Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Lý Thường Kiệt

Chặn Thế Giặc Mạnh





Lý Thường Kiệt (1019- 1105) người anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất, nhà chính trị và ngoại giao tài ba mà tên tuổi gắn liền với bài thơ Thần Nam Quốc Sơn Hà- Bản tuyên ngôn độc lập hùng tráng đầu tiên của Đại Việt.

Tâm linh Việt đánh giặc
    Gần ngàn năm nay Nam Quốc Sơn Hà ầm vang sông núi, địa cầu, khẳng định chủ quyến đất nước và quyền được sống trong một quốc gia Độc Lập của dân tộc Việt. Bài thơ Thần Nam Quốc Sơn Hà tiếp nguồn năng lượng Tâm linh vô tận cho người dân Việt mọi thời đại, đánh trả mưu sâu cướp đất- biển Việt Nam, đồng hóa thâm độc, hủy diệt Văn hóa Việt, dai dẳng, trắng trợn, chưa từng thấy của giặc Bắc phương.
Bản phiên âm Hán-Việt :

Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Bản dịch thơ :

Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

    Vào lúc cuộc chiến ra vô cùng quyết liệt trên sông Cầu, Lý Thường Kiệt truyền Nam Quốc Sơn Hà để cổ vũ tinh thần binh sĩ.
Tương truyền ông đã sai người giả làm thần nhân, nấp trong đền Truơng Hát ở bờ nam cửa sông Như Nguyệt, đọc bài thơ này.

    Theo sách Việt điện u linh thì tướng quân Trương Hát là thần sông Như Nguyệt, chính thần nhân này đã được đọc bài thơ trên. Sách còn nói: "Đang đêm nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ táng đẩm, không đánh cũng tan".

    Nam Quốc Sơn Hà tràn năng lượng Tâm linh, hồn thiêng sông núi, khẳng định chân lý hùng hồn. Nước Nam là một quốc gia lãnh thổ riêng, cương giới rạch ròi, do Trời định, quyền độc lập tự chủ của dân tộc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

    Nam Quốc Sơn Hà là khí phách hào hùng về ý chí gang thép của dân tộc, đuổi giặc, và cổ vũ mạnh mẽ quân dân ta hăng hái chiến đấu, tin tưởng vững chắc vào thắng lợi hoàn toàn.

    Nam Quốc Sơn Hà là sách Trời, lệnh Trời.

    Nam Quốc Sơn Hà là Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta sau hơn một ngàn năm bị giặc Bắc đô hộ.

    Nam Quốc Sơn Hà rung chuyển không gian thời gian, lay động lòng người Việt mọi thời đại, bởi bài thơ Bài thơ Thần Đất Việt mang giá trị Tâm linh thiêng liêng.

    Nam Quốc Sơn Hà là sự sống huyền diệu của sức mạnh Văn hóa Tâm linh Việt.

    Với Nam Quốc Sơn Hà không một dân tộc nào, không một ai, trên thế gian có thể phủ nhận sức mạnh siêu hình- Văn hóa Tâm linh Việt.
    Trên chiến trường phòng tuyến sông Cầu, bài Thơ Thần truyền đi đã sản sinh một sức mạnh kỳ lạ, làm nao núng tinh thần quân địch, làm tăng nhuệ khí và thêm sức chiến đấu cho quân ta, trực tiếp góp phần làm xoay chuyển cục diện cuộc chiến đang trong giai đoạn cực kỳ quyết liệt, tạo điều kiện cho cuộc phản công chiến lược giành thắng lợi quyết định.
    Đó là cuộc phản công chiến lược do Lý Thường Kiệt chỉ huy, đại quân ta vượt sông bất ngờ đánh úp vào doanh trại chính của địch. Theo Việt sử lược thì quân Tống đại bại, bị tiêu diệt đến năm, sáu phần mười.
    Sức mạnh Tâm linh của bài thơ Thần Nam Quốc Sơn Hà ngàn năm ấy, hôm nay đang truyền nguồn năng lượng mãnh liệt cho người Việt Nam hiện đại trong, ngoài nước, hợp lực đuổi giặc, giữ Hòa Bình- Độc lập- Minh Bạch- Tự Do- Dân Chủ- Trường tồn Đất Nước, Giống Nòi Việt Nam yêu dấu.

Lý Thường Kiệt chặn thế giặc mạnh

    Lý Thường Kiệt họ Ngô, tên thật là Tuấn, tự là Thường Kiệt, sau được ban quốc tính (mang họ vua Lý nên gọi là Lý Thường Kiệt). Quê ông ở làng An Xá, huyện Quảng Đức, kinh thành Thăng Long. Làng An Xá đổi tên Phúc Xá (nay là quận Ba Đình).
    Từ nhỏ Lý Thường Kiệt đã có chí hướng và nghị lực phi thường, học tập, rèn luyện văn/ võ, nghiên cứu binh pháp.
    21 tuổi, dưới triều Lý Thái Tông, ông được bổ nhiệm giữ chức Kỵ mã hiệu úy. 23 tuổi, ông được sung vào ngạch thị vệ, hầu vua, giữ chức Hoàng môn chi hậu, và được thăng chức Đô tri, trông coi mọi việc trong cung. Đau đớn thay, với chức này, ông đã chấp nhận cuộc đời một hoạn quan.

    Đầu Triều Lý Thái Tông, ông được phong chức Bổng hành quân hiệu úy (một chức võ quan cao cấp), được thăng Kiểm hiệu thái bảo. Năm 1061, ông được lệnh cầm quân đi trấn yên Thanh - Nghệ.

    Năm 1069, ông cầm quân đánh Champa xâm lược do Lý Thánh Tông thân chinh. Lý Thường Kiệt được phong đại tướng, chỉ huy đội tiên phong tiến vào đánh phá kinh thành. Quốc vương Champa bị bắt đưa về Thăng Long, đã xin dâng đất để chuộc tội, gồm ba châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (nay là Quảng Bình và bắc Quảng Trị).

    Sau khi toàn thắng, giữ yên được biên giới phía Nam, Lý Thường Kiệt được ban các chức tước: Phụ quốc tháo phó và Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, Khai quốc công, Thái úy, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự (chức lớn thứ hai trong triều).

    Năm 1072, Lý Thánh Tông từ trần. Lý Nhân Tông 7 tuổi lên nối ngôi. Trong khi ấy, chính quyền phương Bắc vẫn luôn nhòm ngó. Chúng xem đây là một cơ hội tốt để tiến hành ráo riết việc chuẩn bị xâm lược nước ta.
    Tại ba châu Ung, Khâm, Liêm (thuộc Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay), chúng xây dựng những căn cứ quân sự và hậu to lớn để làm nơi xuất phát trực tiếp cho các đạo quân xâm lược.

    Khi Lý Nhân Tông lên ngôi, Lý Thường Kiệt được giữ chức Đôn quốc thái úy, Đại tướng quân, Đại tư đồ, tược hiệu Thượng phụ công. Với cương vị như Tể tướng, ông nắm toàn quyền cả văn lẫn võ, gánh vác nặng nề và chịu trách nhiệm to lớn đối với giang sơn xã tắc.
    Ông nhận sứ mệnh thiêng liêng, trực tiếp tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược.
Sang đất Tống, đánh giặc Tống xâm lược

    Đứng trước âm mưu và hành động rõ ràng công khai của địch, Lý Thường Kiệt tuyên bố: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước, chặn thế mạnh của giặc". Ông huy động 10 vạn quân tiến hành một cuộc tập kích đánh thẳng vào các căn cứ chuẩn bị xâm lược của kẻ thù ngay trên đất Tống.

    Với danh nghĩa chính đáng là chỉ đánh Tống để giữ nước là đưa quân tới là để cứu dân, Lý Thường Kiệt đã viết bài hịch
Phạt Tống lộ bố văn (bài văn công bố đánh giặc Tống) và cho yết bảng ở khắp nơi mà quân đội ta đi qua.

    Bài hịch truyền đi đã đạt hiệu quả lớn: quân đội của Lý Thường Kiệt tiến đến đâu cũng đều được nhân dân Trung Hoa ở đó hoan nghênh, hưởng ứng.

    Quân Việt bắt đầu tiến công vào đất Tống từ ngày 27 tháng 10 năm 1075. Quân Việt phá hủy một loạt các đồn trại biên giới, rồi lần lượt đổ bộ lên cảng và đánh chiếm các thành Khâm, Liêm. Sau đó đại quân tiếp tục tiến sâu vào đất Tống đánh Tống xâm lược.

    Ngày 18 tháng 1 năm 1076 áp sát thành Ung. Đây là căn cứ quan trọng nhất trong những căn cứ địch dùng cho cuộc viễn chinh xâm lược vào Đại Việt. Sau 42 ngày vây hãm và tấn công quyết liệt, ta hạ được thành, tiêu diệt và bắt sống nhiều tên địch.

    Quân ta được lệnh san bằng các thành lũy lớn nhỏ, tiêu huy các kho tàng lương thực, vũ khí, giáng đòn sấm sét làm tổn thất nghiêm trọng các cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh của địch, làm nhụt nhuệ của bọn cầm quyền phương Bắc trong việc chuẩn bị chiến tranh xâm lược.

    Sau khi đã đạt mục tiêu của cuộc đánh sang đất Tống, Lý Thường Kiệt quyết định rút nhanh quân về nước. Cuộc rút quân rất đúng lúc, vừa bảo toàn được lực lượng, vừa phá được kế hiểm của giặc: chúng định điều quân lẻn sang đánh úp Đại Việt nhân lúc đại quân còn đang ở bên nước chúng.

    Cuộc tập kích chiến lược đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Lịch sử ghi nhận chiến công kỳ diệu này, chiến công có một không hai trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc Việt. Gắn liền với chiến công ấy, là tên tuổi vị chủ tướng tài ba Lý Thường Kiệt.

Lý Thường Kiệt làm cỏ Thành Ung Châu

   
Năm 1075. Vương An Thạch cầm quyền binh nhà Tống, tâu với vua Tống là Đại Việt bị Chiêm Thành đánh phá, quân còn sót lại không đầy vạn người, có thể dùng kế chiếm lấy được.
    Vua Tống sai Thẩm Khởi, và Lưu Di làm tri Quế Châu ngầm dấy binh người Man động, đóng thuyền bè, tập thủy chiến, cấm các châu huyện không được mua bán với Đại Việt.
    Vua Lý biết tin, sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem hơn 10 vạn binh đi đánh. Quân bộ gồm 60.000 người do các tướng Tôn Đản, Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An chỉ huy, tổng chỉ huy là Tôn Đản.
    Bộ binh tập trung ngay ở các châu Quảng Nguyên, Môn (Đông Khê), Quang Lang, Tô Mậu rồi tràn sang đánh các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Hoành Sơn, châu Tây Bình, Lộc Châu. Một cánh quân khác đóng gần biên giới Khâm châu cũng kéo tới đánh các trại Như Hồng, Như Tích và Đề Trạo, "quân ta tới đâu như vào nhà trống không người".
    Lý Thường Kiệt chỉ huy 40.000 quân thủy cùng voi chiến đi đường biển từ châu Vĩnh An (Quảng Ninh) đổ bộ lên đánh các châu Khâm, Liêm; Tông Đản vây châu Ung.
    Ngày 30 tháng 12 năm 1075, quân Nam tiến chiếm thành Khâm Châu, bắt toàn bộ quan quân mà không phải giao chiến một trận nào. Ba ngày sau, 2 tháng 1 năm 1076, Liêm Châu cũng thất thủ.
    Khi được tin hai châu Khâm, Liêm đã mất, nhà Tống rất hoang mang, lo ngại, các tướng ở địa phương bối rối. Ti kinh lược Quảng Nam tây lộ vội vã xin viện binh: 20.000 quân, 3.000 con ngựa, xin thêm khí giới, đồ dùng và một tháng lương, và xin được điều động các dân khê động, tất cả lấy dọc đường từ Kinh đến Quảng Tây. Để điều khiển quân được mau chóng, ti ấy cũng xin dời đến thành Tượng, gần phía bắc Ung Châu.
    Trong lúc bối rối, triều đình Tống đối phó rất lúng túng. Vua Tống cách chức Lưu Di và sai Thạch Giám thay coi Quế Châu và làm kinh lược sứ Quảng Tây.
    Trên các mặt trận, quân Việt hoàn toàn làm chủ. Lý Thường Kiệt cho đạo quân ở Khâm và Liêm Châu tiến lên phía Bắc. Đạo đổ bộ ở Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu. Đường thẳng dài chừng 120 cây số, nhưng phải qua dãy núi Thập Vạn. Còn đạo đổ bộ ở Liêm Châu tiến sang phía đông bắc, chiếm lấy Bạch Châu, dường như để chặn quân tiếp viện của Tống từ phía đông tới. Hẹn ngày 18 tháng 1 năm 1076, hai đạo quân sẽ cùng hội lại vây chặt lấy Ung Châu.
    Ung Châu là một thành lũy kiên cố, do tướng Tô Giám cùng với 2.800 quân cương quyết cố thủ.
    Đô giám Quảng Tây nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu. Lý Thường Kiệt đón đánh ở cửa ải Côn Lôn (nay là Nam Ninh, khu tự trị Quảng Tây) phá tan được, chém Trương Thủ Tiết tại trận.
    Tri Ung Châu là Tô Giám cố thủ không hàng. Quân Đại Việt đánh đến hơn 40 ngày. Sau cùng quân Việt dùng hỏa công, bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành, trong thành thiếu nước, không thể chữa được cháy. Cuối cùng quân Việt bắt dân Tống chồng bao đất cao đến hàng trượng để họ trèo lên thành. Ngày thứ 42, thành bị hạ, tướng chỉ huy Tô Giám tự thiêu để khỏi rơi vào tay quân Việt. Người trong thành không chịu hàng, nên bị giết hết hơn 58.000 người, cộng với số người chết ở các châu Khâm, Liêm thì đến hơn 100.000, tuy nhiên quân Việt cũng tổn thất đến một vạn người và nhiều voi chiến.
    Lý Thường Kiệt làm cỏ xong thành Ung, lại lấy đá lấp sông ngăn cứu viện rồi đem quân lên phía Bắc lấy Tân Châu. Viên quan coi Tân Châu, nghe thấy quân Nam kéo gần đến thành, liền bỏ thành chạy trốn. Mục tiêu hoàn thành, Lý Thường Kiệt cho rút quân về.
    Lý Thường Kiệt bắt sống người ba châu ấy đem về nước. Nhà Lý cho những người phương Bắc đó vào khai phá vùng Hoan - Ái (Thanh - Nghệ).

Phòng tuyến sông Cầu

    Do tiền đồn ở Ung Châu là căn cứ tập trung quân để Nam tiến bị phá tan, nhà Tống phải điều động thêm nhân lực và lương thảo để thực hiện chiến tranh với Đại Việt.
    Tháng 3 năm 1076, nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân 9 tướng, hẹn với Chiêm ThànhChân Lạp sang xâm lấn Đại Việt, nhưng quân Chiêm Thành và Chân Lạp không dám tiến vào Đại Việt.
    Quân Tống viễn chinh lên đến 10 vạn quân, một vạn ngựa và hai mươi vạn dân phu, khí thế rất mạnh mẽ, nhất là kỵ binh Tống, nhưng quân Tống muốn phát huy kỵ binh thì phải làm sao qua khỏi vùng hiểm trở, tới chỗ bằng, thì ngựa mới tung hoành được.
    Tuyến phòng thủ của quân Việt. Lý Thường Kiệt dựa vào sông núi, các đèo hiểm trở, các sông rộng và sâu. Từ trại Vĩnh Bình vào châu Lạng, phải qua dãy núi rậm, có đèo Quyết Lý, ở trên đường từ tỉnh Lạng Sơn đến Đông Mô ngày nay, vào khoảng làng Nhân Lý, ở phía bắc châu Ôn. Rồi lại phải qua dãy núi lèn (đá không phá đất), đá đứng như tường, ở giữa có đường đi rất hiểm: đó là ải Giáp Khẩu, tức là ải Chi Lăng, ở phía bắc huyện Hữu Lũng thuộc Lạng Sơn ngày nay.
    Về đường thủy, để chặn địch qua sông, quân Việt chỉ cần đóng thuyền ở bến Lục Đầu thì đi đường nào cũng rất tiện và chóng.
    Các tướng lĩnh thuộc Man Động như: Nùng Quang Lãm, Nùng Thịnh Đức coi ải Hà Nội, Hoàng Kim Mãn và Sầm Khánh Tân giữ châu Môn, Vi Thủ An giữ châu Tô Mậu, Lưu Kỷ coi Quảng Nguyên khi quân Tống sang đã đầu hàng.
    Duy có phò mã Thân Cảnh Phúc giữ châu Quang Lang (Lạng Sơn) không những không chịu hàng mà còn rút vào rừng đánh du kích, giết rất nhiều quân Tống.
    Nhưng sau quân Tống tràn sang đánh báo thù. Lúc đầu họ cự chiến, sau vì thất trận và vì sự dụ dỗ, nên đã đầu hàng, thậm chí như Hoàng Kim Mẫn còn chỉ đường bày mưu cho Tống
    Quân Tống tràn xuống, theo đường tắt qua dãy núi Đâu Đỉnh, tới phía tây bờ sông Phú Lương; trong khi đó, một cánh quân tách ra, vòng sang phía đông đánh bọc hậu quân Nam ở Giáp Khẩu (Chi Lăng) và thẳng tới sông Cầu.
    Vua Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, lập chiến lũy sông Như Nguyệt để chặn quân Tống.
    Sông Cầu từ địa phận Cao Bằng chảy đến Lục Đầu, hợp với sông Bạch Đằng. Từ Lục Đầu ra đến biển, là một cái hào tự nhiên sâu và rộng, che chở cho đồng bằng nước Việt để chống lại tất cả mọi cuộc ngoại xâm đường bộ từ Lưỡng Quảng kéo vào.
    Đối với đường sá từ châu Ung tới Thăng Long, thì sông Bạch Đằng không can hệ, vì đã có sông Lục Đầu, là cái hào ngăn trước rồi. Trái lại, sông Cầu rất quan trọng.
    Lý Thường Kiệt đem chủ lực chặn con đường từ trại Vĩnh Bình đến sông Nam Định (sông Cầu) bằng cách đặt những doanh đồn và phục binh ở hai ải tiếp nhau: ải Quyết Lý ở phía bắc châu Quang Lang và ải Giáp Khẩu (Chi Lăng) ở phía nam châu ấy.
    Nếu hai phòng tuyến ấy bị tan, thì phải cố thủ ở phòng tuyến thứ ba, tức là nam ngạn sông Nam Định. Để cản quân Tống qua sông, Lý Thường Kiệt sai đắp đê nam ngạn cao như bức thành. Trên thành, đóng tre làm giậu, dày đến mấy từng. Thành đất lũy tre, nối với dãy núi Tam Đảo, đã đổi thế sông Nam Định và bờ nam ngạn ra một dãy thành hào, che chở cả vùng đồng bằng Giao Chỉ. Thành hào ấy dài gần trăm cây số, khó vượt qua và nhưng lại dễ phòng thủ hơn là một thành lẻ như thành Thăng Long.
    Cùng lúc đó thuỷ binh Tống do Hòa Mân và Dương Tùng Tiểu chỉ huy đã bị thủy quân Nam do Lý Kế Nguyên điều động, chặn đánh ngoài khơi lối vào Vĩnh An.
    Quân Tống có kỵ binh mở đường tiến công quyết liệt, có lúc đã chọc thủng chiến tuyến quân Việt tràn qua sông Như Nguyệt, nhưng quân Việt kịp thời phản kích, đẩy lùi quân Tống.
    Lý Thường Kiệt dùng chiến thuật Văn hóa Tâm linh Việt để khích lệ tinh thần quân dân Đại Việt chiến đấu. Ông cho người đọc bài thơ Thần Nam Quốc Sơn Hà.
    Sách cổ ghi đậm sự kiện này:
    "Đang đêm, nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ, táng đảm, không đánh đã tan".
    Lý Thường Kiệt biết tình thế quân Tống đã lâm vào thế bí, mà người Đại Việt bị chiến tranh liên miên cũng nhiều tổn thất, nên sai sứ sang xin "nghị hoà" để quân Tống rút về.
    Quách Quỳ vội chấp nhận giảng hòa và rút quân. Sách Việt Sử kỷ yếu của Trần Xuân Sinh dẫn cổ sử nói về nội tình của nhà Tống về sự kiện này: Triều thần nhà Tống cho rằng "Cũng may mà lúc đó địch lại xin giảng hoà, không thì chưa biết làm thế nào".
    Tuy bị thua đau, nhưng nhà Tống vẫn rất ngoan cố. Lý Thường Kiệt biết chắc thế nào chúng cũng sẽ kéo quân sang phục thù và tiếp tục thực hiện mục tiêu xâm lược mà chúng chưa bao giờ chịu từ bỏ.

    Ông cử người vào đất Tống để theo dõi cụ thể công việc chuẩn bị và kế hoạch xâm lược của quân Tống.

    Ông tự mình đi xem xét vùng biên cương phía Nam và tăng cường lực lượng bố phòng ở đó nhằm chặn sự tiến công quấy rối của quân Champa.

    Ông bố trí kế hoạch cho các lực lượng vũ trang địa phương, các thổ binh, hương binh ở vùng núi phía Bắc làm nhiệm vụ kiềm chế và tiêu hao địch trên các con đường tiến vào của chúng.

    Ông tập trung xây dựng phòng tuyến chính của quân ta dựa vào bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu), có rào giậu nhiều tầng, chạy dài trên 200 dặm từ chân núi Tam Đảo đến sông Lục Đầu. Dưới sông có thủy quân, trên thành có quân đóng và tuần tiễu. Với phòng tuyến này, quân ta nắm chắc khả năng chặn địch, bảo vệ an toàn kinh thành Thăng Long và cả một vùng trung châu rộng lớn và trù phú của đất nước.
    Cuối năm 1076, đại quân Tống chia làm nhiều cách vượt biên giới tiên ào ạt vào Đại Việt. Sau một tháng phải luôn luôn đối phó với những cuộc chống trả quyết liệt của nhân dân Đại Việt trên vùng biên giới và thượng du. Cuối cùng ngày 18 tháng 1 năm 1077, đại quân Tống cũng tiến được tới bờ bắc sông Cầu. Nhưng đến đây, chúng đã bị chặn đứng lại.
    Phòng tuyến sông Cầu sừng sững như một bức tường thành, vững chãi, uy nghiêm và đầy thách thức. Chúng buộc phải dừng quân, tập kết trên một trận tuyến dài 30km từ bến đò Như Nguyệt đến chân núi Nham Biền, để từ đó triển khai các đợt tiến công sang phòng tuyến của quân Việt.

    Một lần, chúng tập trung binh lực, đột phá trận tuyến quân Việt ở bến đò Như Nguyệt, chọc thủng được một đoạn phòng tuyến quân tiên phong của chúng tiến về phía Thăng Long. Nhưng quân Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy đã phản công kịch liệt. Chúng bị tổn thất nặng nề, phải mở đường máu mà tháo chạy.

    Lần khác, chúng lại mở đợt tấn công mới. Với những bè lớn, mỗi bè trở được 500 quân qua sông, chúng liên tiếp đưa những đạo quân mạnh đổ bộ lên bờ nam. Nhưng ở đây chúng lại đụng phải sức phản công dữ dội của lực lượng chiến đấu dũng mãnh dưới sự chỉ huy linh hoạt sắc bén của tướng quân Lý Thường Kiệt. Những đạo quân đổ bộ đều bị tiêu diệt hoặc phải đầu hàng.

    Sau chiến thắng trên, Lý Thường Kiệt đã chủ động phái người sang sông gặp tướng chỉ huy quân Tống, đặt vấn đề hòa giải nhằm sớm chấm dứt chiến tranh, với điều kiện là toàn bộ quân Tống phải rút khỏi đất Việt.

    Bọn chỉ huy quân Tống đang lúc hoang mang cực độ trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, chúng vội vàng nhận điều kiện trên và lập tức rút quân hồi tháng 3 năm 1077, không cần chờ lệnh của triều đình nhà Tống.

    Trong cuộc chiến đấu lần này, quân dân Đại Việt đã tiêu diệt hơn 19.000 quân địch. Tính cả cuộc tập kích lần trước vào Ung-Khâm-Liêm, quân Việt đã tiêu diệt gần 30.000 tên.

    Thắng lợi huy hoàng của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống (1075-1077) là một minh chứng hùng hồn về sự phát triển vượt bậc của dân tộc Việt sau một thế kỷ giành độc lập, quốc gia Đại Việt đã có đủ sức mạnh để chống lại một đế quốc lớn mạnh.

Lý Thường Kiệt tiến công và phòng ngự

    Làm nên thắng lợi, có công sức và sự hy sinh to lớn của toàn dân đoàn kết, chiến đấu kiên cường, dũng cảm và mưu trí sáng tạo. Làm nên thắng lợi, có cống hiến lớn lao của vị tướng tổng chỉ huy Lý Thường Kiệt. Với tài năng thao lược và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh kiệt xuất, luôn luôn thể hiện một tư tưởng tiến công rất cao trong chỉ đạo tác chiến.
    Ông liên tục tiến công kẻ thù: đánh phủ đầu quân xâm lược khi chúng chưa kịp hành động, phản công nhanh chóng và quyết liệt ngay khi bị kẻ thù tiến công, đánh ngay vào đội quân mạnh nhất của địch, ngay trên hướng tiến công chủ yếu của chúng.
    Ông khéo kết hợp giữa tiến công và phòng ngự tích cực, giữa các cách đánh tập trung, đánh trận địa và đánh vận động. Ông vận dụng tài tình sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với công tác chính trị và hoạt động ngoại giao.

    Non sông sạch bóng quân thù. Lúc này vua mới 12 tuổi. Lý Thường Kiệt lại tiếp tục gánh trách nhiệm lớn của triều đình trong công cuộc xây dựng đất nước, chăm lo đời sống nhân dân. Ông đã cho tu bổ đê điều, đường sá, đình chùa hư hỏng trong chiến tranh và tiến hành nhiều biện pháp nhằm cải tổ bộ máy hành chính trong toàn quốc.

    Năm 1028, ông thôi chức Tể tướng và được cử về trị nhậm trấn Thanh Hóa.
    Ngày 2 tháng 6 năm 1105. Người anh hùng dân tộc từ giã cõi đời. Cả xứ Thanh và kinh thành Thăng Long lập đền thờ ông.
Lý Thường Kiệt hiển linh
    Chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn thuộc khu Danh thắng Thành Nhà Hồ (Thanh Hóa) do Lý Thường Kiệt xây, nay bừng sáng hào quang Lý Thường Kiệt hiển linh cùng con cháu giữ Đất nước và biển Đông.
    Bài minh chùa Linh Xứng còn ghi lời Lý Thường Kiệt:
Cái mà nối đời lưu truyền là Đạo cả, là tiếng thơm. Mở túi để cho Đạo cả và tiếng thơm được rạng rỡ”.
    Lý Thường Kiệt và các anh hùng phi phàm, sống cứu dân, cứu nước Việt, khi về Trời anh linh tỏa rạng tiếng thơm, tiếp sức, cứu giống nòi, giữ giang san, không để giặc đến cướp. Khi sơn hà nguy biến, là lúc các vị Thánh Nhân, Thần Nhân đất Việt tập hợp sức mạnh hiển linh cùng con cháu cứu nhà, cứu nước.
    Thần Nhân, Thánh Nhân Việt luôn giáng bút, truyền thông điệp Tâm linh, truyền năng lượng huyền bí… vào một ai đó, chỉ bảo con cháu, tiếp sức mạnh, hợp lực cùng con cháu đánh giặc.
Nước Nam thường có Thánh Tài.
    Mỗi khi sơn hà nguy biến là Thánh tài xuất hiện.
    Người viết bài này tin rằng mình luôn được Thánh, Thần, Phật Mẫu giáng bút.
    Dù lý sự kiểu gì, thì cũng không có câu trả lời.
    Dù muốn hay không muốn. Thích hay không thích. Ghét hay yêu. Thì vẫn cứ thế thôi. Chữ Thánh Hiền cứ hiện về bất chợt trong tôi. Đêm tàn. Trăng lặn. Sao mờ. Bình minh. Hoàng hôn. Nắng hay mưa. Bão hay giông. Ốm hay khỏe. Buồn hay vui… Chữ Thánh Hiền cứ hiện về bất ngờ, ào ạt, thúc giục, cồn cào ruột gan, bồn chồn tấc dạ, bắt tôi phải gõ ra trên máy tính, truyền sóng không gian.
Tâm hồn người Việt nó như vậy. Văn hóa Tâm linh Việt nó như vậy. Nó không giống người Trung Quốc. Nó không giống người Mỹ- Anh- Pháp…
    Cho dù tôi cố sức học Tinh hoa Trung Quốc, Mỹ, Pháp Anh, Thụy Điển… để sống và viết như họ thì cũng không thể được.
    Bởi tôi mang dòng máu Rồng Tiên, tôi mang gen di truyền Bách Việt, tôi chôn nhau cắt rốn trên đất đồng, đồi rừng Nam Quốc Sơn Hà.
    Tôi thở không khí, uống nước, ăn gạo, rau hoa, quả, uống thuốc cây lá Nam Quốc Sơn Hà.
    Tôi là một tiểu vũ trụ cùng tần số sóng Thiên, nối kết với Tổ Tiên Nam Quốc Sơn Hà.
    Tất cả những người dân Việt, mang dòng máu Lạc Hồng cũng giống tôi. Tất cả đều thở hít, gìn giữ, bảo vệ, dựng xây Nam Quốc Sơn Hà.
    Không một kẻ giặc nào có thể tiêu diệt nổi tình yêu và sức mạnh giữ gìn, bảo vệ Nam Quốc Sơn Hà của mỗi người dân Việt.
    Và người Trung Quốc, người Anh- Pháp- Mỹ… cũng vậy thôi. Họ đều yêu giống nòi và giang sơn, biên giới lãnh thổ của họ, do Chúa Trời phân định, như người Việt yêu Nam Quốc Sơn Hà.
     Hà cớ gì                                 Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
                                                   Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
    Lý Thường Kiệt Hiển Linh. Thánh Nhân, Thần Nhân Việt Hiển Linh. Thánh Tài Nước Nam đang xuất hiện trong sự hiển linh Thần Thánh.

    Vào lúc 10h 25 phút Ngày Trăng Rằm Mùa Vu Lan 2011 (14- 8- 2011) tại Đền Ngọc Sơn- Đài Nghiên, Tháp Bút, tôi đã cầm bút ghi:

Lý Thường Kiệt Hiển Linh

Mẫu, Phật, Thánh, Thần, Người là Ta
Vận khí Hiền tài biến hoá xa
Hai vai gánh vác cả sơn hà
Âm Dương hoà hợp khải hoàn ca
Càn Khôn vũ trụ vòng Thành Ốc
Nghìn mắt Nghìn tay, giữ núi sông
Huyền thông thiêng lực kết Tâm lành
Đất Trời ắt trở lại tươi xanh

Mai Thục


(Tư liệu trong bài tại internet)

Hồ Gươm Mùa Hoa Sen 2014.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 16.6.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn