: PHẬT và CHÚNG SINH chỉ là hai tình trạng của Nội TÂM. Khi LÀM ÁC, NGHĨ ÁC, khởi tà hiểm là Chúng Sinh. Khi bình đẳng, ngay thật là PHẬT. Như vậy, PHẬT chỉ là một từ để nói về PHẦN THIỆN, PHẦN SÁNG SUỐT, PHẦN KHÔNG VƯỚNG MẮC TRONG TÂM, và đồng thời cũng nói về kết quả của những việc XẢ BỎ NHỮNG CÁI ÁC, HÀNH NHỮNG ĐIỀU THIỆN, mà Phật gọi đó là CÔNG ĐỨC. 32 Tướng Tốt là những việc làm tốt đẹp cho Thầy, bạn và mọi người chung quanh, được Đức Thích Ca tượng trưng bằng mắt, tai, lưỡi, răng, chân, bàn tay, ngực, lông, tóc v.v… gom lại thành đầy đủ hình tướng của một vị Phật. Phật như vậy đâu phải là một con người hay một vị Thần Linh, làm sao cứu độ được cho ta, mà mỗi người có thể theo mẫu Đức Thích Ca đã làm để tự hoàn thành Phật của mình, không phải thờ PHẬT của Đức Thích Ca hay của ai khác.
Lục Tổ dạy: Tâm ta tự có Phật. Phật ở tâm mình mới thiệt là chơn Phật. Nếu tự mình không có tâm Phật thì tìm chơn Phật ở nơi nào? Cái Tự tâm của chúng ngươi là Phật, chớ khá hồ nghi”.
Người tu Phật cũng không cần phải bỏ hết tiền bạc, của cải, tài sản thì mới tu được. Những thứ đó nếu do chính chúng ta tạo dựng bằng lao động trí óc, hoặc chân tay, không do lừa đảo, gian manh mà có được thì chúng ta có toàn quyền sử dụng, chẳng có lỗi gì với Đạo. Cái mà người tu cần rũ bỏ những thói xấu được gọi là CHÚNG SINH. “Độ” cho hết CHÚNG SINH thì sẽ được Giải Thoát, gọi là Thành Phật. Ngài Duy Ma Cật là một trưởng giả, cũng kinh doanh, mua bán mà vẫn tu hành thành tựu là một tấm gương được ghi rõ trong Kinh. Biết bao nhiêu người giàu có nhờ biết làm ăn chân chính. Họ chẳng những làm giàu cho bản thân mà còn giúp được cho xã hội, làm lợi ích cho vô số người khác. Đó chẳng phải là những người đáng cho ta ngưỡng mộ sao? Tại sao phải bỏ hết để đi tu, rồi trở lại sống bằng đồng tiền của bá tánh? Đó phải chăng là một nghịch lý cần soi rọi? Suy cho cùng, TU chỉ là SỬA. Sửa những tính xấu mà vì nó mọi người sẽ tạo Nghiệp để cuộc sống gây bất ổn cho bản thân và cho mọi người chung quanh mà người xưa dặn dò “Chư ác mạc tác. Chúng thiện phụng hành”. Do đó, người thực hành đầy đủ THẬP THIỆN thì đó là đã TU rồi, đâu có phải làm điều gì ghê gớm. Cứu độ được cho ai ngoài bản thân? Sau khi chuyển hóa Cái Tâm, để nó không còn khởi những cái Ác nữa, thì quán sát thêm để không trụ vào cả Thiện. Vì cái Chân Tâm như Hư Không, không chứa điều gì hết, dù là Ác hay Thiện.
Tóm lại: PHÁP CÚNG DƯỜNG không phải là giảng pháp để “Độ” cho bá tánh, cũng không phải là nhắm vào những nơi Chùa Chiền, Sư, Tăng, mà Phật dạy là “Công Đức vô lượng” để cúng, như một kiểu đầu tư kiếm lời. Đó là CON ĐƯỜNG ĐỘ SINH. ĐỘ những tư tưởng xấu gọi là Chúng Sinh để nó được Giải Thoát. Còn nếu muốn Bố Thí mà đạt kết quả theo Chánh Đạo thì kinh DUY MA CẬT viết: “Nếu người thí chủ dùng tâm bình đẳng bố thí cho người ăn mày hèn hạ nhất cũng như tướng phước điền của Như Lai, không phân biệt, lòng đại bi bình đẳng, không cầu quả báo, đó gọi là đầy đủ pháp thí vậy”.
Người đời ôm giữ, khuếch trương tài sản thì cho là THAM. Người tu ham Chùa to, Phật lớn, chẳng lẽ không phải là Tham? Hơn nữa, PHẬT LÀ VÔ TƯỚNG, DO VÔ LƯỢNG CÔNG ĐỨC MÀ THÀNH. Đó là nói về sự Giải Thoát trong Tâm của mỗi người, thì cần gì phải có Chùa to để ngự? Đại Thừa hay Phật Giáo Nguyên Thủy đều cho rằng Đức Thích Ca cũng là một con người bình thường như tất cả mọi người, nhờ tu hành mà đạt được Giác Ngộ. Cái Giác Ngộ này được truyền lại để “Tất cả chúng sinh đều là Phật sẽ thành”, Vậy thì lý do gì để chúng ta Thờ Ngài để Cầu Xin mà không Tự Tu, Tự Độ để được giống như Ngài?
Có một số điểm rất quan trọng nhưng nhiều người không để ý, do đó nên hành trái ngược với Ý Phật mà không hay:
   - Nếu Phật muốn mọi ngưởi Thờ Ngài hẳn Ngài đã nói: “Ta là Phật đã thành. Các ngươi phải Thờ ta”. Ngược lại, Ngài bảo: “Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”.
    - Nếu Kinh chỉ cần đọc là hiểu, hoặc không cần đọc Kinh, thì Ngài đã không ca ngợi Phương Tiện và dặn dò phải: “VĂN, TƯ, TU” và cũng không bảo: “Y NGHĨA BẤT Y NGỮ”.
    - Đạo Phật còn được gọi là ĐẠO NHÂN QUẢ. Đã nói Nhân Quả là không Cầu Xin. Đã nói Tự Độ là không nương tựa! Như vậy, nếu ta cứ cầu xin, nương tựa thì liệu có phải là Chân Phật Tử?
Ngoài ra, theo tôi, có những pháp mà Đạo Phật đã giảng dạy cách đây đã gần 3.000 năm, trong lúc buổi đầu thành lập tăng Đoàn, cần ưu tiên dành cho việc học Pháp, để làm nòng cốt. Những việc khác tạm gác lại. Đến thời này rồi, chúng ta cần xét lại cho phù hợp với thực tế. Ai cũng biết, người tu Phật được Phật dạy sau khi tu hành xong còn phải đền Tứ Ân: Ân Cha mẹ. Ân Đất nước. Ân Phật. Ân Thầy. Trong khi xã hội đang rất cần nhiều sức trẻ có tài, có đức gánh vác, mà chúng ta thì đang tuổi trẻ, sức khỏe dồi dào, mà không chịu học hỏi khoa học kỹ thuật để đưa dân tộc, đất nước đi lên, tại sao lại phủi bỏ tất cả để chỉ vô Chùa, tụng Kinh, Niệm Phật? Lẽ nào chúng ta đáp ân đất nước đã cưu mang ta bằng cách bỏ mặc cho mọi người xây dựng, để họ vừa phải đối phó với cuộc sống đầy khó khăn lại còn phải gánh luôn cả ta? Sao có vẻ không công bằng chút nào! Kinh là những lời Phật giảng dạy, giải thích về cách tu, cách hành, lẽ ra mọi người cần “biên, chép, giải nói, rồi Y Pháp Tu hành”, thì không theo đó mà tu sửa, lại chỉ mang ra ê a tụng ngày mấy thời! PHẬT hình thành bằng những cái Hạnh, sao ta không bắt chước, lại niệm Hồng Danh các Ngài thì được lợi ích gì?
Việc CUNG DƯỠNG cho người tu cũng thế. Có lẽ cũng nên xem lại, vì phải chăng việc làm đó chỉ phù hợp với thời mới khai Đạo? Lúc Đức Thích Ca vừa thành lập Tăng Đoàn, chưa có người nắm được yếu chỉ của Đạo để phổ biến. Vì thế, các vị tu hành phải tập trung, không được nghĩ tới việc thế tục để toàn tâm toàn ý học Giáo Pháp mà rao giảng, nên Đức Thích Ca phải dùng phương tiện, nói mọi người Cúng Dường cho người tu hành thì được “Phước Báo vô lượng”. Ngày nay mọi thứ đã được Chư Tổ giải thích rành mạch, được ghi đầy đủ trong Kinh điển, ai cũng có thể nương theo đó mà tu tập, đâu cần phải có người cung dưỡng mới có thể tu, vì “ông tu, ông đắc, bà tu, bà đắc”. Người đắc đạo cũng đâu thể cứu độ cho bá tánh? Hơn nữa, việc nhờ người khác cung dưỡng để tu lại sinh ra một số người lười lao động, ngại gian khổ trà trộn vào đó để lợi dụng Cửa Phật. Thời xưa trong Kinh cũng có viết là có những người “Thổi sáo bầy”, tức là cũng ngậm ống sáo, ngồi chung với đoàn thổi sáo. Ai biết họ có thổi được hay không? Thời nay tu sĩ quá đông mà được bao nhiêu người có Pháp để giảng dạy? Họ cũng đầu tròn, áo vuông như ai. Chính vì vậy mà nước ta thời Phật Giáo cực thịnh Giáo Hội cũng đã tổ chức những cuộc thi để loại khỏi Chùa những phần tử không thật tâm tu hành trà trộn. Ngay thời Kết Tập lần thứ Hai cũng đã loại ra cả 60.000 Tăng giả, huống là hiện nay. Những phần tử đó chính là những “Con trùng trong thân Sư Tử, ăn thịt sư tử”, vì họ chẳng phải là người tu hành chân chính mà chỉ lợi dụng cửa Chùa để hưởng lộc bá tánh, chẳng những làm ô uế cửa Chùa mà còn chồng mê cho Phật Tử, dắt họ vào đường mê tín, dị đoan!
Đạo Phật giảng nói cho nhiều, nhưng cuối cùng chỉ là để người theo hướng dẫn mà hành trì thì sẽ có cuộc sống an lạc, gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn. Nhờ có GIỚI mà Thân, Khẩu, Ý đều thanh tịnh. Không xâm phạm của người khác, nên bản thân người tu và những người chung quanh họ cũng được an ổn. Xem kỹ lại mục đích Tu Phật thì ta thấy tu hành không phải để thành Thánh, Thành Phật, mà chỉ để trở thành một con Người đúng nghĩa mà thôi. Nhờ Quán Sát, Tư Duy, người tu Phật sẽ Biết Cái Thân là Thân Nghiệp báo, nên không để cho nó tiếp tục lôi mình vào đường xấu, tạo thêm nghiệp chướng, trái lại, dùng nó như người đắm tàu, “ôm thây ma để bơi qua biển”. Người tu quán sát các pháp để trân trọng kiếp sống của mình, dù giả tạm, nhưng có thể dùng thời gian hiện hữu để học hỏi con đường Giải Thoát. Chính vì vậy mà Đạo Phật dạy: “Thân người khó đặng”, vì Cái Thân dắt mỗi người tạo Nghiệp để trôi lăn. Nhưng cũng chính nhờ có nó mới học hỏi, tu hành, giúp đỡ mọi người để có kết quả là Sống An, Chết Lành. Kiếp sau nếu có càng tốt đẹp hơn. Hiện tại sống giữa Phiền Não mà không bị nhiễm ô. Đó là sự thành tựu của người tu gọi là Thành Phật hay Giải Thoát, được ví như Hoa Sen vươn lên trong Bùn.
Người tu hành chân chính xem cuộc đời là giả tạm. Vật chất chỉ để cái thân tạm nhờ. Không bám víu vào đó, cũng không tìm cầu để hưởng thụ. Vì thế, xem lại tấm gương của Chư Tổ ngày xưa thì chúng ta thấy các vị rất thanh tịnh, không chất chứa, không dính líu đến tài sản. Cuộc sống họ thật nhẹ nhàng, chỉ xin ăn, được gì ăn đó, để nuôi cái thân tồn tại qua ngày mà tu hành. Họ không cần Chùa to, Phật lớn. Chỉ cần có chút thực phẩm để nuôi cái thân chín lỗ khỏi chết đói, để dành toàn bộ thì giờ mà tu tập. Khi thành tựu thì mồi ngọn đuốc pháp cho bá tánh. Mã Tổ Bách Trượng ngày xưa, cai quản cả một Chùa lớn, nhưng hàng ngày vẫn lao động để trả nợ bữa ăn. Hôm nào đệ tử dấu cuốc đi, Ngải không làm được, thì ngày đó Ngài không ăn. Do đó có câu: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”. Người Tu Phật chính là người đang sống ở trần gian đầy lục dục, thất tình mà không để cho những thứ đó tiếp tục quấy nhiễu, đeo bám như trước. Vậy là họ đã hoàn tất sứ mạng đối với cuộc đời. Cuộc sống thanh đạm, không tích lũy, không làm phiền đến ai. Tự Tu, Tự Độ, tự Giải Thoát. Sống đã Thoát Phiền Não, không gây thêm Nghiệp thì khi bỏ cái Thân đuơng nhiên phải về nơi tốt đẹp, đâu cần phải có Phật nào dắt. Tự mỗi người XẢ bỏ những Tham, Sân, Si, Thương, Ghét, đố kỵ thì đó là Cúng Dường Phật, để cuối cùng, khi hoàn tất sẽ được Giải Thoát hay Thành Phật. Đó là việc mà mọi người đều có thể làm trong mọi hoàn cảnh, đâu cần sắc tướng, nơi chốn, mà lẽ ra nếu không hiểu lầm văn tự thì điều đó phải diễn ra từ rất lâu rồi vậy.
Tháng 4/2014

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 13.7.2014.