Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh của hoạ sĩ Monet - trường phái Ấn Tượng


NỀN HỘI HỌA

CẬN ÐẠI & HIỆN ÐẠI






Trường phái Ấn Tượng

(Impressionism)
Nguyên ủy: Ðây là một phong trào hội hoạ khởi đầu ở Pháp từ thập niên 1860, ảnh hưởng về sau. Trường phái Ấn tượng không phải là một trường phái thuần nhất có chương trình và nguyên tắc được xác định rõ rệt, mà chỉ là một tập hợp những nghệ sĩ liên kết với nhau, do có quan điểm giống nhau và cũng vì mục đích trưng bày tranh của mình. Những họa sĩ trong nhóm nầy làm nổi bật những tư tưởng khác nhau mà các nhà viết sử nghệ thuật sau nầy coi là nét đặc biệt của phong trào nầy. Nhiểu hoạ sĩ có thể được gọi là Ấn tượng trong một giai đoạn sự nghiệp nào đó thôi; một số khác đã bỏ trường phái Ấn tượng một thời gian, sau đó lại quay về với trường phái nầy.
Thời điểm và thành viên của nhóm: Những họa sĩ đầu tiên khởi xướng trường phái nầy phải kể: Monet, Renoir, Sisley và Bazille; họ vốn là những bạn học được đào tạo đầu tiên tại trường của Gleyre vào đầu những năm 1860, và đều bất mãn với chương trình Hàn lâm mang tính chất kinh viện.
Sau đó, họ lại kết thân với các hoạ sĩ khác như Camille Pissaro, Cézanne, Berthe Morisot và Armand Guillaumin. Họ thường họp mặt ở những quán cà phê vùng Montmartre và trong xưởng vẽ chung của Bazille và Renoir. Sau đó, nhóm nầy lại có thêm Degas và Manet. Những cuộc họp mặt của họ còn có thêm nhà phê bình nghệ thuật Théodore Duret và Georges Rivière và nhà buôn tranh Paul Durand Ruel ủng hộ và giới thiệu sâu rộng.
Năm 1873, khi phòng Triển Lãm chính thức từ chối trưng bày tranh của Pissarro, Monet, Renoir, Cézanne và Sisley, họ đã quyết định làm một việc bất thường là tổ chức những cuộc trưng bày độc lập của mình. Tiếng vang khởi đầu từ đó.
Phát triển: Trong cuộc trưng bày đầu tiên tổ chức tháng 4 năm 1874 tại phòng nhiếp ảnh của Nadar (1820-1910) các nghệ sĩ nầy tự nhận là “Hội nặc danh những nghệ sĩ hội họa, điêu khắc và khắc bản”. Nhan đề của một trong những bức tranh của Monet có tựa đề “Ấn tượng - mặt trời mọc “Musée marmottan – Paris) đã gợi ý cho nhà báo Louis Leroy gán cho cả nhóm của họ là “Họa sĩ Ấn tượng”; cái tên đã được đặt ra lúc đầu là để “chế giễu”, nhưng sau đó được chính họ chấp nhận cho khuynh hướng hội họa của mình. Có cả thảy 8 cuộc triển lãm của những hoạ sĩ Ấn tượng tuần tự khai diễn vào những năm 1874, 1876, 1877, 1879, 1880, 1881, 1882.
Và tên “Ấn tượng” đã không được dùng trong những cuộc triển lãm lần thứ nhất, lần thứ tư và lần cuối cùng. Những cuộc triển lãm không chỉ dành riêng cho những họa sĩ thành viên trong nhóm. Sau khi trưng bày triển lãm lần thứ tám, thì nhóm tan rã, và Monet là hoạ sĩ duy nhất còn đeo đuổi những lý tưởng ấn tượng một cách kiên trì nhất.
Quan điểm chung: Nói chung, trường phái Ấn tượng chống lại phương pháp đào tạo theo kiểu Hàn lâm ở những trường Mỹ thuật thời đó. Họ cũng chống lại những nguyên tắc cơ bản của hội hoạ lãng mạn, nhấn mạnh: Mục tiêu chủ yếu của truyền đạt nghệ thuật là truyền đạt xung động cảm giác của nghệ sĩ, còn việc ghi nhận thiên nhiên chỉ là thứ yếu. Do chống lại quan niệm nầy, họ thường có cảm tình với trường phái Hiện thực, khi cho rằng: “Trạng thái cảm xúc của nhà nghệ sĩ chỉ là thứ yếu; mục tiêu chính yếu là “ghi nhận một phần thiên nhiên hay cuộc sống, với tinh thần khách quan và khoa học”.
Họ gạt bỏ nghệ thuật tưởng tượng, trong đó có đề tài lịch sử vì đó là chuyện quá khứ, chú trọng nhiều đến sự ghi nhận khách quan kinh nghiệm đương đại và thực tiễn. Tuy nhiên, quan điểm của họ khác hẳn với quan điểm của trường phái Hiện thực xã hội. Mục tiêu của họ không phải là cải tại xã hội; họ thấy không xứng đáng gì khi thể hiện sự dung tục và xấu xa, mà khuynh hướng xã hội nầy thích phơi bày để tuyên truyền chính trị.
Thể tài, kỹ thuật: Trong những giới hạn quy định như vậy, đề tài quy định của họ lại khác nhau rất nhiều. Chẳng hạn: Renoir thích vẽ những người đàn bà đẹp và tươi trẻ một cách thích thú; Sisley, Pissarro và Monet chủ trọng đến phong cảnh hơn hết. Với Degas, phong cảnh không mấy hấp dẫn, những lại hướng về những hoạt cảnh như đua ngựa, ca múa, hoạt cảnh của những cô gái đồng quê.
Tham vọng thu bắt ấn tượng thị giác tức thì, thay vì những khía cạnh nhàm chán xẩy ra hằng ngày đã khiến cho những hoạ sĩ ấn tượng đánh giá rất cao về sự tìm tòi sinh hoạt ngoài trời, hoàn tất bức tranh ngay tại chỗ, trước khi điều kiện ánh sáng thay đổi. Họ không vẽ bóng bằng màu xám hay màu đen, mà bằng màu bổ túc cho màu đối tượng. Do hủy bỏ đường viền, đối tượng của khuynh hướng hội họa nầy mất vai trò trọng tâm; như thế, tranh Ấn tượng đã trở thành những bức tranh vẽ ánh sáng và bầu không khí, lợi khí để những hoạ sĩ Ấn tượng trở tài vận dụng những màu trực tiếp và màu phản chiếu.
Những tranh luận: Lúc đầu, tranh Ấn tượng chỉ được người thưởng ngoạn tiếp đón với sự hoang mang hay hoài nghi. Báo Figaro viết về cuộc triển lãm của nhóm nầy năm 1876 như sau: “Năm nay, có sáu kẻ điên, trong đó, có một phụ nữ, một tập hợp những kẻ bất hạnh nhuốm màu tham vọng điên rồ, đã họp mặt tại đây để trình bày những tác phẩm của họ. Thật là một cảnh tượng kinh hoàng, khi tính hợm hĩnh của con người lan tới ranh giới của những kẻ điên khùng. Phải có một người nào đó đến bảo cho ông Pissarro biết rằng cây cối không bao giờ có màu tím, bầu trời không bao giờ có màu bơ tươi, trên đời nầy không bao giờ có những thứ mà ông ta vẽ cả...”
Khi viện sĩ Hàn lâm J. L. Gérôme hướng dẫn Tổng thống Loubet thăm cuộc triển lãm năm 1900 ở Paris, khi dừng lại ở phòng trưng bày những hoạ phẩm Ấn tượng đã nói: “Xin Tổng thống dừng chân, vì đây là chỗ làm ô danh nước Pháp”.
Tuy nhiên, trong thực tế thì lại khác. Nhà buôn tranh của nhóm nầy là Durand Ruel gặt hái những thành công to lớn vào những năm cuối của thập niên 1880, đặc biệt là phong trào chơi tranh tại Hoa Kỳ. Năm 1891, cuộc trưng bày tranh của Monet tại Paris, chỉ trong 3 ngày là bán sạch hết.
Ảnh hưởng: Ảnh hưởng của trường phái Ấn tượng rất lớn, và phần lớn lịch sử nghệ thuật hội hoạ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, là lịch sử phát triển của trường phái nầy hay phản ứng của nó. Sau đó, sự tiếp nối của nó qua một ngõ khác: các họa sĩ Tân Ấn tượng đã cố đặt những nguyên tắc “quang học” của trường phái Ấn tượng trên cơ sở khoa học; họ bắt đầu một loạt vận động lâu dài, nhằm giải phóng màu sắc và đường nét khỏi những chức năng thể hiện đơn thuần, và đã quay trở lại những giá trị cảm xúc và tượng trưng mà các họa sĩ Ấn tượng trước kia đã bỏ quên, khi tập trung vào cái thoáng qua và sự tình cờ khi bắt gặp.

Thời kỳ Hậu Ấn tượng

Danh xưng: Như trình bày ở trên, chủ nghĩa ấn tượng (trong hội hoạ) đã đánh dấu một khúc quanh không thể đảo ngược, đến nỗi mọi khuynh hướng hội hoạ đi sau nó được xem là “Hậu ấn tượng”. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, các họa sĩ Tây Phương đã tìm cách thể hiện theo chiều hướng nầy, không chỉ “cái họ quan sát”, mà cả “cái họ cảm thấy”, vì từ đó trở đi, nghệ thuật tự do diễn đạt cảm xúc cũng như thực tại vật chất.
Trong trường hợp nầy, chủ nghĩa Hậu ấn tượng không phải là một phong trào thật sự, vì các hoạ sĩ liên quan không bao giờ nhắm đến hay biết đến danh hiệu nầy. Ðó là nhận định của người đời sau. Danh từ “Hậu ấn tượng” do nhà phê bình Roger Fry (1866-1936) người Pháp, đã đặt ra, để chỉ một số họa sĩ (phần lớn là hoạ sĩ Pháp) xuất hiện sau phong trào Ấn tượng, nhưng lại theo những quan điểm khác nhau. Những hoạ sĩ nầy tìm cách vượt qua những giới hạn của trường phái Ấn tượng, và vì thế, đã dấn thân vào nhiều con đường khác nhau. Roger Fry đã đặt ra danh từ nầy làm tiêu đề cho một cuộc tiển lãm của Manet và các họa sĩ Hậu ấn tượng tổ chức cuộc triển lãm ở Grafton Gallery, London, năm 1910. Trong cuộc triển lãm nầy, những tranh nổi tiếng của Cézanne, Gauguin và Van Gogh chiếm ưu thế.
Những tài năng nổi bật của thời kỳ Hậu ấn tượng phải kể đến Paul Cézanne (1839-1906) Van Gogh (1835-1890) Toulouse Lautrec (1864-1901).

Trường phái Biểu hiện

(Expressionism)
Ðịnh nghĩa: Trường phái Biểu hiện hay Phong cách Biểu hiện là một thuật ngữ về lịch sử nghệ thuật hay phê bình, dùng để chỉ nghệ thuật trong đó, những tư tưởng có tính truyền thống theo chủ nghĩa Tự nhiên bị gạt bỏ, thay vào đó là cách thể hiện theo cảm xúc riêng của từng tác giả.
Kế thừa và phát triển mỹ học của Kant, chủ nghĩa Biểu hiện trở thành một khuynh hướng mỹ học và lý luận nghệ thuật tiêu biểu khởi đầu cho thế kỷ XX, bao gồm những tên tuổi của các học giả Anh: Robin George Collingwood, Bernard Bosanquet, Edgar Curritt, nhưng tiêu biểu hơn hết là học giả người Ý, Benedetto Croce.
Xuất xứ: Trường phái nầy là kết quả của sự gặp gỡ giữa 2 dòng nghệ thuật khác nhau: Một mặt, khuynh hướng toàn cầu về năng lực cảm nhận nghệ thuật, trong đó, hội họa thể hiện thực tại chỉ là phương tiện diễn đạt trong cảm xúc; mặt khác, trường phái nầy chối bỏ hẳn những ảnh hưởng của phong cách Kinh viện và xu hướng Ấn tượng. Về hội họa, những tài năng báo trước cho trường phái nầy phải kể đến Vincent Van Gogh (1853-1890) , Ferdinand Hodler (1853-1918), Edward Munch (1863-1944), James Ensor (1860-1949) từng thể hiện tâm trạng đau buồn khốc liệt của mình... hay của hoạ sĩ Ensor, theo bước chân của Bruegel vá Bosh, đã pha trộn thái độ nhạo báng với những nét độc đáo trong tác phẩm của mình. Những tài năng nầy đã gây ảnh hưởng không ít, để trường phái Biểu hiện được hình thành và phổ biến, hình thành trên nhiều lãnh vực khác nhau.
Theo nghĩa rộng, danh từ nầy dùng để chỉ nghệ thuật của thời kỳ nào hay địa phương nào đặt vào nhận định chủ quan hơn là quan sát khách quan thế giới ngoại giới. Khi dùng theo nghĩa nầy thì thường không viết hoa. Nhưng danh từ nầy được dùng thường hơn, để chỉ một khuynh hướng nghệ thuật hiện đại ở châu Âu, và đặc biệt hơn, một khía cạnh của khuynh hướng đó - một phong trào có sức lấn át hơn hết trong nền nghệ thuật Ðức - từ năm 1905 cho đến năm 1930.
Ảnh hưởng: Trường phái Biểu hiện tác động nhiều nhất trong vùng chịu ảnh hưởng văn hoá Germain: Ðức, Áo, Phổ, Bắc Âu, Bỉ, Hà Lan, Ðan Mạch... Họ thường chịu những ảnh hưởng của phong cách Baroque (Dị điển) trước đây mà trong đó đã tàng ẩn những yếu tố “biểu hiện; mặt khác, cũng đã do ảnh hưởng triết học Ấn tượng của Nietzche. Ngoài ra, ảnh hưởng xã hội đầu thế kỷ XX cũng không ít: những mâu thuẫn giữa tình hình xã hội – kinh tế đảo lộn quá nhanh chóng, tàng tích cũ bị khước từ, sanh khí của tầng lớp trẻ đang lên, hăng say hơn bao giờ hết.
Theo nghĩa nầy thì trường phái Biểu hiện có nguồn gốc từ những năm 1880, nhưng lúc đó, nó chưa được đúc kết thành một cương lĩnh rõ rệt trước năm 1905. Trên một lãnh vực khác, thuật ngữ Biểu hiện cũng chưa được dùng trước năm 1911, để mô tả một cuộc triển lãm tranh tập hợp các họa phẩm của phái Dã thú và phái Lập thể ở Berlin.
Những phong trào khai sinh: : Trường phái Biểu hiện ra đời trong tình hình phát triển sôi nổi của những phong trào “ly khai” với quá khứ, lại gắn liền với chiều hướng “Tân Nghệ Thuật”. Trước tiên, nhóm “Cây Cầu” (Die Bruche) của các họa sĩ Ðức thành lập tại Dresde, do Kichner, Pechstein cầm đầu; tiếp đó là ảnh hưởng của nhóm “Ly Khai Mới” của Greorg Tappet và Pechstein, nhóm “Tân Liên Hiệp Nghệ Thuật” (Neue Kunstler vereinigung) do Kandinsky chủ đạo.
Ảnh hưởng sâu sắc nhất trong giai đoạn thành hình của trường phái nầy là Nhóm Khách quan mới (Neue Sachlichkeit) do Otto Dix và Franz Roth lãnh đạo, với những bài viết giới thiệu và cổ xuý “Trường phái Biểu hiện - Hiện thực kỳ ảo” (1907), đã đánh dấu cho sự ra đời của trường phái nầy.
Không mấy khi trong lịch sử nghệ thuật thế giới có được một cuộc tập hợp lớn lao như vậy.
Chính không khí sinh hoạt nầy đã giúp cho trường phái Biểu hiện ra đời. Họ cũng đã kết tụ được các trào lưu đó, đồng thời lan tràn nhiều nước ở vùng Tây Âu. Nhìn chung, có 3 yếu tố chính của trường phái Biểu hiện (a) tiếp nối truyền thống Baroque, (b) biểu trưng cho tính gợi cảm trong nghệ thuật, (c) chịu ảnh hưởng của khoa Phân tâm học của Freud.
Biểu hiện mới: Những ảnh hưởng tàn khốc do cuộc Thế chiến thứ nhất gây nên đã tạo thêm nhiều ấn tượng của nghệ thuật Biểu hiện. Sau 1918, trường phái nầy nhân đó đã có sức bật mới. Ðợt khủng hoảng xã hội và tinh thần, do cuộc chiến nầy gây ra, làm xuất hiện một khuynh hướng “Biểu hiện mới”. Họ thường nêu lên những mặt bi quan, phẫn nộ, chỉ trích xã hội và chính quyền gay gắt hơn. Ðó là khuynh hướng “Biểu hiện thần kỳ” do Beckmann đề xướng. Ngay sau đó, các họa sĩ Tây Phương lập ra nhóm “Khách quan mới” do Dix và Grosz, với những thể tài táo bạo, tàn nhẫn, màu sắc đen tối và sức biểu cảm mạnh mẽ hơn.
Phạm vi hoạt động: Thoạt đầu, trường phái Biểu hiện được phát triển trong ngành hội họa và điêu khắc, đồ họa tại kinh thành Vienne, của những thiên tài Egon Schile (1890-1918), Oskar Kokoschka (1886-1980), với những cuộc triển lãm tranh khắp vùng ảnh hưởng của ngôn ngữ Germain.. Nhưng chẳng bao lâu, nhiều ngành hoạt động văn học nghệ thuật khác cũng chịu ảnh hưởng theo, tùy cách biểu đạt của mình.
Về văn học: Năm 1910, Walden cho xuất bản tạp chí văn học “Cuồng phong” (Der Sturm), trong đó đưa ra những nét chính về cương lĩnh trường phái Biểu hiện trong các lãnh vực khác nhau. Cũng trên tạp chí nầy, sự đóng góp của những nhân vật tiêu biểu các ngành ngày càng phong phú. Ðây là cơ quan ngôn luận chính thức của trường phái Biểu hiện, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ðể khai triển phần lý thuyết, lại có thêm tạp chí “Hành Ðộng” (Die Action), do Plemfert làm quản nhiệm. Chính phần triển khai trường phái Biểu hiện trên tạp chí nầy đã mở rộng nhận thức và ý thức hệ của trường phái rộng hơn.
Ngay sau đó, một nhóm thi sĩ hưởng ứng, lập thi đàn, Jakob van Hoddis công bố “Bản Tuyên Ngôn Thơ Biểu hiện” có tên là “Tận thế” (Weltende). Theo họ, những gì cần hủy hoại, loại trừ quá khứ, thì để cho xã hội triệt tiêu.
Về sân khấu: Ðây cũng là hình thức phổ biến sâu rộng ý nghĩa của trường phái Biểu hiện. Nhà văn Sorge soạn vở kịch “Người hành khất” (Der Bettler), đạt thành tựu lớn. Loại kịch nầy nhân đó được khai triển mau lẹ. Nhà hát Ðại Chúng (Volksbuhne) (1924) và nhà hát Bình dân (1925) được dựng lên được hoan nghênh. Các kịch phẩm của Toller và của Erwin Piscator đã nêu lên những tiêu điểm sáng tạo của trường phái Biểu hiện.
Về âm nhạc: Tuy là ngành khó thực hiện rõ nét của phong cách Biểu hiện, nhưng với những cố gắng, cũng thành công lớn. Các thiên tài âm nhạc trong giai đoạn nầy phải kể đến Schoenberg và Allban Berg, mà phần lớn công trình của họ hướng về Opera nhiều hơn.
Về điện ảnh: Trong khoảng thời gian từ 1912 đến 1926, điện ảnh châu Âu đã giành một phần lớn cho những cuốn phim viết theo trường phái nầy. Những tác giả nổi tiếng phải kể đến: Max Reinhardt, R. Wiene, Franz Murnau, Fritz Lang. Những bộ phim nổi tiếng của trường phái nầy thời đó phải kể đến: Hòn đảo cực lạc, Phòng khám của bác sĩ, Con ma cà rồng, Metropolis, Golem...
Ðây là một trong những phương cách sử dụng khả năng kỹ thuật, có tác động biểu cảm mạnh mẽ nhất, để truyền đạt tính chất “Biểu hiện”.
Ngoài ra, trường phái nầy còn có những tác động khác: chẳng hạn như tại Mexico, trường phái “Vẽ tranh tường” (của nhóm Orozco, Siquerios, Tamayo) của thập niên 1910, từ cuộc cách mạng 1911 tại đây chính là cách hoà nhập giữa nghệ thuật dân gian và trường phái Biểu hiện.
Trường phái Biểu hiện, với những khả năng phát triển đa dạng của mình, để xuất hiện xâm nhập vào nhiều mặt trận văn hoá khác nhau, lan ra ngoài khu vực ảnh hưởng ban đầu là khu vực địa lý Germain. Ngay cả Hoa Kỳ và châu Mỹ La Tinh cũng được xâm nhập. Trong các ngành, hội hoạ Biểu hiện phát triển mạnh nhất. Nhìn chung, Georges Rouault và các hoạ sĩ trường phái Paris trong thập niện 1920 (nhất là nhóm Soutine, Chagall, Pasein, Kisling) một số tác phẩm chống chiến tranh của Picasso (bức tranh Guernica)... đã tiêu biểu rõ nét nhất.
Những nghệ sĩ Do Thái lưu vong, trong thân phận biệt xứ, đã tham gia tích cực, gây ảnh hưởng lớn, trong số các nhóm khác. Họ hoạt động nhiều tại Hoa Kỳ. Tiêu biểu là trường “Ashcan Scholl” (Khốn cùng), sinh hoạt tại New York, đã khai triển khuynh hướng của trường phái nầy bên kia bờ đại dương. Cứ theo chiều hướng nầy, trong văn hoá, nghệ thuật Hoa Kỳ sau 1945, trường phái Biểu hiện của trường phái Pollock (New York) vẫn còn được thịnh hành, cho đến nay.
Nhìn chung lại, trường phái Biểu hiện không chỉ là hiện tượng khai thác chiều sâu thẳm về tâm linh và tinh thần con người, mà còn chống lại những kiểu tuyên truyền chính trị, xã hội, như của trường phái hiện thực xã hội chủ nghĩa một thời gây loạn động tại Nga.

Trường phái Biểu tượng

(Expressionism)

Ở vùng Bắc Âu, sự tán dương màu sắc của các hoạ sĩ Dã thú đạt tới những mức độ cảm xúc và tâm lý mới. Đó là chủ nghĩa Biểu tượng. Trường phái nầy phát triển ở nhiều nước, nhất là ở Đức, bắt đầu năm 1905. Đặc điểm của trường phái nầy là sự nhấn mạnh ở tính cách trừu tượng của màu sắc và hiệu quả hình thể. Trường phái nầy lấy cảm hứng ở những khía cạnh đen tối nhất trong tâm lý con người. Từ chủ nghĩa Biểu tượng trong văn học nghệ thuật, có thể áp dụng những hình thức nghệ thuật khác nhau, nhưng theo nghĩa rộng nhất, nó chỉ bất cứ nghệ thuật nào xem trọng cảm giác chủ quan hơn sự quan sát khách quan. Vì lẽ nầy, nghệ sĩ tìm cách ghi lại những trạng thái tâm hồn của mình, những diễn tiến nội tâm hơn là thực tiễn của ngoại giới.
Georges Rouault (1871-1958): Mặc dù ông theo trường phái Biểu tượng đã phát triển từ đặc điểm riêng của Đức, họa sĩ Pháp Georges Rouault cũng biết kết hợp những hiệu quả trang trí của chủ nghĩa Dã thú cùng với tính chất tượng trưng của màu sắc củc chủ nghĩa Biểu tượng Đức. Được đào tạo từ xưởng vẽ của Gustave Moreau như Matisse, Rouault cũng trưng bày tác phẩm của mình chung với các họa sĩ Dã thú, nhưng cách phổ màu và chủ đề của ông đã báo trước cho ngã rẽ khác: chủ nghĩa Biểu tượng. Những nhà phê bình khi nói về những tác phẩm của Rouault thì gọi là "Chủ nghĩa Dã thú với những cặp kính đen". Thấm nhuần tôn giáo sâu xa, Rouault bắt đầu sự nghiệp ở xưởng của một người thợ thủy tinh làm nghề phục chế kính màu cổ, việc đó có lẽ là cảm hứng cho những nét sẫm màu làm nổi các nhân vật của ông. Nếu ông tỏ ra đặc biệt ưu ái những con người bị sa cơ lỡ vận, những cô gái giang hồ, những anh hề sân khấu mà ông mô tả không chút nể nang; ngược lại ông cũng không phê phán họ, chỉ nhìn họ với nhiều thương xót. Bức tranh "Khoả thân trước gương" là sự tố cáo mạnh mẽ tính tàn ác của con người. Cô gái điếm nầy là hình ảnh nhại lại của nữ tính, phải tìm lối sống trong xã hội tàn khốc nầy. Nhưng một hình ảnh như vậy lại không mang tính chất bi quan mà hướng về nhân ái, vị tha, đồng loại hơn. Đó là tinh thần sâu sắc nhất trong loại tranh của Rouault.
Tại Đức, trường phái Biểu tượng được hình thành với nhóm họa sĩ "Dir Brucke" (cây cầu). Trường phái nầy ra đời tại Dresde năm 1925 và suy thoái vào 1926. Những hoạ sĩ Biểu tượng Die Brucke lấy cảm hứng từ Van Gogh, Gaugin và nghệ thuật nguyên thủy, đúng hơn là sự phối hợp khéo léo của 3 nguồn sáng tác đó.
Kirchner: Người đứng đầu trong trường phái Biểu tượng tại Đức là Ernest Ludwig Kirchner (1880-1938), muốn lấy nghệ thuật Đức làm "cây cầu" nối với tương lai. Với ông, chủ nghĩa Biểu tượng chính là "sự thể hiện niềm tin sâu xa một cách thành thực và tự nhiên".
Ngoài Kirchner, nhóm nầy còn có Erich Heckel (1883-1970)Karl Schmidt Rottluff (1884-1976). Quan trọng là sự phóng túng. Ngay cả khi gay gắt nhất, các họa sĩ Dã thú cũng giữ một cảm thức nhất định về bố cục, nhưng với những họa sĩ Biểu tượng thì từ khước những ràng buộc như thế. Họ thường sử dụng những hình ảnh của thành thị hiện đại để cho ta ảo ảnh của một thứ "thế giới đầy thù địch". Từ đó, họ sử dụng tài tình sự lạc điệu giữa hình thể và màu sắc để cực tả. Điều nầy thấy rõ trong bức "Cảnh đường phố Berlin" của Kirchner; ở đây, sự cuồng nhiệt của tranh như tấn công thẳng vào chúng ta.
Biểu tượng dần dà chuyển hướng. Đó là những sáng tác của Emil Nolde (1867-1956) từng cộng tác trong thời gian ngắn với nhóm nầy, trở thành một họa sĩ Biểu tượng sâu sắc hơn. Sở thích của ông là tìm về nghệ thuật nguyên thủy và màu sắc gợi cảm. Do đó, ông đã vẽ những bức tranh tuyệt vời, có năng lực thôi thúc mãnh liệt. Bức tranh "Hoàng hôn" cho thấy một cảm thức điều độ về sức căng của màu sắc. Nhưng hoàn cảnh tại Đức không cho phép bành trướng thêm. Khi Hitler lên nắm quyền vào 1933, bộ máy tuyên truyền của Đức Quốc Xã đã liệt tất cả những tác phẩm nào không nói lên được ý thức hệ chủng tộc Aryens đều liệt vào loại "nghệ thuật suy đồi". Nhóm nầy chung số phận đó. Hitler còn làm nhục mạ hơn. Y cho tổ chức một cuộc triển lãm tại Munich năm 1937, treo những bức tranh của Van Gogh, Picasso và Matisse, bị bọc khỏi khung, treo nghiêng ngữa chung với những bức tranh của những người điên vẽ. Bị bêu xấu đến thế, Kirchner tự sát ngay sau đó. Nhiều nghệ sĩ khác bị lùa vào tại tập trung. Tại Áo, trường phái Biểu tượng cũng phát triển mạnh mẽ. Những hoạ sĩ tiêu biểu của trường phái nầy phải kể đến: Egon Schiele (1890-1918), Oskar Kokoschka (1886-1980).
Schiele chết lúc 28 tuổi, từng sống qua những ngày khốn khổ thời thơ ấu và thanh xuân cho nên dấu ấn của tinh thần tự kỷ trung tâm đau đớn thể hiện sâu sắc trong tác phẩm. "Chân dung khoả thân tự hoạ" là sự bộc bạch thống thiết thân phận mong manh của chính mình. Con người trơ xương đó hầu như không cho rằng mình là một sinh vật hoàn toàn cá biệt. Thân thể của anh ta có một đường viền trắng sáng cho thấy anh ta ý thức được sự giam hãm và giới hạn của mình. Cánh tay dường như mất đi, bắt đầu từ khuỷu tay trở ra, biểu thị sự bất toàn, dở dang, chơi vơi với tiềm năng trong tương lai. Nhưng dù tự kỷ thế nào đi chăng nữa, nhãn quan của họa sĩ cũng biểu lộ tất cả những lo sợ tràn ngập tâm hồn con người biểu trưng cho cả thế hệ trẻ.
Còn Kokhoschka thì khác. Ông viết: "Tôi tiếp nối di sản trường phái Dị điển (Baroque), với niềm vô thức: đó là Biểu tượng!". Trong tranh, ông coi thường sự hài hoà, mà lại nhấn mạnh đến sự quan trọng của quan niệm. Toàn bộ nghệ thuật của ông mang dấu ấn của một cường độ ý niệm cao. Ông yêu say đắm Alma Mahler, vợ góa của nhà soạn nhạc Áo nổi tiếng. Yêu cả trong mộng mị. Vì thế, khi thể hiện bức tranh "Hôn thê", ông thốt: "Alma hãy ngủ yên đi, trong khi mình ta tơi tả, rã rời, hấp hối!". Nhưng lại là kiệt tác của trường phái Biểu tượng. Nhìn chung, tất cả các họa phẩm trường phái này thực hiện trong những nghịch cảnh.

Trường phái Đa đa

(Dadaism)

Khai sinh của phong trào: Ða đa là một phong trào văn học nghệ thuật (nhất là hội hoạ) phản kháng dữ dội của các nghệ sĩ và các nhà văn Âu Mỹ, chống lại sự tự mãn, trong đó, những sức mạnh sáng tạo nghệ thuật được hướng vào việc chống lại nghệ thuật. Phong trào nầy sinh ra do tâm trạng vỡ mộng vì ảnh hưởng của Ðại chiến thế giới lần thứ nhất, mà một số nghệ sĩ thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau đã phản ứng lại một cách mỉa mai, cay độc, thậm chí với những tư tưởng vô chính phủ nữa. Qua những thể hiện của họ, cái phi lý và tư tưởng phản kháng là hai điểm nổi bật nhất.
Vào thời Đệ nhất thế chiến, tình trạng Âu Châu vô cùng rối ren, về mặt tư tưởng cũng như xã hội có những thay đổi sâu sắc. Kết quả chiến tranh đã gây bao nhiêu đau thương, tang tóc. Con người trong thời nầy đã không còn tin ở giáo lý, luật pháp, chính quyền của xã hội nữa. Văn nghệ sĩ là những người nhạy cảm, một số đã rời quê hương mình, đến nước trung lập Thụy Sĩ.
Trong số nầy có nhà thơ Roumanie Tristan Tzara, họa sĩ Pháp Jean Arp, nhà văn Đức Hulsenbeck. Họ thường tập hợp tại quán Voltaire, quyết định thành lập một trường phái nghệ thuật với mục đích chống chiến tranh. Họ nghĩ ra cách để chế nhạo, phỉ báng chủ nghĩa cơ giới, chê bai hội hoạ, phủ nhận chức năng của nghệ thuật. Nhìn chung, họ chống những gì xã hội xây dựng từ trước.
Về danh xưng: Muốn đặt một cái tên vô nghĩa cho hợp với chủ trương của phái nầy, nhóm nghệ sĩ nói trên mới lấy cuốn tự điển, nhằm trang hai cột chữ "Ða"; tất cả đồng ý lấy chữ "Ða-đa", không có nghĩa gì hết, đặt cho tên của trường phái mình. Theo một trong những cách giải thích phổ biến nhất về nguồn gốc của danh xưng nầy (tiếng Pháp dùng để chỉ con ngựa đồ chơi của trẻ con) thì danh từ “Ða-đa” đã được chọn bằng cách thọc một con dao vào giữa những trang một quyển tự điển: điều nầy dùng để biểu hiện thái độ chống tinh thần duy lý của phong trào đối kháng nầy. sau đó, các nghệ sĩ theo phong trào Ða-đa đã đi tới mức cực đoan trong việc dùng các trò hề và những thái độ khiêu khích để trêu chọc và đả phá thái độ tự mãn của công chúng về các giá trị cổ truyền.
Những người hưởng ứng: Duchamp tại Detroit, Picabia tại New York. Họ ra tuyên ngôn về trường phái Đa-đa, dùng nhiều câu vô nghĩa để chế giễu thi ca. Tristan Tzara viết bài "Cuộc phiêu lưu của ông Antipyrine" (tên thuốc cảm cúm) dùng làm tuyên ngôn của Đa- đa. Hoạ sĩ Marcel Duchamp vẽ lại tranh "La Joconde" của Leonard de Vinci, thêm ria mép hình mỹ nữ để chế giễu một tác phẩm danh tiếng. Duchamp còn lấy một cái bình tiểu tiện ban đêm, lấy tên là "Suối nước" , ký tên là Mutt gửi đi triển lãm ở New York. Theo lý luận của Duchamp thì "ai cũng có thể là nghệ sĩ, vật gì cũng có thể là tác phẩm nghệ thuật".
Những họa sĩ tham gia trong trường phái Đa đa phải kể: Apollinaire, Marinetti, Picasso, Modigliani, Kandinsky. Tháng 3/1917, một Gallery của trường phái Đa-đa ra đời ở Bahnhofstrasse. Tháng 7/1917, cuốn sách đầu tiên của trường phái Đa-đa được xuất hiện do hai hoạ sĩ Đa-đa thực hiện là Tzana Do Janko và Hans Arp. Một đoạn viết về lịch sử của trường phái Đa-đa do Huelsenbeck công bố (7/1920) ở Hanover cho rằng: "Trường phái Đa-đa họp tại quán Voltaire tập trung các nghệ sĩ nhạy cảm với sự phát triển những cách thể hiện mới".
Trường phái nầy có những liên hệ với các trường phái khác đặc biệt là phái ấn tượng. Huelsenbeck và Ball giúp cho chủ nghĩa ấn tượng phát triển tại Đức; Kandinsky lập một sân khấu cho trường phái ấn tượng ở Munich. Hans Arp thì quan hệ với Picasso và Braque những người lãnh đạo trường phái lập thể. Tristan Tzara, một người theo chủ nghĩa dân tộc lãng mạn, ca ngợi trường phái Đa-đa tại Roumanie. Nhưng phong trào nầy cũng chỉ nhóm lên trong thời gian ngắn (1917-1922). Tờ báo của Đa- đa chỉ xuất bản được 3 số thì đình bản. Những việc làm có tính cách "miệt thị" như Duchamp đã khiến mọi người chán ngấy. Một khi quần chúng đã không còn thích những trò chơi "lố lăng, nhàm chán" lâu ngày cũng chán ngán. Năm 1922, trò khôi hài Đa-đa cũng chấm dứt.
Viết về trường phái Đa-đa và ảnh hưởng của nó, giáo sư Hebert Read (trong Lịch Sử Hội Họa thế kỷ XX) cho rằng: "Trường phái Đa-đa là hoạt động cuối cùng của cuộc giải phóng và tham gia vào trọng trách mà Picasso, Braque và cả Leger đã nêu ra, và nó đã cung cấp một "cái súng cao su đang căng ra" cho một thế hệ họa sĩ mới". Trường phái Đa-đa đã bị lãng quên sau 1922, tuy nhiên nó đã tạo ra một lực đẩy và xác định một khuynh hướng đối với sự phát triển của nghệ thuật phương Tây.
Bành trướng: Từ năm 1915, phong trào đã đột phá mạnh mẽ tại Zurich. Và chỉ trong một thời gian ngắn, do sự cổ súy của Tristan Tazra và Hans Arp, phong trào đã nhanh chóng lan đến Barcelona, Berlin, Paris và New York, với tinh thần phản chiến mãnh liệt. Hoa Kỳ trở thành một trong những môi trường ươm trồng cho phong trào nầy, do ảnh hưởng truyền bá của Marcel Duchamp, Francis Picabia và Man Ray. Một động lực khác nữa là nhà văn Picabia, đã trở thành đầu cầu nối phong trào nầy ở châu Âu và châu Mỹ, mà trước đó đã hoạt động riêng rẻ với nhau. Ðể truyền bá nhanh hơn, họ dùng cơ quan ngôn luận, lấy tên là “291”, với những ấn bản khác nhau phổ biến từ 1917 đến 1921 tại Barcelona, New York, Paris và Zurich. Những chi nhánh khác cũng nhanh chóng được tổ chức lại Áo, Bỉ, Hà Lan. Ðược tiếp đón nồng nhiệt nhất những hoạ phẩm của trường phái Ða-đa được triển lãm tại Paris vào mùa hè 1922.
Những ảnh hưởng: Thoạt đầu, phong trào Ða-đa chỉ hoạt động riêng rẻ, đơn độc và không chấp nhận bất cứ một khuynh hướng nào khác. Nhưng về sau, theo Tristan Tzara, họ đã tìm cách liên kết với nhiều trường phái khác, về phương pháp cũng như về nội dung, miễn là “thực hiện triệt để những kẻ hiếu chiến”. Về phương diện nầy, họ chịu ảnh hưởng và liên hệ chặt chẻ nhất với trường phái Vị lai (Futurism).
Mặt khác, họ cố tạo ra những sắc thái đặc thù trong nghệ thuật. Riêng trong lãnh vực hội họa và trang trí, họ phát huy các kỹ thuật về loại tranh lắp ghép và tranh dán tường (của trường phái Lập thể). Còn về thi ca, họ thường dùng những bài thơ “vô nghĩa lý” để chỉ trích những kẻ hành động hiếu chiến, thiếu lương tâm.
Biến thể của phong trào: Như đã trình bày, Ða-đa là con đẻ của phản chiến. Chiến tranh chấm dứt, họ mất đối tượng để tấn công. Thành thử, họ quay sang đường hướng khác. Chẳng hạn: những tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng của phong trào nầy là Grosz và Heartfield ở Ðức thì quay sang lãnh vực xã hội và chính trị nhiều hơn. Chính hai nhà văn nầy đã mở đường cho trào lưu “Khách Quan Mới” (Neue Sachlichkeit).
Tại Pháp, phong trào văn học Ða-đa vẫn cố giữ nguyên dạng: Phong trào vẫn tiếp tục quan tâm đến chủ trương của mình về khuynh hướng về “cái phi lý” và “cái kỳ quái”. Hai chủ đề nầy đã giúp cho sự khai sinh ra chủ nghĩa Siêu thực. Trong những công trình sáng tác của họ, kỹ thuật sáng tạo của họ đòi hỏi phải thể hiện được “sự ngẫu nhiên” và “sự bất ngờ”, cốt là để gây những chấn động mạnh về tâm lý của người thưởng ngoạn. Ở hai trọng điểm nầy, chính họ đã mở đường cho Trường phái Khái niệm (Conceptual Art), mà tiêu biểu là những họa phẩm của Joseph Kosuth.
Trên thực tế, trường phái Ða-đa vẫn chưa hẳn là biến mất, do hoàn cảnh xã hội mới. Những nghệ sĩ nầy chỉ thay đổi cách nhìn và cách thực hiện. Có nơi, biến thành phong trào “Tân Ða-đa” như tại Hoa Ký, do điêu khắc gia Junk chủ trương.

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 29.6.2014.