Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
‘Nhà Văn NTH Ngồi Ghế Mơ-về / NTH Writer Seated With her Dreaming-day’
tranh vẽ của Võ Công Liêm





PLATO

TỪ TRIẾT HỌC ĐẾN TRIẾT THUYẾT





Plato* đứng bên cạnh Socrates và Aristotle như một hình thể, vóc dáng sáng ngời của những gì được coi là trí tuệ của Tây phương. Plato xuất thân từ một gia đình tăm tiếng lâu đời, có điạ vị trong chính trường thành Athens; thủ đô Hy Lạp. Cơ duyên đó là một tác động về sau của Plato nghiêng hẳn về những bộ môn tương tợ có tính nhân bản, nhân quyền qua những lớp học chính trị và triết học. Đứng trước môt hoàn cảnh suy đồi ông từ chối mọi hoạt động khác, vì vậy; ông ghê tởm bởi những tranh chấp hiếu động và những vô luân, thối nát giữa một đời sống chính trị của người dân Athenian, đặc biệt gây cảnh khốn đốn và hành hình 399 bạn bè và thầy giáo của ông. Xúc động; đến nổi Socrates lên tiếng thẩm định một nền luân lý đạo đức một cách vô tư, tự nhiên và chính đáng. Plato cố gắng tìm kiếm phương cách cứu chửa sự yếu hèn của một xã hội không có chính trị nhưng cần có một phương thức triết học để lý giải sự việc hỗn mang và đi tới những gì cơ bản và những gì hợp pháp dài lâu hơn. Ấy là những gì suy thoái có thể không bao giờ ngừng; mãi cho tới khi triết gia trở thành những người quy luật hoặc những người làm ra quy luật là triết gia –that those ills would never cease until philosophers became rulers or rulers philosophers. Plato sáng lập Hàn Lâm Viện (Academy) vào thời điểm không rõ đầu thế kỷ thứ tư (BC) ở Athens. Một cơ quan thường trực hết lòng tìm kiếm những gì thuộc bộ môn triết học và giáo dục một tư duy trong sáng với kiểu thức mới dành cho những đại học đường phương tây. Plato đã viết trên hai mươi mẫu đối thoại thuộc triết học, một trong số có ‘Bộ luật/Laws’ trong đó ông đã mô tả một thực hành về ‘Utopia’ (nơi có hệ thống chính trị xã hội hoàn hảo) có thể coi đây là giai đoạn cuối và lâu dài nhất đối với ông. Ngữ ngôn văn chương của Plato có một tác động hấp dẫn và trải dài, có lẽ; đến hơn nửa thế kỷ sau đó. Có nhiều tác giả về sau dựa vào đó để khai triển như một hiệu năng của một tư tưởng chính xác, một linh hoạt, bén nhạy và năng lực tối hậu cho một thể văn xuôi Hy Lạp được tiến trình cho đến ngày nay.

  Những tác phẩm của Plato, ít ai phản đối, là; một thứ triết học đầy đủ và một thứ văn chương rộng mở tư duy. Song le; thời gian đó ông làm một công hai việc, nghĩa là làm thế nào truyền thông đại chúng nhất là ở thời gian còn có những bề bộn, rắc rối. Tác phẩm của ông đầy đặc những thí dụ siêu hình học, những minh họa hình ảnh từ những bước đi khác nhau trong đời sống người Athenian, hiện ra một cái gì như là một thứ huyền thoại tôn giáo (quasi-religious myths) và hiện ra một thứ ngữ từ như là thông điệp (quasi-rhetorical speeches) Cho nên chi cần phải thông đạt tư tưởng phi thường mới thấy được chiều sâu những gì thuộc triết học của Plato. Lý tưởng ở chỗ là ông thấy chính ông như một nhà triết học, một nhà toán học, một nhà lịch sử, người viết ra diễn từ, phê bình văn học gần như nhà luân lý và một người mộ đạo. Điều này không có chi ngạc nhiên vượt qua cái tuổi hiểu biết để phải trắc nghiệm. Những gì đã nêu trở thành triết thuyết Platonic là một trào lưu chuyển động và vẫn còn hướng tới; nhưng sẽ luôn luôn là thách đố tiếp diễn: nhiều hơn trong hành động, nhiều hơn trong nhận biết.
  Xét rằng; lý tưởng triết thuyết Platonic là diễn giải, coi như mở rộng đường hướng cho ý tưởng của Plato trong toàn bộ chủ đề ‘Cộng hoà/Republic’. Có vô số thành viên hưởng ứng, lôi cuốn vào tác phẩm của ông, bởi không phải một điều và nhiều điều hơn cho những lợi ích với đầy đủ chi tiết xẩy ra đúng lúc với tư duy của Plato. Bởi; ông có thể kêu gọi chúng ta như một thứ văn chương hoặc như một triết lý hoặc như một tôn giáo hoặc như nguồn gốc xã hội Hy Lạp, v..v.. Plato lôi cuốn độc giả của mọi sắc dân với những biến thể khác nhau từ ngữ ngôn, miễn là có lợi ích –because he can appeal to us as literature or as philosophy or as religion or as a source for Greek society, etc.. he attracts a multitude of readers with a variety of special interests. Những tác phẩm của ông khởi từ đó như một phát biểu rộng rãi. Đây là dữ kiện cho những gì lấy ra từ những cuộc đối thoại, đúng hơn đây là một luận thuyết, một lời ngỏ đến với người đọc. Chúng ta không cần trực chỉ để hỏi rằng tin tưởng những điều ấy không, chúng ta không cần đặc một yêu cầu nào khác hơn đưa tới sự thật. Chúng ta đòi dự kiến để chứng minh cái cớ sự; thì điều đó có hay không thuộc về lịch sử hoặc giả định hư cấu (fictitious), trong khi đó vai trò là thích nghi cuộc đời (lifelike) là nói đến vấn đề đang gây ra tranh cải thật sự, sự cớ tranh cải có từ một nơi khác đưa tới, thời điều đó làm cho chúng ta cảm thấy đây là một sự bày tỏ. Chúng ta đòi hỏi phản ứng qua kinh nghiệm con người và ý thức của con nguời, vì rằng; chúng ta là con người hiện hữu, có nhận thức. Chúng ta đòi hỏi sự lắng nghe hơn là tranh luận hay bình phẩm; chúng ta cũng không đòi hỏi phải phúc đáp yêu sách của những gì tham dự hay dự kiến. Có thể ở đây chúng ta hăng hái học hỏi những gì chính đáng thời những bài học đó, thể thức đó là kinh nghiệm đang sống đưa tới kết thúc cho một thành quả tốt đẹp. Nhưng chúng ta chưa hẳn là hoàn toàn bởi những vấn đề nông cạn tuồng như không giải quyết đựợc và không mang lại những gì khả quan hơn qua những giòng chữ của tác giả để lại. Hậu quả những lần đối thoại của Plato vẫn còn tiếp tục xuất hiện qua nhiều thế hệ về sau, tuy nhiên; vẫn cứu vãng những gì thuộc về ý thức hiểu biết và một phong cách khác của tôn giáo và có một người tìm thấy một vài giá trị nơi chính họ. Ở chương ‘đối thoại/dialogue’ là tác phẩm phổ quát của Platon. Với chương đó chúng ta sẽ bắt gặp mục ‘Miễn chấp/Apology’ cái đó tợ như tỏ ra kính trọng ngoài phạm trù của thông điệp, kiểu thức như hạ mình đối với chúng ta; cái đó là yếu tố cần thiết cho một vai trò độc thoại (monologue) hơn là thông điệp.
  Trong ‘symposium’: có nghĩa rằng đối thoại là cung cấp đề xuất, dàn trải cho 7 sự việc liên can của thông điệp. Còn trong ‘Phaedrus’: là dàn trải cho một sự hoà hợp phong phú của thông điệp, huyền thoại và tranh luận. Đối thoại không phải là lý thuyết độc quyền đến từ Plato mà đã viết theo sau một số của Socrates, điều đó cũng tự nhiên cho việc ghi lại nguyên bản mà ở đây như mô tả hành động của Socrates. Thí dụ: trong buổi thảo luận cho rằng triết học Socrates có thể thực hiện việc hỏi và trả lời là chủ yếu. Chúng ta có vô số thí dụ về Socrates trong những tác phẩm nói về ‘Xenophon’: nghĩa là cổ Hy Lạp nói về sử gia và luận gia, là rút ra từ những gì quan tâm đến xã hội, luân lý đạo đức; hầu hết để tâm tới ‘Memorabilia /Đáng nhớ’ là những gì được ghi lại như sử liệu và sự kiện.
  Từ ngữ ‘nói’ là bắt nguồn từ động từ ‘đàm thoại / to converse’ mà chỉ cần hiểu cáí nghĩa đích thực của nó không ngoài cái nghĩa khác là ưa ‘trao đổi nghệ thuật / conversational art’ do đó nó khác trong từ ngữ của ‘dialogue’ là ở chỗ đó. Plato muốn nhận mạnh và phân tích ở điểm này hầu có một xác định cụ thể giữa hai ngữ ngôn –không có thứ đàm thoại dịu dàng của nghệ thuật , nhưng nghệ thuật là việc xử dụng giữa người với người trao đổi với nhau; trong cái cách thức như đến gần với sự thật cho một cuộc tranh luận / not the art of polite conversation, but the art of employing person-to-person discussion in such a way as to come nearer to the truth of a given issue. Chắc chắn một điều; giá trị của Plato là mặt đối mặt dạy dỗ hơn là viết ra những lời nhắn gởi, những thứ đó ông cho là bối cảnh, nhưng quan trọng một phần là thuật lý luận phê bình của ông đã nói lên một ngôn từ sanh ra từ tập quán như lời ngỏ cho những gì liên hệ lẫn nhau, vượt qua nhiều hơn ngữ ngôn phê bình của văn chương mà luôn luôn nói những gì tương quan trong đời sống con người. Thế nhưng khi nói ‘đối thoại/dialogues’ là muốn hỏi chúng ta những vấn đề và như là chúng ta thay đổi chính chúng ta để làm nên câu trả lời –the dialogues; however, are asking us the questions, and as we chang ourselves so do the answers. Cuối cùng Plato đã chọn một cách linh động thể thức có thể xem là một cấu tạo thành phần hổn hợp với một nổ lực mà những gì đã mất hút trong một kết cấu chứng minh rõ ràng như thế; đó là những gì Plato đưa vào một triết thuyết có tính cách năng động như vai trò của tác giả đáng được chú ý một cách cẩn trọng (considerable seriousness). Cẩn trọng; dĩ nhiên không có nghĩa là đối thoại mà tất cả phải nghiêm trọng. Tác động chủ yếu của Plato là thuyết phục được những hướng đi của tranh luận. Có hai hướng cho những khoản đặc biệt là thường vận hành trong một văn phong mạch lạc, ngược lại với ‘elenchus’ là bắt bẻ, vặn vẹo câu văn và ‘dialectic’ là thứ luân lý nguyên tắc hoạt đầu thường là kiểu cách đặc ra vấn đề và trả lời, cái loại này của ‘dialectic’ gần như giáo điều. Phép dạy về đối thoại là để có một cơ cấu pháp chế, là thẩm tích giữa đối thọại và tranh luận, một vượt mức của nền giáo dục; cho dù theo phép đối thoại thì đây là ý thức trong đối thoại, nghĩa là thuyết phục phải hợp pháp hơn cái nghĩa của sự cớ (proof) trong phần đối thoại.
  Bất cứ là gì chính bản thân Plato đã nghĩ về cái hiệu năng cho sự cớ (proof-giving) về tranh luận. Độc giả của ông cũng có một hạn hữu về ý tứ; từ lẽ đó xuất hiện ra những gì người ta tin cậy trong những tranh luận không mấy trong sạch, lành mạnh và từ lẽ đó cuộc tranh luận không trở nên những người ghét bỏ. Sau một thời đại; những ngụy biện gia và những diễn thuyết gia đã khám phá ra một thứ biện chứng nghệ thuật tranh cải cho tất cả loại thứ của kết thúc và thông thường đem lại đối nghịch tương phản, ấy cũng là lý do có thể có nhiều độc giả của Plato nhìn lại sự tranh luận như thể là dụng cụ của lừa bịp hơn là ngọn nguồn của sự thật. Một đôi khi Plato xử dụng vai trò của mình như một bản chất cứng nhắc (catalyst) để tạo niềm tin giữa những gì thuộc triết thuyết đưa ra. Cho nên cần nhận biết giữa tranh luận và đối thoại.
  Cứu cánh của Socrates và Plato đã đạt tới cao vọng của cái ‘Đức /Virtue’ nghĩa là đạt tới tranh luận không phản kích vào nền tảng luân lý làm cho nó không còn vấn đề của tập quán, thói quen không một giảo nghiệm, nhưng chắc chắn là nhận biết những gì có thể thấu triệt và dạy dỗ. Một cứu cánh đáng tán dương –nhưng phải hướng thẳng đến con đường hòa hợp của ‘Cộng hòa / Republic’; chức năng chuyên nghiệp là trực chỉ đối kháng tư duy đánh mất niềm tin và đào tạo công dân có phẩm hạnh của đạo đức nhân nghĩa; chính quyền của tỉnh, thành (polis) là cơ quan điều hành giữa dân và quân, phải ký thác vào những gì cho người có một tinh thần đạo và đức. Khẩn nài của Plato là nhắm vào Nhận biết / Knowledge để có hiệu quả cho một xã hội đồng thời có một cá tính độc đáo, mỗi cá nhân trong chúng ta là một chuyên viên thông thạo trong việc theo đuổi và có thể cầm giữ được điều đó. Họa sư (the master art) gần như quan trọng và khó khăn cho tất cả những gì gọi là ‘chính trị nghệ thuật / the political art’, và; Plato chính là sư phụ dạy cho chúng ta thấy đâu là đối thoại chính trị và đâu là đối thoại chính trị nghệ thuật; đấy là khám phá của triết thuyết phát sinh từ Platonic / Platonism, trở thành như định luật. Triết thuyết đó làm tốt đời sống để cùng chia sẻ vào mọi thứ cần thiết. Cho nên chi Plato không hợp ý những phương pháp hay bất cứ cứu cánh nào, những thứ đó không dính dáng gì đến triết thuyết. Nghĩa của chữ ‘thầy giáo của khôn ngoan / teacher of Sophia’ và ngay chữ ‘sophia’ là một trong những từ khó của Hy Lạp, nghĩa khác là khôn ngoan, khéo léo, đảm đương ‘cleverness’ hoặc ‘thực hành kỷ năng / practical ability’ là những nhu cầu cần thiết để đối thoại hơn là tranh luận mà đi ra ngoài triết thuyết nhân bản của con người. Triết học mở mang ngôn từ là ngợi ca cái đẹp thẩm mỹ văn chương. Từ ngữ triết-học khai sinh từ những nguyên cớ đó. Họ (plato Socrates và Aristotle) là những người khám phá và tiên phong hàng đầu mở ra những chương mục rút ra từ kinh nghiệm cuộc sống, kinh nghiệm xã hội, chính trị và tôn giáo là nền tảng xây dựng cho mỗi triết thuyết, đáng kể nhất triết thuyết Plato; dẫu có những lý do khác nhưng đó là triết thuyết của triết học.

  Một phương trình khác quan trọng hơn là huyền thoại. Huyền thoại đến với người đọc là thứ văn hóa cá thể và đi tới những niềm tin và cảm nhận sâu lắng. Chúng ta có thể coi lại những cảm thức ở đây là điều kiện di sản văn hóa. –Another important device is myth. Myth appeals the reader’s cultural identity and to deep-seated beliefs and feelings. We might view these feelings as culturally conditioned. Plato có thể thấy lại nhiều thứ khác nhau trong đó như những phát thảo mờ nhạt của một thứ bẩm sinh nhận biết. Những thứ huyền thoại sẽ đặc vào nơi chốn cuối cùng ở tác phẩm Gorgias và Phaedo trong qui cách suy diễn với những gì hâm nóng trong chúng ta đặc dưới dạng lý luận (sub-rational) đồng hóa mọi thứ để kết thúc việc đi tới tranh luận. Giảm đi tính chất huyền thoại giống như giản đơn hình ảnh của phép ẩn dụ, một điều kiện khéo léo để chúng ta đọc và trợ vào nhau trong việc lấy ra một câu trả lời thực tiễn từ chúng ta.
  Thông thường Plato hầu như quan tâm nhiều về sự nản chí niềm tin hơn là nâng lên một điều gì đặc biệt ở chính ông. Một thứ bắt bẻ, vặn vẹo luân lý (elenchus) sẽ là một dụng cụ quan trọng, và rồi như là lời châm biếm, đùa cợt. Bày tỏ về niềm tin với người nói chuyện như cùng đồng điệu, bởi; sự bày tỏ của ông chưa hẳn trọn vẹn cho một luân lý hiện hữu. Tuy nhiên những luận thuyết của Plato vẫn còn tồn lưu ./.

VÕ CÔNG LIÊM

(ca.ab.yyc 1/5/2014)
*Plato: (427-c . 347 BC) Triết gia Hy Lạp. Tác phẩm chính yếu ‘Cộng Hòa’ và ‘Đối Thoại’. Socrates: (470-399 BC) Triết gia. Giáo sư triết Hy Lạp. Aristotle: (384-322 BC) Triết gia Hy Lạp. Học trò của Plato. Những tác phẩm thuộc Luân lý, Siêu hình, Đạo lý, Chính trị…
SÁCH ĐỌC: Plato’s Earlier Dialectic. Oxford. 1953. (Penguin Classics. Toronto. Canada M4V 3B2).


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 26.5.2014.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA VÕ CÔNG LIÊM TRONG VIỆT VĂN MỚI

Quay Lên Đầu Trang