Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





PHÁP CÚNG DƯỜNG





Nếu không nhờ cái Duyên từ xa xưa nào đó, khiến tôi vì tò mò rồi bị nhiếp vào Đạo Phật. Nếu không được Ân Sư tặng cho 2 Quyển Kinh DUY MA CẬT, VIÊN GIÁC, và tận tình hướng dẫn. Nếu không vì đọc thấy lý lẽ trong Kinh xác đáng. Nếu không vì thắc mắc tìm hiểu xem Đạo Phật dạy những gì? Làm những điều đó để được gì? Đạo Phật dắt người tu về đâu?… Hẳn là tôi cũng như mọi người, cho rằng Đạo Phật dành riêng cho những Tu Sĩ. Cũng cho rằng nếu muốn Tu Phật thì nhất định phải Xuất Gia, phải đầy đủ hình tướng, phải đầu tròn, áo vuông. Phải giữ hàng mấy trăm Giới… Đi đứng, ngồi nằm cũng phải giữ Tứ Oai Nghi. Phải sống xa rời trần thế, biệt lập với thế nhân, không được làm việc gì có dính dáng đến thế tục. Cuộc sống hiến trọn cho con đường tu hành. Cả đời chỉ Ngồi Thiền, Tụng Kinh, Niệm Phật, học pháp, giảng pháp, cứu độ cho bá tánh, thậm chí không được suy nghĩ gì ngoài việc Đạo... Như thế mới được gọi là người tu. Kinh là để cho các vị tu hành Tụng. Người đời mến mộ Đạo nhiều lắm là đến gặp Thầy nào mà mình đánh giá là bậc chân tu để xin Quy Y Tam Bảo, rồi thỉnh thoảng dành ít thì giờ tới Chùa nghe Kinh, nghe thuyết pháp. Muốn kiếm chút phước báo thì chỉ việc cung dưỡng cho những bậc tu hành. Rồi thì theo những ngày Lễ, Vía mà cúng bái, mà Cầu An cho mình và gia đình. Cầu Siêu cho người qua đời. Tất cả đều phải nhờ những TU SĨ chủ trì cho, vì mọi người ai cũng tin là chỉ có các Tu Sĩ thanh tịnh chú nguyện thì mới linh, Chư Phật, Chư Bồ Tát mới nhận lời, thân nhân của mình mới được về Tây Phương Cực Lạc.

Mọi người mặc nhiên chấp nhận có 2 giới trong Đạo Phật: Một là TU SĨ, Xuất Thế Gian, Ly Gia, Cắt Ái. Phần còn lại là Phật Tử, có nhiệm vụ hỗ trợ mọi mặt cho những Tu Sĩ yên tâm mà tu tập, sau đó sẽ “Độ” cho mình. Trong nhóm Phật tử, người muốn đi sâu vào Đạo hơn một chút thì trở thành Cư Sĩ. Nhưng một khi đã có gia đình, thì không thể nào tu hành thành tựu như những người sống đời thanh tịnh, không vướng bận chuyện gia đình, kinh doanh, cơm áo, gạo tiền.. của thế tục. Thế nhưng, ngược lại, nhờ đọc và tìm hiểu khá nhiều Bộ Kinh Đại Thừa, tôi thấy rằng: Thật ra cách thức tu hành, Trai Giới, Tụng Kinh, Niệm Phật để cầu xin nói trên đó là THỜ PHẬT, không phải là Tu Phật để Thành Phật, hay Giải Thoát, đúng như lời Đức Thích Ca đã Thọ Ký “Chúng sinh là Phật sẽ thành” theo tinh thần của các Tổ chính thức được Truyền Y Bát giảng dạy.
Việc tu hành theo Đạo Phật để được Giải Thoát thì không những không có lằn ranh, hay một sự khác biệt nào giữa 2 bậc: TU SĨ và CƯ SĨ, mà mọi người, bất cứ ai, không phân biệt giới tính, độ tuổi, trình độ, nơi chốn… đều có thể thành tựu như nhau.
Cách thức tu hành thì chỉ nhắm vào cái TÂM mà Tu, Sửa, vì thành Phật hay thành ma ở đó, mà chứng Thánh hay đọa Phàm cũng ở đó. Hình tướng không ảnh hưởng gì đến việc tu sửa. Như thế mới phù hợp với tinh thần HOA SEN, “giữa bùn mà không vướng mùi bùn” mà Đức Thích Ca muốn tất cả mọi người đạt được. Ngược lại, nếu cho rằng muốn tu hành thì phải bỏ đời để đóng khung trong một nơi tách biệt với đời thì cũng giống như bứng Sen mang trồng vào chậu nước tinh khiết, thì ý nghĩa Giải Thoát cũng không còn, cũng không phù hợp với biểu tượng là Hoa Sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Hơn nữa, bài Kệ của Lục Tổ Huệ Năng nói rõ: “Phật Pháp tại thế gian. Bất ly thế gian giác. Ly thế mịch Bồ Đề, Cáp như cầm thố giác”. Có nghĩa là Pháp Giải Thoát ở tại thế gian. Không rời thế gian mà Giác Ngộ. Rời thế gian để tìm Bồ Đề thì cũng như tìm sừng thỏ. Vì phải ở tại thế gian, va chạm với Phiền não mới cần Giải Thoát. Xa rời thế gian, xây tường che chắn để phiền não không tới gần được thì cần gì phải tìm Giải Thoát? Như thế, rời thế gian để tìm Bồ Đề cũng giống như tìm sừng thỏ! Nghĩa của Tu chỉ là SỬA, Sửa những tính xấu: Tham, Sân, Si, mạn, Ngã chấp, Pháp chấp vv... để hết Phiền Não, không phải để thành Thánh, Thành Phật theo nghĩa thành một vị Thần Linh. Tu hành thật ra cũng không phải làm điều gì ghê gớm mà người bình thường không thể làm được, bằng chứng là Đức Thích Ca và Chư Tổ, trước khi tu hành, đắc đạo thì cũng là con người bình thường như tất cả chúng ta. Việc tu hành chỉ cần thực hiện nơi Tâm. Hành giả cần TÌM TÂM, THẤY TÂM rồi TU SỬA Ở ĐÓ GỌI LÀ TU TÂM. Như vậy cần gì phải lên non cao, động vắng hay vô Chùa, hoặc phải bỏ hết công ăn việc làm, cha mẹ, vợ con, nhà cửa mới tu được. Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết: “Cõi nước chỗ nào nếu có người thọ, trì, đọc, tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời tu hành. Hoặc là chỗ có quyển Kinh. Hoặc trong vườn, hoặc dưới cây, hoặc Tăng phường, hoặc nhà Bạch Y, hoặc ở điện đường, hoặc núi hang đồng trống, trong đó đều nên dựng tháp cúng dường.
Vì sao? Phải biết chỗ đó chính là Đạo Tràng. Các Đức Phật ở đây mà đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Các Đức Phật ở đây mà chuyển Pháp Luân. Các Đức Phật ở đây mà nhập Niết Bàn”(Phẩm Như Lai Thần Lực). Rõ ràng Kinh không hề phân biệt nơi chốn để tu hành. Bất cứ ở đâu đều Thành Phật được. Miễn là ĐÚNG NHƯ LỜI TU HÀNH.
Trước khi đi đến kết luận này, bản thân tôi cách đây gần 40 năm cũng đã bước vào Đạo Phật một cách mơ hồ. Cũng từng quay cuồng với hàng trăm thắc mắc. Bối rối trước những câu Kinh Bát Nhã: “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc. Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”, nghe rất có lý nhưng không biết có tác dụng gì! Hoặc ngẩn ngơ trước những Công Án có vẻ cao siêu. Những Thiền Sư có vẻ ung dung, thoát tục. Đệ tử hỏi pháp thì chỉ “đưa ngón tay lên”, quăng phất trần, hét, đánh… mà cũng đào tạo được một số Chứng Đắc, ngông nghênh, kiêu mạn. Cho Phật là “Que cứt khô”, là “Ba cân mè”. Gọi Thầy bằng “Lão già” mà cũng được ca tụng hết lời! Tôi cũng từng mơ màng Tây Phương Cực lạc với 7 Báu khắp nơi, không biết làm thế nào để đến được. Cũng hết sức ngưỡng mộ Phật với Chư Bồ Tát trang nghiêm, thanh tịnh, và thật sự lúng túng, không biết phải làm gì với những Lý thuyết của Đạo Phật nghe rất hấp dẫn: nào là MÊ, NGỘ. Nào là THIỀN, nào là GIỚI, ĐỊNH, HUỆ, nào là VÔ THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, VÔ NGÃ. TỨ DIỆU ĐẾ, BÁT CHÁNH ĐẠO, LỤC ĐỘ, LỤC ĐẠO, TỪ, BI, HỈ, XẢ, TỨ NHIẾP, TỨ Y, THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN, NIẾT BÀN, GIẢI THOÁT vv.. Chưa biết phải làm gì với mớ Giáo Pháp đó, thì thêm vào đó, vô số Phật Ngôn, Thiền Ngôn, những Bộ Luận dày cộp! Không chỉ của các Tổ chính thức, mà mạnh ai tu hành, thời xưa, thời nay, ai thấy nhiều, thấy ít đều có quyền Luận, Giảng…
Qua một thời gian khá dài, bỏ hết việc đời, lao vào nghiên cứu Kinh sách để rồi như người lạc vào mê hồn trận. Kinh nào cũng nói “đây mới là Kinh cao nhất. Chư Phật do đây mà tu hành, đắc đạo”. Rồi thì MẬT TÔNG, HIỂN TÔNG, TỊNH ĐỘ TÔNG, ĐẠI THỪA, PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY, KHẤT SĨ… bên nào cũng cho mình mới đúng là CHÁNH PHÁP. Bên ngoài thì kẻ nói rằng nên tu theo Đốn, vì “Mê nhất kiếp. Ngộ nhất thời”. Người cho là chúng ta căn cơ chậm chạp nên theo Tiệm, cứ từ từ mà tiến cho chắc ăn! Người nói chỉ cần Tu theo TỊNH ĐỘ. Niệm Phật thôi mà cũng sẽ siêu thăng… làm người mới bước vào thêm hoang mang. Do vậy, tôi tin nếu người tu thời này ai không muốn phó mặc đường tu cho rủi, may định đoạt chắc cũng đầy thắc mắc cũng giống như tôi, trước rừng Phật pháp bao la và người giảng pháp thì hình tướng trang nghiêm, giảng luận thao thao. Ai cũng tu hành nhiều năm, có cả hệ thống Chùa chiền, đệ tử đông đảo, đầy tính thuyết phục.
Qua tham khảo nhiều Kinh, cộng với thực hành để kiểm nghiệm, đã đúc kết cho mình con đường tu hành một cách rõ ràng, tôi thấy có một số PHÁP cần được làm sáng tỏ, thí dụ như PHÁP CÚNG DƯỜNG - là một Pháp rất quan trọng mà người tu Phật nào muốn đạt kết quả đều phải thực hành- Vì PHẢI CÚNG DƯỜNG PHẬT THÌ CUỐI CÙNG NGƯỜI CÚNG DƯỜNG MỚI THÀNH PHẬT. Nhưng Pháp này từ nhiều đời đã bị hiểu lầm, vô tình trở thành phương tiện cho những kẻ lợi dụng cửa Phật, “mượn Đạo, tạo Đời” để Đạo Phật phải chịu tiếng oan bởi đánh giá những người ngoại đạo.
Thật vậy. Phải chăng rất nhiều Kinh đề cập đến PHÁP CÚNG DƯỜNG. Nào là sau khi nghe Phật thuyết pháp thì: “Đế Thích hiến cung điện”, “dâng lọng”, “cởi Y đã mặc trên người dâng lên Phật”. (DPLH). Trong Kinh DUY MA CẬT thì Vương Tử Nguyệt Cái “cởi Y báu và đồ trang sức nơi thân cúng dường Phật”. Trưởng giả tử Thiện Đức “Mở chuỗi Anh Lạc giá đáng trăm nghìn lượng vàng dâng cho Cư Sĩ Duy Ma Cật”! Kinh HOA NGHIÊM cũng viết: “Rộng sắm đồ cúng dường”! Người đọc không tránh khỏi ý nghĩ: Lẽ nào Chư Phật tu hành xong, khi đi thuyết pháp thì thu gom hết của cải của bá tánh? Mọi người khuyến khích việc cúng dường bằng truyền thuyết ca tụng một bà lão ăn mày có 1 đồng bạc cũng cúng để mua dầu đốt cho Phật, và cho rằng dầu đó đốt mãi không cạn! Pháp này bao đời qua được khai thác triệt để bởi hai thành phần: Người CÚNG DƯỜNG, và NGƯỜI NHẬN. Để mọi việc được sáng tỏ, chúng ta xét lại toàn bộ vấn đề:

1/- Trước hết nói về NGƯỜI CÚNG DƯỜNG.

Phải chăng do mọi người nghe giảng rằng: “Cúng dường cho Phật, hay cho các bậc tu hành thì Phước Báu Vô Lượng”? Vì thế, họ đã khởi THAM, muốn dùng tài vật để trao đổi? Muốn bỏ công, của ít mà đắc quả cao nhất. Điều này Lục Tổ dạy: “Đạo nào do thí bạc mà thành”! Nhưng hình như ít ai chịu đọc Kinh để thấy lời Tổ nhắc nhở. Trong đó cũng phải nhắc đến Vua Lương Võ Đế, cả đời cất Chùa, độ Tăng. Vua cất đến 72 kiểng Chùa, tưởng là “Công Đức vô lượng”, không dè khi gặp Tổ Đạt Ma thì Tổ nói: Đó chỉ là Phước Đức, nên chắc Vua cũng bất ngờ. Trong Kinh không thấy Tổ giảng tiếp, nên chắc sau đó Vua Lương Võ Đế cũng không thể nào phân biệt được thế nào là PHƯỚC ĐỨC, thế nào mới là CÔNG ĐỨC VÔ LƯỢNG.

2/- Đối tượng được CÚNG DƯỜNG là PHẬT.

Kinh viết: “PHẬT LÀ VÔ TƯỚNG, DO VÔ LƯỢNG CÔNG ĐỨC MÀ THÀNH”. Nếu đã VÔ TƯỚNG thì làm sao ta có thể Thấy, gặp Phật được để Cúng? Cúng qua trung gian liệu họ có chuyển giúp? Họ sẽ chuyển cách nào khi Phật nhập diệt cách đây đã mấy ngàn năm? Mang phẩm vật đặt trước Tượng Phật để cúng còn vô lý nữa. Vì TƯỢNG đâu phải là PHẬT? Nhưng hình như người đời ít chịu khó phân biệt để hiểu cho đúng. Như vậy thì chừng nào mới Thành Phật như mong ước?
Lời Phật thì không hư vọng. Nếu ta thực hành Pháp nào đó rất kiên trì mà không thành công thì có hai lý do: Một là Kinh viết sai. Hai là ta hiểu sai nên hành sai. PHÁP CÚNG DƯỜNG ĐÚNG THEO KINH DẠY LÀ CÚNG DƯỜNG PHẬT XONG LÀ PHẢI THÀNH PHẬT NGAY. Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết: “con gái của Vua Rồng, mới có 8 tuổi đầu, nhờ cúng Phật viên châu “có giá trị liên thành”. Phật nhận, và nàng thành Phật ngay lập tức. Nhưng làm sao mọi người có được Viên Châu giá trị đến như vậy? Trong khi đó thì Đức Thích Ca thì Thọ Ký: “Tất cả Chúng Sinh là Phật sẽ thành”. Như vậy, hẳn viên châu đó mang một ý nghĩa khác, không phải là châu báu trần gian.
Đúng như thế. VIÊN CHÂU CÓ GIÁ TRỊ LIÊN THÀNH mà Kinh viết: Đó là cái VỌNG TÂM. TÂM này chứa đầy TAM ĐỘC, tức THAM, SÂN, SI, nên Chư Vị Giác Ngộ gọi là CÓ GIÁ TRỊ LIÊN THÀNH. Người XẢ được cái VỌNG TÂM thì sẽ được Giải Thoát hay còn gọi là Thành Phật. Đối chiếu với Kinh Viên Giác, ta thấy Bài Kệ cũng nói lên ý nghĩa đó: “NẾU NGƯỜI ĐOẠN THƯƠNG, GHÉT. CÙNG VỚI THAM SÂN SI. CHẲNG CẦN TU GÌ KHÁC. CŨNG ĐỀU ĐẶNG THÀNH PHẬT”

3.- Về PHÁP CÚNG DƯỜNG.

PHÁP CÚNG DƯỜNG đúng theo lời Phật dạy là phải đạt TAM LUÂN KHÔNG. Tức là KHÔNG CÓ NGƯỜI CHO. KHÔNG CÓ CỦA CHO. KHÔNG CÓ NGƯỜI NHẬN. Đó là “CON ĐƯỜNG ĐỘ SINH”được diễn ra TRONG VÔ TƯỚNG, trong NỘI TÂM của người tu.
Pháp đó sẽ được thực hiện như sau: Người CHO hay NGƯỜI CÚNG DƯỜNG là chính mình. CỦA CÚNG DƯỜNG là những CHẤP LẦM, NHỮNG ÁC TÂM, NHỮNG TÂM THAM LAM, SÂN HẬN, SI MÊ, GIẬN GHÉT… cũng của chính mình. NGƯỜI NHẬN là CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT cũng của chính mình hay gọi tên khác là PHẬT CỦA MÌNH. Đó là việc TU SỬA CÁI TÂM hay gọi tắt là TU TÂM hay còn gọi là CON ĐƯỜNG ĐỘ SINH. Con đường này ai chưa thực hành thì không thể thành tựu.
CHÚNG SINH được Lục Tổ giải thích: “Chư Thiện Tri Thức! Chúng Sanh trong tâm mình là: lòng tà mê, lòng giả dối, lòng bất thiện, lòng ghen ghét, lòng ác độc. Các tâm này đều gọi là Chúng Sanh”.
ĐỘ” một Chúng Sinh, cho nó được Giải Thoát gọi là CÚNG DƯỜNG MỘT VỊ PHẬT. Chúng Sinh thì “Trùng trùng Duyên khởi”. Do đó, một đời tu hành, mỗi người CÚNG DƯỜNG VÔ LƯỢNG VÔ SỐ ỨC ĐỨC PHẬT. Còn nếu ai đó tạc vô số Tượng Phật rồi Cúng Dường thì chắc chắn là sai hoàn toàn, vì rõ ràng: Tượng đâu phải là Phật!
Độ tận Chúng Sinh” cũng không phải là diệt hết mọi tư tưởng, không dám nghĩ gì hết, để trở thành ngu ngơ như kẻ không hồn, mà chỉ Diệt Độ những cái khởi Xấu, Ác mà Đạo Phật gọi là Chúng Sinh mà thôi.
Để hiểu được Kinh Phật cần phải nắm được Ý. Nhưng nhiều người đã “Y kinh giải nghĩa”, khiến sinh ra hiểu lầm trầm trọng. Nhà Văn Ngô Thừa Ân sao chép nguyên văn, gán cho Như Lai Phật Tổ đòi Tam Tạng cái Bát bằng vàng của Vua Đường tặng lúc lên đường thì mới ấn chứng cho. Rõ ràng: vừa CÓ CỦA ĐỂ CÚNG. CÓ NGƯỜI CÚNG. CÓ NGƯỜI NHẬN, là “Tam Luân Có” trái ngược hoàn toàn với PHÁP CÚNG DƯỜNG của Đạo Phật dạy. Vì thế, việc phổ biến hình ảnh đó chẳng những không có công đức đối với Đạo Phật, mà còn trở thành “báng Phật, nhạo Pháp”, vì Phật là Vô Tướng. Kinh dạy: “Thấy Tướng ở đâu là thấy Ma ở đó”.
Từ Cảnh Giả, Phật dựng trong NỘI TÂM của hành giả, Kinh VIÊN GIÁC gọi là CẢNH GIỚI BẤT NHỊ, khi mang ra thực hành bên ngoài thì trở thành nhị thị, thành phản tác dụng. Mọi người thấy thế cho rằng đã là bậc Thần Linh mà còn ham châu báu. Người phàm ôm giữ của cải, tài sản thì cho rằng Tham, còn Thần Linh thì lại có toàn quyền bắt người khác phải cúng cho mình! Đạo Phật dạy người trần bỏ Tham đi, Xả của cải đi, trong khi Tu Sĩ, chỉ cần khoác áo tu hành là có quyền thoải mái nhận của bá tánh cúng dường, bao nhiêu cũng được, làm cho nhiều người đâm ra thắc mắc. Chẳng lẽ Phật quá ưu ái đối với đệ tử Ngài? Vậy thì Phật bình đẳng tế độ chỗ nào? Liệu có quá bất công cho hàng Phật Tử không? Đó là chỗ mà người nhận của cúng dường không để ý tới. Phải biện minh thế nào cho thuận đạo mà cũng không trái với đời đây?

4.- Về CỦA CÚNG DƯỜNG.

CỦA CÚNG DƯỜNG được mô tả là những thứ quý giá nhất, như CHÂU BÁU, CHUỖI NGỌC, LÂU ĐÀI… Những thứ đó mang ý nghĩa là Người CÚNG DƯỜNG CỔI BỎ, XẢ ĐI những CHẤP NHẤT, VƯỚNG MẮC, ÔM ẤP, TRÚ NGỤ, ĐEO ĐẲNG TỪ VÔ LƯỢNG KIẾP NƠI CÁI THÂN, CÁI TÂM, ĐỂ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC GIẢI THOÁT CHO BẢN THÂN, gọi là CÚNG DƯỜNG CHO PHẬT. Chính vì ôm giữ từ đời nọ, sang đời kia, không phút nào chịu rời bỏ, giữ bo bo, giống như người giữ kho báu, nên Chư Vị Giác Ngộ quá khứ mô tả như BÁU VẬT, NHÀ CỬA, CHUỖI TRÂN CHÂU, Y BÁU, Y TRỜI, HOA TRỜI vv... Như vậy thì mọi việc đã rõ: Hoàn toàn không dính gì đến nhà cửa, tài sản, châu báu, tiền bạc của thế gian. Do đó người mang nhà cửa, tiền của, châu báu cúng cho người khác thì mất tài sản một cách oan uổng.
Do không đọc Chính Kinh nên hiểu sai, hành sai thì tự thân phải chịu thiệt thòi. Lỗi đó không phải do Kinh cố tình viết không rõ, mà do bản thân người Phật Tử khi muốn thực hành một pháp nào đó mà không chịu đọc Kinh để hiểu mà hành cho đúng để kết quả được như mong đợi, lại tạo điều kiện cho một số người lợi dụng màu áo tu hành mà không rõ Lý Nhân Quả nên điềm nhiên hưởng của bá tánh, không thực hiện lời dạy: “Ăn ít, biết đủ. Như chim bay không. Dấu không thể tìm” của người tu Phật…
Nếu mọi người biết rằng ăn hột cơm của bá tánh là cũng mang nợ, không phải vì mang sắc áo tu hành là được miễn, và nếu có đọc Kinh VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN sẽ thấy cái Quả phải trả cho những ai lợi dụng của bá tánh ắt không dám vô tư lợi dụng cửa Phật để thọ nhận sự kính trọng cũng như phẩm vật mồ hôi, nước mắt của mọi người, để cung phụng cho cái Thân của mình. Người Tu Phật thì phải xem cái thân như oán tặc, vì chính nó là thủ phạm đã làm cho mỗi người nhiều kiếp trôi lăn trong Sinh tử Luân Hồi. Vậy mà nhiều Chùa bây giờ chư Sư ngủ phòng máy lạnh, đi xe đời mới. Phải chăng là vẫn tiếp tục cưng chiều nó? Ni Sư chết để lại sổ tiết kiệm cả mấy trăm ngàn đô. Gia đình và Chùa phải lôi nhau ra Tòa để dành quyền thừa kế. Có vị còn có thú vui thời thượng là sưu tập đồ cổ! Phải chăng người Cúng dường thì nghĩ là Cúng cho Phật. Người nhận lại nghĩ là Cúng cho mình, ăn không hết thì tùy nghi sử dụng? Kinh viết: “Thà cắt thịt mình dùng để nuôi miệng, không dùng tâm tà thọ của cúng thí. Khó lắm! Khó lắm! Cẩn thận. Cẩn thận”. Chỉ nuôi miệng thôi mà không chân chính còn bị nhắc nhở, huống là dùng tiền của Thường Trụ để phục vụ cho cái tâm ham muốn chưa chịu dừng của mình!

(còn tiếp 1 kỳ)
Tháng 4/2014

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 04.6.2014.