TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




NGUYỄN MAN NHIÊN



. Tên thật: Nguyễn Viết Trung

. Sinh năm 1956 tại Nha Trang, Khánh Hoà.

. Nhà thơ; nhà nghiên cứu văn hóa dân gian; Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa; Hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam.

. Hiện công tác tại tạp chí Nha Trang.

- TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

- Thơ Khánh Hoà 1975 - 2000 (NXB Văn Học, 1999), đồng tác giả
- Tuyển tập Thơ Khánh Hòa 2000 - 2005 (Hội VHNT Khánh Hòa xuất bản, 2006), đồng tác giả
- Văn hóa phi vật thể Khánh Hoà (NXB Văn hóa dân tộc, 1999), đồng tác giả
- Khánh Hoà - Diện mạo văn hóa một vùng đất (7 tập, 1988 - 2006), đồng tác giả
- Nghề truyền thống ở Khánh Hoà (Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam xuất bản, 2001)
- Địa chí Khánh Hoà (NXB Chính trị quốc gia, 2003), đồng tác giả
- Tìm hiểu giá trị lịch sử và văn hóa truyền thống Khánh Hoà 350 năm (NXB Chính trị quốc gia, 2003), đồng tác giả
- Diện mạo văn hóa Khánh Hoà (NXB Chính trị quốc gia, 2003), đồng tác giả
- Đất và người duyên hải miền Trung (NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2004), đồng tác giả
- Từ dinh Thái Khang đến tỉnh Khánh Hòa (Hội VHNT Khánh Hòa xuất bản, 2004), đồng tác giả
- Văn nghệ dân gian Khánh Hòa - tác giả, tác phẩm (Hội VHNT Khánh Hòa xuất bản, 2006), đồng tác giả



























CAM RANH XƯA VÀ NAY


Từ năm 1653, khi chúa Nguyễn Phúc Tần lập đơn vị hành chính dinh Thái Khang trên vùng đất nay là tỉnh Khánh Hòa, Cam Ranh là một phần đất của huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh (1). Hiện nay, Cam Ranh đã trở thành một thị xã sầm uất, hứa hẹn đánh thức nhiều tiềm năng quý giá của mình phát triển vào bậc nhất của tỉnh Khánh Hòa trong thế kỷ XXI. Nếu tìm hiểu thêm về lịch sử của vùng đất này như địa danh, địa lý tự nhiên, tiến trình hình thành đơn vị hành chính… qua các tài liệu sử sách và kết quả của các cuộc khảo cổ gần đây, ngoài kiến thức địa chí thu lượm được khá thú vị và bổ ích, nó còn cho chúng ta thấy tầm nhìn xa rộng và hoài vọng khát khao của lớp người xưa đối với Cam Ranh là đúng đắn dường nào…

VỀ ĐỊA DANH

Trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, tập bản đồ đường xá Việt Nam do nho sinh họ Đỗ Bá, tự Công Đạo soạn vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVII, đã thấy có tên Cam Ranh môn (cửa biển Cam Ranh). Trong một bản đồ khác cũng có niên đại cuối thế kỷ XVII mang tên Giáp Ngọ niên bình Nam đồ của Đoan Quận công Bùi Thế Đạt cũng thấy chép địa danh Cam Linh môn (cửa biển Cam Ranh) và còn ghi chú: Cam Linh môn thâm đại (cửa biển Cam Ranh rất sâu). Đây có lẽ là những tài liệu sớm nhất của người Việt ghi chép về địa danh này.
Về mặt ngôn ngữ, Cam Ranh (tên Nôm) chắc chắn có trước Cam Linh (tên Hán-Việt). Dưới thời phong kiến, khi hệ thống làng Việt đã hình thành và tương đối ổn định, các tên Nôm làng xã đã được Hán hóa để tạo ra một lớp địa danh Hán - Việt tiện lợi cho việc khai báo, ghi chép vào sổ bộ phục vụ yêu cầu quản lý của chính quyền các cấp. Trong mối tương quan giữa các địa danh thuần Việt và Hán-Việt, ta thường thấy có sự chuyển đổi giữa cặp phụ âm đầu r / l, chẳng hạn: Nha Ru / Nha Lỗ (tên cổ của huyện Ninh Hòa); Phan Rang / Phan Lang… Từ đó, tên Cam Linh có thể là kết quả của sự Hán hóa Cam Ranh theo cách:

- Cam ---> Cam (một yếu tố của tên Nôm được chuyển sang Hán - Việt bằng cách dùng một ký hiệu Hán đồng âm nhưng không đồng nghĩa);
- Ranh ---> Linh (một yếu tố của tên Nôm được phiên âm Hán - Việt bằng một ký hiệu Hán tương ứng).
Đến nay, chúng ta vẫn chưa biết rõ nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh Cam Ranh hoặc Cam Linh , ngoại trừ những lý giải mang tính “từ nguyên học dung tục” rất võ đoán và khó kiểm chứng. Đơn cử có thuyết cho rằng tên Cam Linh do chúa Nguyễn Ánh đặt với ý nghĩa là “vùng đất ngọt linh thiêng”, từ sự việc thủy quân Nguyễn đổ bộ lên bán đảo Cam Ranh tìm nước ngọt và phát hiện ra hồ nước trên núi Phượng Hoàng (?).
Một tài liệu khác cho biết tường tận xã hội Đàng Trong vào đầu thế kỉ XVIII là sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, khi ông trấn nhậm hai đạo Thuận - Quảng. Qua những ghi chép tỉ mỉ của tác giả, chúng ta biết được tại tuần Cam Ranh (thuộc phủ Diên Khánh) tiền thuế là 105 quan 3 tiền, một mức thuế khá cao so với nhiều cửa biển lân cận, có lẽ do quy mô giao thông, buôn bán và khai thác thủy sản ở cửa biển Cam Ranh vào thời đó đã khá tấp nập, sầm uất. Trong các bài vè các lái kể lại thủy trình của những người đi buôn hoặc chuyên chở hàng hóa bằng ghe bầu trên tuyến đường biển Bắc-Nam vào các thế kỷ trước cũng có nhắc đến địa danh Cam Ranh hoặc Cam Linh, chẳng hạn như:

“… Ngó mù mù Hòn Nồm chỗ đó
Qua Hòn Nồm mới tỏ Cam Ranh
Vũng Găng đá vách như thành
Vũng Găng đá vách xung quanh như buồm …”

Hoặc:

“… Nhìn ra Nội, Ngoại sóng xao
Vát mũi chạy vào Bãi Dài, Con Nghê
Chụt đèn ngó xuống chỉnh ghê
Ngó về Hòn Tý dựa kề Cam Linh
Mò O, Dỏ Tó rất xinh
Lại thêm Đá Vách dựa kề Vũng Găng
Vũng Găng Đá Vách tựa thành
Hai bên núi tấn vây quanh như buồng…”

VỀ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN

Sách Đại Nam nhất thống chí, tài liệu địa dư được xem là quan trọng nhất của nước ta ở thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, đã cung cấp nhiều dữ kiện:
1. Về núi non, có:
- Núi Yên Đỗ: ở phía nam huyện Vĩnh Xương 50 dặm, phía tây liền với thôn Diêm Nại, bắc tiếp trạm Hòa Du (ở thôn Thủy Triều, huyện Vĩnh Xương, nay thuộc địa bàn xã Cam Hải Đông, thị xã Cam Ranh - NVT), đông gối bờ biển, tả hữu có gò cát. Thế núi rộng lớn, đỉnh đồi trùng điệp, rất nhiều hòn nhỏ, duy lấy ngọn núi này làm chủ.
- Núi Hòa Quân: ở phía nam huyện Vĩnh Xương 91 dặm, phía đông sông Tam Độc (Ba Ngòi), làm trấn cho cửa tấn Cam Ranh.
- Núi Lữ: ở phía nam huyện Vĩnh Xương 115 dặm. Thế núi sừng sộ cao lớn, phía tây có các dẫy núi liên tiếp, đều là chỗ mán lèo cư trú, phía đông gần đường trạm.
- Núi Hiệp Mỹ: ở phía tây nam huyện Vĩnh Xương 111 dặm. Trước kia tên là núi An Mỹ, năm Tự Đức thứ 5 (1852) đổi lại tên này, vì giới hạn của núi ở giữa 2 hộ Khánh Hiệp và Khánh Mỹ. Thế núi quanh co, đi xuống đông chia làm núi Phong Lãnh và núi Hòa Quân, gối trên cửa biển lớn Cam Ranh. Có bãi cát kéo dài vài mươi dặm.
- Núi Thạnh Đức (hiện nay có tên là núi Phượng Hoàng - NVT): ở phía đông nam huyện Vĩnh Xương 88 dặm. Trước kia tên là núi Đông An, năm Tự Đức thứ 15 (1862) đổi lại tên này. Mạch núi từ núi Hoàng Ngưu (Đồng Bò) trải qua một dãy bãi cát, nối liền bờ biển rồi chạy xiên về phía nam, đột khởi lên một ngọn núi cao che kín cửa biển Cam Ranh. Quanh núi bày ra những động cát trùng điệp, có một cái hồ ở dưới chân núi, nước rất trong mà phẳng lặng tục danh là Ao Tương (nay gọi là Ao Hồ - NVT). Phía tây núi này nứt ra một núi nhỏ che cửa biển gọi là Hòn Lang, phía nam nứt ra một núi nhỏ che cửa biển gọi là Hòn Tranh, ở đây có dân cư, phía đông nam cũng nứt ra một núi gọi là Hòn Khô, ở phía bắc có Cửa Bé, ngoài cửa biển ấy có các đảo nhỏ là Hòn Nội, Hòn Ngoại.
- Núi Phong Lãnh: ở phía đông nam huyện Vĩnh Xương 163 dặm, giáp giới huyện An Phước đạo Ninh Thuận. Phía đông gối bãi cát, có đầm Vũng Găng, phía nam tiếp giáp mỏ cát đảo Hòn Tai.
2. Về sông ngòi, có:
- Sông Tam Độc (tức Ba Ngòi ): ở phía nam huyện Vĩnh Xương 85 dặm. Phát nguyên từ trong các động Mán Bồng Lam, Bạch Cân, chảy xuống đông nam chia làm 3 chi: một chi theo thôn Thượng Nguyên chảy xuống đông nam 11 dặm; một chi theo thôn Diêm Nại chảy xuống đông nam 4 dặm; một chi theo thôn Nhược Đỗ chảy xuống đông nam 4 dặm, rồi có Khe Dầu từ thôn Hiệp Mỹ đến nhập lại, chảy ra đầm Thủy Triều, chuyển qua hướng đông chảy đến thôn Thạnh Đức phóng ra cửa biển Cam Ranh.
3. Về đầm, vịnh, cửa biển, có:
- Đầm Thủy Triều: ở phía nam huyện Vĩnh Xương 43 dặm, bốn phía là bãi cát, dồn nước sông Ba Ngòi chảy ra cửa biển Cam Ranh.
- Đầm Vũng Găng: ở cực nam huyện Vĩnh Xương, cách huyện 113 dặm, chu vi hơn 20 dặm.
- Vịnh Cam Ranh: ở phía đông nam huyện Vĩnh Xương 88 dặm, chu vi 79 dặm. Trong vịnh có đá rạng.
- Cửa tấn Cam Ranh : ở phía đông huyện Vĩnh Xương 88 dặm, rộng 400 trượng, sâu 50 trượng. Phía tả có Mũi hòn Lang, phía hữu có Hòn Lang, ngoài có Hòn Tranh, chu vi dài 19 dặm, có dân cư thôn Bình Ba ở đấy. Thuở xưa có đặt 1 chức Thủ ngự và 1 chức Hiệp thủ, sau bãi bỏ.
Đến đầu thế kỷ XIX, Cam Ranh - Ba Ngòi hầu như vẫn còn là một vùng đất hoang vu, hẻo lánh, nơi triều đình đày các tù phạm bị tội lưu đến khai khẩn, làm ruộng. Cho đến cả trăm năm sau đó, dân cư vùng này vẫn còn khá thưa thớt, rải rác chỉ có vài thôn làng người Việt ở Hòa Tân, Lập Định, Thủy Triều, Ba Ngòi, Cam Linh, Bình Ba… Ở vùng Ba Ngòi, Đá Bạc trở vào, cư dân chủ yếu là đồng bào dân tộc Raglai vốn là dân bản địa lâu đời, sinh sống chủ yếu dựa vào nương rẫy. Ở Cồn Sung (bán đảo Cam Ranh) và Bãi Lao (bán đảo Mũi Hời) có độ vài nhóm người Đàng Hạ. Cả một vùng đất rộng lớn phía nam huyện Vĩnh Xương thời đó mà Đại Nam nhất thống chí chỉ ghi nhận có một ngôi chợ nhỏ là chợ Thủy Triều, ở thôn Thủy Triều ven biển. Mãi đến đầu thế kỷ XX (năm 1901), một người Pháp là hầu tước De Barthelemy đến lập nghiệp ở Cam Ranh nhìn thấy triển vọng rực rỡ của vùng vịnh này, ông ta mới xin cấp nhượng mấy ngàn héc-ta đất để khai khẩn, lập nhà cửa, mở ruộng muối, khuếch trương nghề cá, lại in hình ảnh, bản đồ cửa biển Cam Ranh để quảng cáo ra nước ngoài. Tuy nhiên, ý định mở mang Cam Ranh của ông đã thất bại vì không được chính quyền thuộc địa và giới tư bản mẫu quốc ủng hộ.
Gần đây, kết quả của những phát hiện khảo cổ học tại Cam Ranh cũng khẳng định vùng đất này từ hàng ngàn năm trước đã có con người sinh sống:
- Năm 1979, di chỉ khảo cổ học Xóm Cồn bên bờ vịnh Cam Ranh (thuộc phường Cam Linh, thị xã Cam Ranh) đã được phát hiện và khai quật hai lần vào các năm 1980 và 1992. Hiện vật thu được trong các hố khai quật rất phong phú với các công cụ đá (rìu, bôn, công cụ chặt, bàn mài, hòn kê, hòn ghè, mũi khoan), rất nhiều đồ gốm, các loại xương thú, vỏ các loại nhuyễn thể biển ken dày giữa các tầng văn hóa. Năm 1990, trên các địa điểm thuộc đảo Bình Ba và Bình Hưng trong vịnh Cam Ranh, các nhà khoa học cũng đã tiến hành khai quật với quy mô lớn, kết quả thu được gồm nhiều loại rìu đá, đồ gốm, đồ trang sức bằng lõi ốc… Trên cơ sở đó, các nhà khoa học đã xác lập được một văn hóa khảo cổ mang tên địa điểm đầu tiên được phát hiện: văn hóa Xóm Cồn, có niên đại trên dưới 4000 năm cách ngày nay. Văn hóa Xóm Cồn không thuộc hệ thống văn hóa Sa Huỳnh, song chắc chắn có nhiều đóng góp vào sự hình thành văn hóa Sa Huỳnh sau này.
- Tháng 4-1998, Di chỉ khảo cổ học Hòa Diêm (ở xã Cam Thịnh Đông, Cam Ranh, cách di chỉ Xóm Cồn khoảng 5km về phía Nam) được khai quật lần đầu tiên và sau đó lần thứ hai vào tháng 4-2002 đã phát hiện hàng chục mộ chum, hàng ngàn tiêu bản gốm cùng nhiều di vật bằng đá, đồng, sắt, thủy tinh, mã não… có niên đại từ 2000 - 2500 năm cách ngày nay. Kết quả thu được tại Hòa Diêm cho thấy đây là một di chỉ cư trú xen lẫn mộ táng và những đặc điểm của di vật ở đây phản ánh sự tiếp nối văn hóa với một số truyền thống từ Xóm Cồn trong sự phát triển lên giai đoạn Sa Huỳnh sau này ở Khánh Hòa.
- Tháng 7-2006, Di chỉ khảo cổ học Văn Tứ Đông ở xã Cam Hòa, Cam Ranh ( cách Nha Trang 30km về phía Bắc và cách thị xã Cam Ranh 30km về phía Nam) thuộc loại hình di tích cồn sò điệp hay “đống rác bếp” (kjikkenmodding) lần đầu tiên được phát hiện và khai quật. Toàn bộ di chỉ được bao bọc bởi một khe suối cổ được gọi là suối Bến Cọp; địa tầng di chỉ có cấu trúc chủ yếu là vỏ sò điệp ken dày do người cổ thải ra sau khi bắt về ăn. Trong 2 hố khai quật có địa tầng sâu trung bình 120 cm với tổng diện tích 75m2 của đợt khảo sát này đã thu được 261 hiện vật (gồm 151 đồ đá, 84 mũi tên bằng xương và 26 đồ gốm), hàng vạn mảnh gốm, nhiều xương động vật, 4 vết tích bếp lửa và 1 hố đất đen. Di tích Văn Tứ Đông là một làng chài cổ ven biển có niên đại vào khoảng 3.000 - 3.500 năm trước.

VỀ TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH

Vùng đất Cam Ranh đã có những bước phát triển nhất định để trở thành một đơn vị hành chính độc lập.

1. Trước năm 1975

- Dưới thời Duy Tân (1907-1916), chính quyền thực dân cắt một phần đất huyện Vĩnh Xương lập thành tổng Cam Ranh .
- Ngày 8/6/1939, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị Định lập Nha Đại lý hành chính Ba Ngòi trực thuộc tỉnh Khánh Hòa. - Dưới thời chính quyền Ngô Đình Diệm, vùng đất này trải qua nhiều lần tách, nhập, đổi tên:

* Tháng 7/1951, huyện Cam Lâm gọi là Nha kiêm ký Bang tá Cam Lâm, trực thuộc Tòa Tỉnh trưởng Khánh Hòa;
* Tháng 12/1954, Nha Bang tá Cam Lâm đổi là Nha Đại diện hành chánh Cam Lâm.
* Ngày 17/5/1958, Nghị định số 216-BNV/NĐ giải thể Nha Đại diện hành chánh Suối Dầu, sáp nhập vào địa hạt Cam Lâm lập thành một quận mới gọi là quận Cam Lâm, gồm cả vùng bán đảo Cam Ranh và vịnh Cam Ranh.
* Ngày 6/ 4/ 1960, Sắc lệnh số 84-BNV tách các xã Cam Thọ, Cam Ly, 2 thôn Ma Dú và Sông Cạn (xã Cam Lục), thôn Trại Láng (xã Cam Lương) và một phần đất thôn Hòa Diêm (xã Cam Lộc) thuộc quận Cam Lâm của tỉnh Khánh Hòa sáp nhập vào quận Du Long thuộc tỉnh Ninh Thuận.
- Tháng 10/1965, Sắc lệnh số 209-NV đã lấy 8 xã của quận Cam Lâm (Suối Vĩnh, Suối Hòa, Suối Hải, Cam Phúc, Cam Ranh, Cam Bình, Cam Linh, Cam Lộc), thêm núi Hòn Rồng thuộc ấp Văn Thủy Hạ (xã Cam Phú) giáp đường xe lửa xuyên Việt, cùng các phần đất đã sáp nhập vào quận Du Long của tỉnh Ninh Thuận trước đó (các thôn Hoà Diêm, Trại Láng, Ma Dú, Sông Cạn, Mỹ Thạnh) thành lập thị xã Cam Ranh; quận lỵ Cam Lâm dời về Suối Dầu.
- Ngày 6-7-1966, Nghị định số 620 BNV/NC/NĐ đổi các xã thuộc thị xã Cam Ranh thành khu phố.
- Ngày 20-2-1968, Sắc lệnh số 17-SL/NV lấy thêm xã Cam Sơn và một phần xã Cam Phú, Cam Thượng của quận Cam Lâm sáp nhập vào thị xã Cam Ranh.
- Đến ngày 7-11-1970, Nghị định số 1048-NĐ/NV chia thị xã Cam Ranh thành 2 quận là quận Bắc và quận Nam. Quận Bắc gồm các khu phố: Suối Hòa, Suối Vĩnh, Suối Hải, Suối Cam; quận Nam gồm các khu phố: Cam Phúc, Cam Bình, Cam Ranh, Cam Phú, Cam Lộc, Cam Sơn, Cam Thịnh.
- Dưới chính quyền cách mạng, địa giới hành chính huyện Cam Ranh cũng nhiều lần thay đổi: Tháng 6-1946, đồng bằng Ninh Thuận thành lập 6 khu hành chính, trong đó khu 6 là Ba Ngòi (Cam Ranh); tháng 2-1947, khu 6 đổi thành vùng 6; tháng 8-1948, vùng 6 được bàn giao cho tỉnh Khánh Hòa; cuối năm 1949, tổng Hòa Tân nhập vào huyện Ba Ngòi; đầu năm 1951, huyện Ba Ngòi tách thành hai khu là khu đặc biệt Cam Ranh và huyện miền núi Khánh Sơn.

2. Sau năm 1975

- Ngày 29-10-1975, theo Quyết định của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa được hợp nhất thành một tỉnh mới lấy tên là tỉnh Phú Khánh; Cam Ranh là một huyện của tỉnh.
- Ngày 10-3-1977, Quyết định số 49-CP nhập 2 đơn vị hành chính Cam Ranh và Khánh Sơn thành một huyện mới lấy tên là huyện Cam Ranh.
- Ngày 23-10-1978, Quyết định số 268-CP thành lập thị trấn Ba Ngòi.
- Ngày 30-9-1981, Quyết định số 100-HĐBT chia xã Cam Thành thành 2 xã Cam Thành Bắc và Cam Thành Nam, đồng thời chia xã Cam Phúc thành 2 xã Cam Phúc Bắc và Cam Phúc Nam.
- Đến Quyết định số 189-HĐBT ngày 27-6-1985, huyện Cam Ranh lại tách thành 2 huyện: huyện Cam Ranh và huyện miền núi Khánh Sơn. Huyện Cam Ranh gồm thị trấn Ba Ngòi và 16 xã có tên bắt đầu bằng chữ Cam.
- Ngày 1-7-1989, Nghị quyết kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa 8 nước CHXHCN Việt Nam đã quyết định chia tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh mới là tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa; huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa.

3. Hiện nay

Ngày 07-7-2000, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị Định số 21/2000/NĐ-CP thành lập thị xã Cam Ranh và các phường thuộc thị xã. Diện tích tự nhiên của thị xã là 690 cây số vuông, dân số: 209.000 người (năm 2002), gồm 9 phường và 18 xã. 9 phường nội thị là: Ba Ngòi, Cam Lộc, Cam Lợi, Cam Linh, Cam Thuận, Cam Phú, Cam Phúc Nam, Cam Phúc Bắc, Cam Nghĩa. 18 xã ngoại thị là: Cam Tân, Sơn Tân, Cam Hòa, Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, Cam Hiệp Bắc, Cam Hiệp Nam, Cam An Bắc, Cam An Nam, Cam Thành Bắc, Cam Thành Nam, Cam Phước Đông, Cam Phước Tây, Cam Thịnh Đông, Cam Thịnh Tây, Cam Đức, Cam Bình, Cam Lập.
Đến Nghị định số 65/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 11-4-2007 thành lập huyện mới Cam Lâm trên cơ sở cắt một số đơn vị hành chính của thị xã Cam Ranh (gồm các xã Cam Tân, Cam Hòa, Cam Hải Tây, Sơn Tân, Cam Hiệp Bắc, Cam Hiệp Nam, Cam Thành Bắc, Cam An Bắc, Cam An Nam, Cam Phước Tây, Cam Hải Đông, Suối Tân, Suối Cát và thị trấn Cam Đức).
Hiện nay, địa giới hành chính của thị xã Cam Ranh được phân định như sau: phía Bắc giáp huyện Cam Lâm; phía Tây giáp huyện miền núi Khánh Sơn; phía Nam giáp huyện Ninh Hải thuộc tỉnh Ninh Thuận; phía Đông giáp biển Đông và huyện đảo Trường Sa.

_________________________________________________________

(1) Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép địa giới của huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh lúc đó như sau: phía Đông giáp biển, phía Tây giáp động Mán, phía Nam giáp đạo Ninh Thuận, phía Bắc giáp huyện Phước Điền.



NGUYỄN MAN NHIÊN

© Cấm trích đăng lại nếu không được sự đồng ý của tác giả .




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC