Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
tượng đài Hưng Đạo Vương ở Trường Sa

Đức Thánh Trần

&

Hịch Tướng Sĩ





Ai cũng biết, các vị Thánh Thần Việt Nam đều là Nhân Thần. Họ là những con người thật đã sống vì dân và chết vì dân. Họ qua đời được nhân dân tôn Thánh Thần để tôn vinh. Nhưng trong tâm thức người Việt mọi thời đại, sự tôn vinh đó đậm đầy chất Tâm linh.

   Chúng ta tin tưởng các vị Thánh Thần của dân Việt luôn tồn tại, tỏa hào quang, gửi thông điệp, truyền năng lượng, giáng chữ, yêu thương, che chở… đồng hành cùng chúng ta đánh đuổi giặc trong, giặc ngoài, giữ nhà, giữ nước, xây dựng thể chế Nhân quyền, Dân chủ, Tự do, Bình đẳng, Bác ái… mà Nhà nước Hùng Vương mấy nghìn năm trước đã đạt được thành quả.
   Dù ai đó có tư duy sắt thép, vô Đạo. vô Thần, xúc phạm Thánh Thần, thì cũng không dám nghĩ rằng Trần Hưng Đạo đã chết.
   Hưng Đạo Đại Vương- Đức Thánh Trần đang hiện hữu cùng chúng ta, đuổi giặc Bắc đang xâm lược, biển trời, đất nước Việt Nam.
   Bằng cớ là Hịch Tướng Sĩ đang vang cuồn cuộn biển Đông, chuyển động 90 triệu dân toàn cõi Đất Việt, lay động toàn cầu.

                           Rước Tượng Đức Thánh Trần Ra Trường Sa

   Ngày 24-5, tại cột mốc chủ quyền trên thị trấn Trường Sa, huyện đảo Trường Sa, Đoàn công tác tỉnh Hải Dương đã trao tặng quân, dân huyện đảo bức tượng Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn cùng các hiện vật được thỉnh từ đền Vạn Kiếp gồm ấn và cờ nhà Trần, đất thiêng, chân nhang, tác phẩm "Hịch tướng sĩ".

                                                                       Hịch Tướng Sĩ

   “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.

   Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Ði thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?

   Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?

   Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ làm nguy; nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau nguội làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?

  Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

   Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?

   Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta”
   Hưng Đạo Đại Vương

   Ông là Trần Quốc Tuấn, con trai của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu vua Trần Thái Tông, quê làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Hà Nam Ninh (nay thuộc tỉnh Nam Định). Năm sinh của ông không rõ ràng, có tài liệu cho là năm 1228, có tài liệu thì cho là năm 1230 hay 1232.
   Ông có vốn tài quân sự, lại là tôn thất nhà Trần, do đó trong cả 3 lần quân Nguyên - Mông tấn công Đại Việt, ông đều được vua Trần cử làm tướng chống trận.
   Đặc biệt, kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 2 và thứ 3, ông được vua Trần Nhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ.
   Dưới tài lãnh đạo của ông, quân dân Đại Việt chiến thắng ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đuổi giặc ra khỏi nước, được phong tước Hưng Đạo Vương.
Sau khi kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 3 thành công, ông về trí sĩ ở trang viên của mình tại Vạn Kiếp. Các vua Trần vẫn thường xuyên đến vấn kế sách.

   Ông mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (tức ngày 5 tháng 9 năm 1300), thọ 74 tuổi. Nhân dân đương thời lập đền thờ ông gọi là Đền Kiếp Bạc và rất nhiều nơi trên đất nước Việt Nam không thể kể hết.
   Là một Tiết chế đầy tài năng, khi "dụng binh biết đợi thời, biết thừa thế tiến thoái" đặc biệt là có một có một lòng tin sắt đá vào sức mạnh và ý chí của nhân dân, của tướng sĩ, nên Trần Hưng Đạo đã đề ra một đường lối kháng chiến ưu việt, tiêu biểu là các cuộc rút lui chiến lược khỏi kinh thành Thăng Long, để bảo toàn lực lượng. Kế hoạch "thanh dã" (vườn không nhà trống) và những hoạt động phối hợp nhịp nhàng giữa “hương binh” và quân triều đình, những trận tập kích và phục kích có ý nghĩa quyết định đối với cả chiến dịch như ở Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vân Đồn, và nhất là ở Bạch Đằng... đã làm cho tên tuổi ông bất tử.
   Tư tưởng quán xuyến suốt đời của Trần Hưng Đạo, là một tấm lòng tận tụy đối với đất nước, là ý muốn đoàn kết mọi tầng lớp trong dân tộc thành một lực lượng thống nhất, là tinh thần yêu thương dân. Cho nên trước khi mất, ông vẫn còn dặn vua Trần Anh Tông rằng: "Phải nới sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc" cho sự nghiệp lâu dài của nước nhà ”.
                                                                       Nhân Cách Lớn của Hưng Đạo Đại Vương
                  - Vì nước, quên thù nhà
                  - Không tham chức, biết gạt bỏ hiềm khích riêng
                  - Khéo tiến cử người tài giỏi, kính cẩn giữ tiết làm tôi
                                                                       Lời Tâm Huyết Trước Khi Mất
    Tháng Sáu ( âm lịch) năm Canh Tý ( 1300 ), Trần Hưng Đạo ốm. Vua Trần Anh Tông ngự tới nhà thăm, hỏi rằng:
   "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?".
   Hưng Đạo Đại Vương trả lời:
    "Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống . Đó lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".
                                                                          Đức Thánh Trần

   Dân Việt tôn Hưng Đạo Đại Vương làm Đức Thánh Trần. Trong tín ngưỡng dân gian, người ta thường tôn danh ông là Đức Thánh Ông Trần Triều hay ngắn gọn hơn là Đức Ông Trần Triều.
Nếu một người có căn số hầu các giá nhà Trần thì giá Đức Ông có thể là giá mở khăn đầu tiên. Khi ngự đồng, ông mặc áo đỏ, thêu rồng và hổ phù (có một số nơi hầu ông, chân đi hia, đầu đội mũ trụ), có thể mặc áo choàng bên ngoài, một số vùng hầu ông thường múa thanh đao.
   Văn hát giá Đức Thánh Ông Trần Triều có một số đoạn như:

Thánh Ông có lệnh truyền ra
Các quan thủy bộ cùng là chư dinh
Hô vang trấn động Nam thành
Đánh Đông dẹp Bắc tung hoành mọi nơi”
   Hay khi Đức Ông về ra uy tróc tà, người ta cũng hát rằng:

Phép ông đôi má thu phình
Lưỡi thời lấy huyết quyết linh thần phù”
   Đền thờ Đức Thánh Ông Trần Triều cùng với gia đình và tướng lĩnh của ông được nhân dân lập lên ở khắp nơi nhưng uy nghiêm và nổi tiếng nhất phải kể đến: Đền Kiếp Bạc ở Chí Linh, Hải Dương, được lập lên trên nền dấu tích ở nơi mà năm xưa ngài cho đóng quân doanh Vạn Kiếp, sau đó phải kể đến hai ngôi đền ở đất Nam Định, nguyên quán của ngài, đó là Đền Cố Trạch (Đền Trần) và Đền Bảo Lộc, đều thuộc Thiên Trường, Nam Định. Ngoài ra còn có Đền Phú Xá ở Hải Phòng (tương truyền là nơi đóng quân nghỉ chân năm xưa)...
   Ngày tiệc Đức Thánh Trần thường được tôn là ngày “giỗ Cha” của toàn thể dân tộc Việt Nam vào ngày 20/8 âm lịch (là ngày Đức Ông hóa) và được tổ chức long trọng nhất tại đến Kiếp Bạc. Ngoài ra vào giữa đêm ngày 14/1 âm lịch còn có tổ chức ban ấn của Đức Thánh Trần tại Đền Bảo Lộc.
   Có thể nói lịch sử Văn hóa Tâm linh Việt Nam duy nhất linh thiêng và sống động trong đời sống hằng ngày có Anh hùng dân tộc Hưng Đạo- Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã hiện hữu từng ngày, từng giờ trong tâm thức người Việt Nam hiện đại.
   Ông là vị Thánh phù hộ cho sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước và giúp dân diệt trừ tà ma, chữa bệnh.
   Hiện nay trong các Đền, Chùa, Phủ… tại Việt Nam, mỗi ngày 24/24h người dân Việt đều thực hiện các nghi lễ Thánh, thỉnh cầu Đức Thánh Trần cứu nước, cứu dân.
   Nơi nào có đền thờ Đức Thánh Trần, nơi đó giặc Bắc khiếp vía kinh hồn.
   Bằng chứng là Đền thờ Đức Thánh Trần ở biên giới Lào Cai ngày đêm tỏa khí hùng thiêng. Những Cụ Đa cổ thụ xum xuê, rợp bóng che chở dân, nước, trừ giặc trong, ngoài, trừ tà ma, quỷ quái. Không một mảnh bụi bẩn nào của kẻ thù chạm tới được ngôi đền.
   Người viết bài này đã nhiều lần có cơ duyên thăm Đền Trần tại Lào Cai, nhưng rất vội, không thể khám phá bí ẩn ngôi đền Đức Thánh Trần kỳ diệu, linh ứng này.
                                                                          Đền Thượng Lào Cai
   Theo (Vĩnh Long online) Đền Thượng thờ vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, được xây dựng bề thế trên ngọn đồi thuộc khu vực phường Lào Cai (TP Lào Cai). Đền ở sát đường biên giới Việt Nam- Trung Quốc, chỉ cách một con sông (nơi hợp lưu giữa sông Nậm Thi và sông Hồng) sang bên kia là đất Vân Nam (Trung Quốc).
   Đền Thượng là nơi thờ Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo- vị tướng, người anh hùng dân tộc- một danh nhân lịch sử vĩ đại, vị Thánh linh thiêng tôn quý trong tâm thức của các thế hệ người Việt Nam.
   Năm 1257, ông đã trực tiếp chỉ huy quân đội Đại Việt phòng thủ ở cửa ải Lào Cai, khi đó được coi là vị trí cửa ngõ xung yếu, quan trọng nhất của Việt Nam trong trận chiến chống quân thù.
   Ghi nhớ công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc, thế kỷ XVII, người dân làng Lão Nhai đã xây dựng ngôi đền thờ Đức Thánh Trần tọa lạc uy nghi trên đồi Hỏa hiệu thuộc núi Mai Lĩnh, nay thuộc phường Lào Cai (TP Lào Cai).
  Nhân dân khu vực biên giới đã trồng cây đa và lập đền thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và vào rằm tháng Giêng hàng năm tại đây vẫn diễn ra Lễ hội đền Thượng thu hút du khách thập phương về dâng hương, dâng lễ mở hội tỏ lòng thành kính trước vị tướng tài có công bảo vệ bờ cõi đất nước.
   Cây đa có độ tuổi khoảng 300 năm, cao 36m, chu vi 44m và là cây đa có chu vi toàn bộ thân cây lớn nhất Việt Nam.

Hồ Gươm Mùa Hoa Bằng Lăng 2014.
(Nguồn tư liệu trong bài tại internet)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 04.6.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn