Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



TINH THẦN

“HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG"






 Nhân buổi Họp báo của Bộ Tư lệnh Cảnh sát Biển VN về việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng biển VN vào ngày 7-4-2014 tại Hà Nội, từ đó cho đến nay, tất cà mọi công dân VN trong nước, hải ngoại cũng như nhiều Quốc gia khác trên thế giới, đều lên tiếng phản kháng sự kiện vi phạm luật Biển UNCLOS 1982 của Trung Quốc.

- Họp báo lần 3:Công thư 1958 không công nhận chủ quyền Hoàng Sa cho Trung Quốc
Công thư mà Việt Nam gửi Trung Quốc năm 1958 không hề đề cập đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; trên thực tế chúng nằm dưới vĩ tuyến 17, thuộc quản lý của Việt Nam Cộng hòa khi đó, vì thế công thư không thể là sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc với hai quần đảo như Bắc Kinh viện cớ vin vào. 
Việt Nam sẽ sử dụng các biện pháp hòa bình, bao gồm khả năng sử dụng cơ quan tài phán quốc tế mà Hiến chương Liên Hợp Quốc và UNCLOS khẳng định. Việt Nam sẽ sử dụng các biện pháp phù hợp luật quốc tế, và sử dụng các biện pháp này tốt hơn là để xảy ra xung đột vũ trang.
Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 23-5-2014 tổ chức Họp báo công bố các diễn biến thực địa ở khu vực mà Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng biển Việt Nam; các cơ sở pháp lý và bằng chứng chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo.

Đây là lần thứ ba Bộ Ngoại giao tổ chức họp báo quốc tế kể từ khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trên bờ biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hồi đầu tháng.

Tàu của Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ tại khu vực quần đảo Hoàng Sa.
Phía xa là giàn khoan 981 mà Trung Quốc hạ đặt trái phép.
Chúng ta thử cùng nhau ôn lại Nguồn gốc dân tộc VN và Lịch sử chiến đấu với tinh thần anh hùng bất khuất của dân tộc Đại Việt chống lại Đại Hán của dòng giống Tiên Rồng chúng ta…

NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

Các bng chng đa cht và kho c hc

Một trong các bằng chứng nổi bật nhất chứng minh các dân tộc Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, có chung một nguồn gốc là việc các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra rất nhiều điểm tương đồng về một nền văn hóa rất phát triển gọi là Văn hóa Hòa Bình ở rải rác các nơi ở Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan,... Các nghiên cứu đã rút ra kết luận rằng:
  • Có một nền văn minh Đông Nam Á cổ đại có mặt từ rất sớm, khoảng 15.000 trước Công nguyên. Nơi đây, con người biết trồng cây, làm đồ gốm, đúc đồng sớm nhất trên thế giới. Các vật dụng được khai quật ở tây bắc Thái Lan, miền bắc Việt Nam, Malaysia, Philippines, bắc Úc cho thấy họ biết làm những vật đó trước Trung Đông, Ấn Độ, Trung Hoa mấy ngàn năm.
  • Nền văn minh Đông Nam Á không phải là hệ quả của việc du nhập từ các nền văn minh khác như Ấn Độ, Trung Hoa, Trung Đông mà ngược lại, văn minh từ Đông Nam Á lan tỏa đến các vùng khác như Trung Hoa 6.000 đến 7.000 năm trước Công nguyên: Văn hóa Long Sơn (Lungsan) và Văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao) đều là hệ quả của Văn hóa Hòa Bình.
Các dữ liệu mới chỉ tìm thấy cách đây vài chục năm như trên đã làm thay đổi cách suy nghĩ của các nhà khảo cổ học về sự tiến triển của các nền văn minh trên Trái Đất. Việc tìm thấy nền văn minh Đông Nam Á rất sớm đó có thể khẳng định các dân tộc ở vùng này là có liên hệ chủng tộc với nhau. Như vậy, dân tộc Việt Nam hoàn toàn không phải là hệ quả của các chủng tộc khác từ Trung Hoa tới.

CA KHÚC “HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG” CỦA LƯU HỮU PHƯỚC

- Toàn dân nghe chăng? Sơn hà nguy biến!  

- -Hận thù đằng đằng! Biên thùy rung chuyển

- -Tuôn giày non sông rền vang tiếng vó câu

- -Gây oán ngàn thu!

Đế quốc Mông Cổ lúc đó rất hùng mạnh, đã chinh phục một dải đất chạy dài từ Á sang Âu và chiếm trọn Trung Quốc thành lập nhà Đại Nguyên, thì trái lại, nước Đại Việt lúc đó còn rất nhỏ bé. Cuộc đọ sức mà nhân dân ta tiến hành là cuộc đọ sức hoàn toàn không cân xứng. Vua Trần Nhân Tông sử dụng mọi phương cách ngoại giao không được, Nhà vua ngự thuyền mờ Hội nghị Bình Than vào năm 1282 (ở chỗ sông Đuống nối với sông Thái Bình), cử Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân và để hội các vương hầu bách quan lại bàn kế chống giữ.
Để tăng thêm sự ủng hộ của nhân dân và thực thi dân chủ, vua Trần Nhân Tông cho quân sĩ thông báo khắp nước đã mời các vị bô lão lên kinh đô Thăng Long tham gia Hội nghị họp tại điện Diên Hồng năm 1285 nên lịch sử gọi là Hội nghị Diên Hồng, để hỏi ý kiến nhân dân, mà các bô lão là đại diện về công cuộc chống quân Nguyên.

- Toàn dân Tiên Long! Sơn hà nguy biến!  

- Hận thù đằng đằng! Nên hòa hay chiến

- Diên Hồng tâu lên cùng Minh Đế báo ân

- Hỡi đâu Tứ dân!...

Tại Hội nghị Diên Hồng, vua Nhân Tông đã hỏi “Tứ dân” – nghĩa là nhân dân trong nước gồm có 4 giới: sĩ , nông, công, thương – xem là Non sông có nên hòa với giặc Nguyên hay quyết chiến với chúng để bảo vệ Non sông?
Trong khi nhà Lý mất ngôi, nhà Trần lên làm vua ở An Nam, thì nhà Tống bên Tàu bị người Mông Cổ đánh phá. Người Mông Cổ hung tợn, hiếu chiến, ai cũng cưỡi ngựa và bắn tên giỏi. Bởi tính chất và binh pháp hùng mạnh nên lúc đó Thành Cát Tư Hãn, hiệu Nguyên Thái Tổ đã chiếm giữ được cả vùng Trung Á, gần hết Châu Âu. Thành Cát mất, Nguyên Thái Tông lên làm vua, sau đó là Nguyên Định Tông, rồi ngôi vua Mông Cổ về chi khác. Người em con nhà chú là Mông Kha lên làm vua, tức Nguyên Hiến Tông. Vua này sai em là Hốt Tất Liệt sang đánh nhà Tống bên Tàu, cùng lúc đó, Mông Kha mất, Hốt Tất Liệt lên ngôi vua, tức Nguyên Thế Tồ, sau đó nhà Tống thua, cả nước Tàu thuộc về nhà Nguyên cai trị, nên sử gọi là Mông-Nguyên, cũng tương tự sau đó, nước Tàu bị Mãn Châu cai trị nên gọi là Mãn-Thanh, và Hoàng đế Quang Trung đã dẹp tan mộng xâm lăng của quân Mãn-Thanh tại trận Đống Đa.

- Kìa vừng hồng tràn lan trên đỉnh núi

- Ôi Thăng Long! Khói kinh kỳ phơi phới

- Loa vang vang, Chiếu loan truyền bốn phương

- Theo gió bay khắp miền sông núi réo đòi

Vì vua Trần không chịu thần phục nhà Nguyên, nên quân Nguyên đã xua quân xâm lược nước ta lần thứ nhất do thái tử Thoát Hoan, vào cuối năm 1257, với ba vạn kỵ binh, đã tiến sâu vào lãnh thổ nước ta, chiếm cả thành Thăng Long trong 9 ngày trời. Với trận quyết chiến ở Đông Bộ Đầu (dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay), quân dân ta đã quét sạch lũ giặc ra khỏi bờ cõi.
- Lòng dân Lạc Hồng nhìn non nước yêu quê hương
- Giống anh hùng nâng cao chí lớn
- Giống anh hùng đua sức tráng cường
- Ta lên đường lòng mong tâu lên Long Nhan
- Giòng Lạc Hồng xin thề liều thân, liều thân
- Đường còn dài, hồn vương trên quan tái
- Xa xa trông áng mây đầu non đoài! …

Sau lần xâm lược thứ nhất bị thất bại, quân Mông Cổ tuy thua phải rút về, nhưng chẳng bao lâu sau khi vua Mông Cổ dứt được nhà Tống , lấy được nước Tàu, rồi có ý muốn bắt vua nước Nam ta sang chầu nhưng vua ta không chịu, vua Nguyên Thế Tổ sai Thoát Hoan mang quân sang xâm lược nước ta lần thứ hai.
Đầu năm 1285, quân Nguyên huy động 50 vạn quân đánh từ phía bắc xuống và 10 vạn đánh từ phía nam lên, dưới quyền tồng chỉ huy của Thoát Hoan. Nhưng, bằng những trận nghi binh cực kỳ tài giỏi, Trần Hưng Đạo lại dồn kẻ địch vào thế tuyệt vọng, để rồi mở những trận quyết định ở Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết...chém đầu Toa Đô, đập tan cuộc xâm lược lần thứ hai này.

- Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà

- Đoạt thành trì toan xéo giày lăng miếu

- Nhìn quân gian ác lấn xâm tràn nước ta

- Ôi sông núi nhà rền tiếng muôn dân kêu la…

Nhà Nguyên sau đó lại sai mang quân sang xâm lược Đại Việt lần thứ ba.
Năm 1288, hơn 50 vạn quân Nguyên, cũng do Thoát Hoan cầm đầu, lại tràn sang xâm lược lần 3, thành lập thêm một đạo thủy binh do Ô-mã-nhi chỉ huy. Những đạo quân khổng lồ này vẫn không thể cướp được nước ta, với trận quyết chiến chiến lược trên cửa sông Bạch Đằng, Trần Hưng Đạo đã đánh tan tành lũ giặc, đè bẹp hoàn toàn ý chí xâm lăng cùa quân Mông-Nguyên đối với nước ta.
(Hỏi) – Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
(Đáp) – Quyết chiến! 
(Hỏi) – Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
(Đáp) – Quyết chiến!
Quyết chiến luôn! Cứu nước nhà
Nối chí dân hùng anh
(Hỏi) – Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?
(Đáp ) –Hy sinh!
(Hỏi) – Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?
(Đáp) – Hy sinh!
Thề liều thân cho sông núi
Muôn năm lừng uy!

Chính tinh thần dân chủ của Hội nghị Diên Hồng làm nức lòng nhân dân, mà đại biểu là các bô lão, tất cả đồng lòng hô vang sự quyết chiến đối với 3 cuộc xâm lược nước ta cùa quân Mông-Nguyên, bằng tất cả sự hy sinh tài lực, vật lực và xương máu của con cháu cùa các vị bô lão, do các bô lão khuyến khích tinh thần nên quân dân Đại Việt – dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo – đã đi từ chiến thắng này, đến chiến thắng khác, nhằm đập tan âm mưu thôn tính nước ta của đế quốc Mông Cổ hung hãn, mặc dù chúng đã xâm chiếm nước Tàu và gần hết châu Âu.

CHIẾN THẮNG NHỜ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC VUA TRẦN

Vua Trần Nhân Tông là một hiện tương độc nhất vô nhị trong lịch sử Tiên Rồng.
- Với tầm vóc Danh nhân văn hóa, Trần Nhân Tông (1258-1308) tỏa sáng trong tư cách một vị hoàng đế anh minh, vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Trên thực tế, có thể nhận diện Phật hoàng Trần Nhân Tông như một nhân vật lịch sử, một mẫu hình Hoàng đế phương Đông gắn với vị thế Thiền sư – nhà Truyền giáo và Thi nhân – người kiến tạo những giá trị văn hóa. Ở đây, chúng ta xác định Trần Nhân Tông như một tác gia văn học, trên cơ sở đó soi chiếu trở lại vị thế Hoàng đế - Danh nhân văn hóa dân tộc...
- Sự “Hòa giải và Yêu thương” của Trần Nhân Tông:
Sau khi chiến thắng quân Nguyên, Vua ra lệnh cho tha hết những kẻ hàng giặc bằng cách cho đốt hết mọi lá thư đầu hàng để xóa bỏ nghi kỵ, lo sợ. Không ít ý kiến băn khoăn. Ai cũng biết chiến tranh luôn gây mọi tai họa khủng khiếp cho một dân tộc, bởi nó đảo lộn mọi giá trị. Vua đã làm cái việc ít ai làm nên mong muốn “Hòa giải và Yêu thương”, đồng thuận là điều cực khó. Nhiều tướng sĩ thấy sự việc này là hơi kỳ lạ, nhưng họ chưa hiểu và cũng không thể hiểu nổi chính sách “Hòa giải và Yêu thương” của Nhà Vua vĩ đại (600 năm sau Tổng thống Mỹ Lincoln cũng có chính sách tương tự sau khi Miền Nam ly khai đầu hàng trong Nội chiến Hoa Kỳ)

CHIẾN THẮNG DO SỰ CHỈ HUY TÀI BA CỦA HƯNG ĐẠO VƯƠNG

Danh tướng Trần Hưng Đạo (1226-1300): Tấm gương sáng Ngời của Ý thức chủ động xây dựng Khối đại đoàn kết để Cứu nước:
- Với Hội nghị Bình Than của quý tộc và tướng lĩnh cao cấp nhất, do vua Trần điều khiển, tại đó, Triều đình đã nhất trí cao độ về chiến lược chống xâm lăng và xây dựng bộ máy chỉ huy, đứng đầu là Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.
- Trên Cơ sở Khối Đoàn kết của Triều đình, Xây dựng Khối Đoàn kết của Toàn dân.
Đầu năm 1285, khi quân Nguyên đã áp sát biên giới của nước ta, nhà Trần đã triệu tập Hội nghị Diên Hồng, đấy là lần đầu tiên trong lịch sử, đại biểu của nhân dân được cùng với Nhà vua thảo luận vấn đề chống xâm lăng, Sử chép rằng, tiếng hô quyết chiến của các vị bô lão đã làm rung chuyển cà điện Diên Hồng.
-Khôn khéo Kích động mạnh mẽ lòng yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc của toàn dân:
Trong lĩnh vực này, Hưng Đạo đã viết và phổ biến bài “Hịch Tướng sĩ văn”, ở đây, với lý luận chặt chẽ và cắc bén, với lời lẽ hùng hồn và tha thiết, Hưng Đạo đã có công thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước cùa toàn dân mà trước hết là tướng sĩ của triều Trần.

VŨ PHẠM HÀM CA NGỢI CÔNG LAO CỦA TRẦN HƯNG ĐẠO

Đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo ở xã Vạn kiếp, nay là xã Hưng Đạo, huyện Chí linh, Hải dương. Có đôi câu đối dẫn, được khắc tại cổng tam quan đền, của Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm (Phạm Vũ Hàm, 1864-1906):

Vạn Kiếp hữu sơn giai Kiếm khí 

Lục Đầu vô thủy bất Thu thanh

Đôi câu đối dẫn ngắn gọn, cô đọng, nhưng đã thể hiện được khí phách oai hùng của những trận chiến chống quân Nguyên xâm lược trong lịch sử xa xưa của dân tộc vẫn còn vang vọng mãi đến tận hôm nay làm cho chúng ta thêm tự hào và phấn chấn.
Tuy nhiên về mặt chữ nghĩa của đôi câu đối cũng đã có không ít cuộc tranh luận trên mặt báo. Chỉ kể từ năm 1992 đến nay, chữ “thu thanh´ trong đôi câu đối đã được nhiều người đề cập đến trên nhiều tạp chí.
Đa số đồng tình với cách giải thích của nhà Hán học lão thành Tảo Trang Vũ tuân Sán trong bài “Lai bàn về “thu thanh” hay “trang thanh” (Tạp chí Hán Nôm số 2/13-1992) và bài “Kiếm khí” “thu thanh” của PGS Sử học Tạ Ngọc trên Tuần báo Văn Nghệ số 387 ngày 17-09-2000. Chúng tôi xin trích dẫn lời giải thích của cụ Tảo Trang:
Thu thanh” không nên hiểu là tiếng thu đơn thuần. Theo triết học cổ truyền phương đông, mùa thu thuộc hành kim trong ngũ hành tương ứng với phương tây. Mùa thu là mùa lá cây vàng úa, có sương giáng, có gió tây khiến lá rụng, đó là quy luật nghiêm khắc của tạo hóa loại trừ những thứ không còn sự sống. “Tiếng thu” là tiếng gió tây làm rụng lá vàng, ý nghĩa đặc biệt của nó được ghi ở bài phú nổi tiếng: “Thu thanh phú” (Phú tiếng thu) của Âu Dương Tu (1007-1972) đời Tống, trong đó có câu: “Thu là vị quan thi hành hình phạt...Đó là sức mạnh đạo nghĩa của trời đất, thường dụng tâm nghiêm khắc diệt trừ”
Xét theo ý nghĩa trên đây thì Thu thanh” trong đôi câu đối trên không phải là tiếng Thu đơn thuần ở bất cứ con sông nào cũng có mà nó chỉ xuất hiện ở nơi xảy ra trận chiến như sông Lục Đầu chẳng hạn. Chữ “thu” ở đây cũng không phải để nói về mùa thu cụ thể mà có thể chỉ bất cứ thời gian nào trong năm khi xảy ra cuộc chiến. Trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn có câu “Tây phong minh tiên xuất Vị kiều” mà Đoàn Thị Điểm dịch là “Thét roi cầu Vị ào ào gió thu”. “Tây phong” mà dịch là “gió thu” là một sự vận dụng điển cố có liên quan đến chữ “thu” đang đề cập đến trên đây.
- Nói vắn tắt, chữ “thu thanh” trong đôi câu đối của Tam nguyên Vũ Phạm Hàm ở đền Kiếp Bạc và đền thờ Trần Hưng Đạo tại TpHCM là có xuất xứ từ điển cố. Phổ biến hơn là cho chữ “Thu thanh” của Vũ Phạm Hàm, theo quan điểm chính thức của Viện Hán Nôm như sau:
- Nguyễn Khắc Bảo, trong Thông báo Hán Nôm năm 1998 cho rằng từ “Thu thanh” trong câu đối thì “Thu” là mùa thu, với nghĩa hàm xúc là để chỉ chiến tranh và đau thương tang tóc, như các vị Trần Thái Tông, Trương Hán Siêu, Nguyễn Du đã ghi trong thơ của mình. “Thu thanh” là tiếng mùa thu, trừu tượng, nếu đối với “Kiếm khí” (hơi kiếm) cũng là trừu tượng, là những dạng phi vật chất mà ta chỉ có thể cảm nhận được bằng linh cảm là rất hợp, rất chỉnh.

TÓM TẮT

Đế quốc hung hãn Mông Cổ đã hí vang gót ngựa chiếm gần hết các nước Âu châu bao la, rộng lớn. Sau khi chiếm Trung Hoa dựng triều Mông-Nguyên, đã sang nước ta ba lần, cả ba lần đều bị đánh tan tành không còn manh giáp, dưới sự lãnh đạo của các Vua Trần và sự điều binh khiển tướng tài tình của Trần Hưng Đạo với khối đại đoàn kết dân tộc.
Có lẽ sau khi bị đồng hóa bởi rợ Hung nô là Mông Cổ và Mãn Thanh trên ba trăm năm, Hán tộc tại Trung Quốc bị lai căng hoàn toàn nên trở thành hiếu chiến, bạo hành như rợ Hung nô thuở xưa? Một đất nước đã sản sinh ra những nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Lão Tử, Trang Tử, Bách Gia Chư Tử …Họ đã quên lời dạy của Khổng Tử : « Kỳ sở bất dục vật thi ư nhân », tại sao hiện nay, lại hành xử ngạo mạn, trái với Công pháp quốc tế, luật Biển đối với Biển đảo của Việt Nam, cản trở giao thương hàng hải giữa Ấn Độ dương và Thái Bình dương – với ý đồ đen tối là thực hiện bá chủ biển Đông với hình “lưỡi bò” phi lý.
Chúng ta vững tin rằng, khối đoàn kết dân tộc theo tinh thần “Hội nghị Diên Hồng” sẽ phát huy đúng lúc để thực hiện công cuộc chấn hưng và tự cường dân tộc để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, chống Tầu xâm phạm biển đảo ở Biển Đông (lẽ ra phải đổi tên là biển Việt Nam mới chính xác). Chúng ta cùng ca lên:
Tổ Quốc đang bão giông từ Biển
Ngàn năm, con theo Mẹ Cha
Lên rừng xuống biển, thương Hoàng–Trường (Sa)
Cùng ba ngàn đảo! (ở Biển VN)
Vua Lê đã trả lại gươm báu (ở Hồ Gươm)
Từ giã chiến tranh, nhưng nay
Linh Quy mang trả kiếm Dân ta
Vệ Quốc, Biển đảo!
(Lời mới bài London Bridge)

(Tham khảo: Tài liệu trên Sách báo và trên Internet)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 26.5.2014.