Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tản Đà (1889-1939)



TƯỞNG NIỆM TẢN ĐÀ





Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sinh ngày 19-5-1889 tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, mất ngày 7-6-1939 ở số 71 đường Cầu Mới, Ngã Tư Sở Hà Nội. Quê nhà thơ có núi Tản Viên (cũng gọi là Ba Vì) và sông Đà giang (cũng gọi là Hắc giang vì nước lúc nào cũng xanh đen) nên lấy bút hiệu Tản Đà. Tiên sinh đã thích nghĩa cái bút hiệu ấy bằng bài thơ sau đây:

Văn chương thời nôm na,
Thú chơi có sơn hà.
Ba Vì ở trước mặt,
Hắc giang bên cạnh nhà.
Tản Đà

Khi viết cuốn “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh và Hoài Chân đã đặt tiên sinh ở đầu sách với những lời cung chiêu trân trọng :“Hội Tao đàn hôm nay đông đủ hầu khắp mặt thi nhân, chúng tôi một lòng thành kính xin rước anh hồn tiên sinh về chứng giám… Đôi bài thơ của tiên sinh ra đời từ hơn hai mươi năm trước đã có một giọng phóng túng riêng. Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa…
Có tiên sinh, người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống nòi. Có tiên sinh, trên Tao đàn sẽ còn phảng phất chút bình yên trong tin tưởng, chút thích thảng mà từ lâu chúng tôi đã mất”.
      Tiên sinh đã lưu lại cho hậu thế một gia tài đồ sộ về văn học đủ các thể loại : văn nghị luận, tiểu thuyết, du ký, thơ, hát nói, xẩm lý, ca khúc, kịch văn, nhàn đàm, hài đàm, phong thi (phong dao), tập Kiều, từ khúc, thơ dịch vân vân…. thật vô cùng phong phú, nhưng nổi trội nhất vẫn là thơ. Vì thế nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã viết :”….Thơ ông quyết nhiên sẽ là thơ bất hủ và có lẽ trên thi đàn gần đây, ông đứng vào bậc nhất” (Nhà văn hiện đại).

* MỐI TÌNH SÂN KHẤU CỦA TẢN ĐÀ

         Đời sân khấu của Tản Đà chỉ có một năm với bốn vở diễn do tiên sinh sáng tác : Tây Thi, Dương Quí Phi, Người cá và Lưu Nguyễn nhập Thiên thai.
         Vở Tây Thi diễn ở rạp Thắng Ý, phố Hàng Quạt, Hà Nội gây được tiếng vang lớn. Theo ý của Tản Đà, vai Tây Thi phải trao cho một cô đào xinh đẹp tên Liên, người mà tiên sinh yêu quí. Liên là một đào hát còn trẻ quá, khoảng mười sáu mười bảy tuổi là cùng, giọng Liên the thé, điệu bộ cứng nhắc, trước giờ chỉ đóng các vai phụ như vai thị tì hay vai vợ vua Phiên chỉ ra ngồi làm vì trên sân khấu.
         Ý định đưa đào Liên giữ vai chính bị phản đối dữ dội. Chủ rạp thì sợ thua lỗ, các “thầy tuồng” thì sợ Tản Đà thành công và nổi tiếng họ sẽ hết đường làm ăn nên đe dọa sẽ thuê du côn phá đám. Mặc, Tản Đà vẫn giữ ý định của mình.
         Lúc sắp mở màn, Tản Đà xuất hiện với trang phục kỳ lạ : quần áo theo lối võ sinh, chít khăn đỏ buông múi, áo the thâm với chiếc thắt lưng điều bỏ múi, chân đi ủng và tay lăm lăm một thanh kiếm tuốt trần khiến bọn “phá đám” lạnh người, không dám giở trò gì. Giọng Tản Đà sang sảng, tiên sinh dùng thanh kiếm chỉ trỏ, dõng dạc truyền lệnh cho những người dọn phông, bày cảnh, kéo màn như một vị tướng chỉ huy trận đánh ngoài chiến trường khiến ai nấy tuân lệnh răm rắp.Thật không ngờ, trên sân khấu, đào Liên với vẻ đẹp mê hồn, qua nhan sắc và tình cảm của Tây Thi, đã hoàn toàn chinh phục được người xem và bạn diễn, nghệ thuật biểu diễn chân thực, tuyệt vời, xúc động lòng người, được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt.
          Khi vở kịch kết thúc, tiếng vỗ tay như sấm dậy khiến người kéo màn cuống lên, cứ lúng túng, không sao cho màn hạ được. Tản Đà lập tức chạy tới, dùng kiếm phạt ngang sợi dây, màn buông sập xuống, vừa lúc ấy người bạn tri kỷ của tiên sinh là Trần Quỳ xô ghế, bổ lên sân khấu ôm lấy nhà thơ kiêm đạo diễn, nghẹn ngào không nói nên lời, miệng cười mà nước mắt ràn rụa. Rồi đào Liên và các nghệ sĩ khác cũng ôm nhau khóc.
           Vở Tây Thi trước đó đã diễn ở rạp Nguyễn Đình Kao Hải Phòng rất ăn khách nên rạp Thắng Ý mới mời Tản Đà về. Tản Đà rất yêu Liên nên đã sửa vở Tây Thi cho xứng hợp với Liên, Tây Thi của Tản Đà. Nhờ tình yêu, Liên đã rất cố gắng nên thành công trong vai Tây Thi và từ đó trở thành ngôi sao sáng của kịch trường. Tản Đà đã có công phát hiện được một tài năng cho rạp Thắng Ý và cho khán giả yêu kịch.
           Nhưng tiếc thay, cuộc tình này rất ngắn ngủi. Từ khi Tản Đà giã từ sân khấu thì cũng giã từ luôn Tây Thi của mình (chứ không phải của Phạm Lãi).

* TẢN ĐÀ VIẾNG TÂY SƠN

Thi sĩ Quách Tấn kể rằng có một lần Tản Đà vào Bình Định làm xôn xao dư luận. Nguyên Bình Khê là đất cũ của Tây Sơn, nhà Tây Sơn trước ở Phú Lạc, sau dời xuống Kiên Mỹ. Khi nhà Nguyễn lên ngôi thì đình làng Kiên Mỹ xây ngay trên nền nhà cũ của anh em Tây Sơn. Đình tiếng là thờ Thành hoàng nhưng sắc thần đã dời đi nơi khác, còn đình thì bí mật thờ ba vua Tây Sơn. Quan địa phương cũng biết nhưng vì đình thiêng lắm nên không dám hé môi.
Vào khoảng năm 1924 hay 1925, Tản Đà có dịp đi ngang qua Bình Định bèn dừng lại ghé thăm đình.Viên lý trưởng là Xã Suyền không chịu mở cửa đình, tiên sinh đành phải thắp hương đèn khấn lạy ở trước thềm. Xã Suyền nghi ngờ tiên sinh có dị ý liền mật báo lên quan huyện. Quan huyện tên Trịnh Bưu, có tiếng hay chữ và rất kính phục Tản Đà. Được mật báo, quan lập tức đem lính lệ xuống Kiên Mỹ. Khi đến nơi, biết rõ người bị tình nghi chính là thi sĩ Tản Đà thì hết sức mừng rỡ, liền rước tiên sinh về huyện đường. Đến Phú Phong vào lúc hoàng hôn, nghe có hát bội, tiên sinh xin ở lại xem hát, quan huyện cũng phải chiều.
Sáng hôm sau, tiên sinh thuê người đưa đi thăm mộ của Nguyễn Phi Phúc (thân sinh của anh em Tây Sơn) trên dãy Hoành sơn, thuộc làng Trinh Tường. Từ ngày Tây Sơn mất ngôi, không ai dám viếng mộ nên gai góc mọc đầy. Tiên sinh và người hướng dẫn phải chặt cây mở lối mới đến nơi được. Chỉ thấy phần mộ đã bị đào, quan quách không còn nữa. Chẳng biết có phải vì việc ấy không mà quan Tổng đốc Bình Định cho mời tiên sinh đến giam lỏng một thời gian rồi buộc trở ra Bắc, không cho tiếp tục vào Nam nữa.

* TẢN ĐÀ VỚI ĐỘC GIẢ

Năm 1929 nhà văn Lâm Tuyền Khách mới 17 tuổi tự nguyện đến xin Tản Đà cho làm thư ký báo An Nam tạp chí không lãnh lương.. Ông kể rằng trong mấy trăm lá thư mà tay tôi đã bóc, có một cái khiến tiên sinh, khi nghe tôi đọc, phải bồi hồi cảm động. Đó là thư của một cô nữ sinh lớp Đệ tứ niên (4è année) trường Đồng Khánh Huế viết cho tiên sinh để mừng An Nam tạp chí lại tục bản.. Trong thư, cô ca tụng cái thi tài của tiên sinh, rồi ở cuối thư, sau khi hỏi xin một tấm ảnh, cô viết:
- Thưa tiên sinh, con dám tin rằng tiên sinh cũng như thi hào Victor Hugo nước Pháp, rất có lòng mến yêu con trẻ. Vậy trước khi dừng bút, tiên sinh cho phép con được nói thế này :“Je vous embrasse tendrement, mon chéri papa” (Hôn bố thắm thiết, bố thân yêu).
Tiên sinh đọc cho tôi viết trả lời bức thư ấy. Sau khi cảm ơn mối thiện cảm của cô nữ sinh đối với tiên sinh và An Nam tạp chí, tiên sinh nói bình sinh chưa chụp ảnh bao giờ nên không có ảnh để tặng cho cô. Rồi để tạ lại tấm lòng yêu mến của cô đã coi mình như cha, cuối thư tiên sinh bảo viết :”Je vous embrasse tendrement, ma chère enfant” (Hôn con thắm thiết, con gái yêu của bố).
Ký tên: Papa Tản Đà
         Tiên sinh coi đó là một chuyện rất lý thú trong đời thi sĩ của mình cũng như chuyện “Rau sắng chùa Hương” hồi trước vậy.

* TẢN ĐÀ MÚA KIẾM

        Nhà văn Nguyễn Tuân đã một lần được xem Tản Đà múa kiếm. Trước khi biểu diễn, Tản Đà thét người nhà lấy mấy tấm liếp bằng cót che kín mặt nhà trước lại và đóng kín cả hai cửa sổ ở phía sau nhà trông ra vườn nữa. Tiên sinh cẩn thận như thế vì nỗi sợ hãi của những năm Đông du và Đông Kinh Nghĩa Thục vẫn còn sót lại trong lòng thi nhân. Nguyễn Tuân kể:
        "Trong gian nhà tối lờ mờ, mọi người nhận thấy một cái bóng trắng lượn múa trên hai bộ ngựa ghép sát lại. Ông Tản Đà mặc áo trắng dài, cũng tiến lên, lùi xuống,bước đi gò theo một luật pháp rất khắc khổ. Cũng múa trên, đỡ dưới. Chưa bao giờ tôi tập đánh kiếm, nhưng hồi còn ở lao, có mấy người tù đàn anh đã đi cho tôi xem cả môn độc kiếm, cả môn song kiếm và giảng sơ sơ cho tôi về môn kiếm thuật.Căn cứ vào những lời xa xôi ấy, tôi thấy ông Tản Đà hôm ấy múa tròn lắm, đường kiếm lúc nào cũng che kín người. Và có
những đoạn loạn đả, ông Tản Đà có những miếng sả và tuốt cũng lợi hại lắm. Chả biết lúc thực sự phải cho đổ máu thì kiếm thuật sẽ như thế nào, nhưng ở phút múa kiếm sau cơn rượu, tôi thấy thi nhân đẹp lắm. Và nhớ tới một cuộc bút chiến, ông Tản Đà đã lên án chém ông Phan Khôi mà tôi sợ “.
Theo ông Nguyễn Khắc Xương – trưởng nam của Tản Đà – thì Tản Đà học được môn kiếm thuật của một bạn thân, Đỗ Đình Đạt, con thứ tư của một vị Đô thống Cần vương, Đỗ Đình Thuật, nên thường gọi là Tư Đạt. Ông Tư Đạt đón nhà thơ và cả gia đình về ở ấp của mình, ấp Đồng Sành, huyện Cầu Rào. Tản Đà ở đây đến sáu tháng và được Tư Đạt dạy kiếm thuật. Tập thường về đêm. Sau khi đã thành thục, Tản Đà thường cùng Tư Đạt múa kiếm vào những đêm trăng, cả hai đều mặc áo gấm. Tư Đạt có cặp song kiếm, tặng nhà thơ thanh thư kiếm, còn giữ lại thanh hùng kiếm.
Hôm múa kiếm ở tiệc rượu, Tản Đà rút thanh kiếm đút trong ống tre, dắt trên mái nhà cho các bạn xem rồi cất đi ngay và múa bằng dao phay.
Bài này đã đăng trên tạp chí KIẾN THỨC NGÀY NAY số số 855 ngày 10-5-2014

Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 03.6.2014 .