Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



TRĂNG SÁNG VƯỜN CHÈ

KHOA BẢNG VIỆT NAM THỜI XƯA






 Các kỳ thi Nho học ở Việt Nam bắt đầu có từ năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông và chấm dứt vào năm 1919 đời vua Khải Định . Trong 845 năm đó, đã có nhiều loại khoa thi khác nhau, ở mỗi triều đại lại có những đặc điểm khác nhau, song trong các đời Lý Trần , Hồ có một đặc điểm chung là các khoa thi đều do triều đình đứng ra tổ chức, chỉ đạo thi. Hệ thống thi cử tuyển người làm quan này gọi là khoa cử

      Khoa bảng là cái bảng danh dự, liệt kê tên họ các thí sinh đỗ đạt học vị trong các kỳ thi cử này, phần lớn được tuyển chọn làm quan chức cho triều đại phong kiến Việt Nam. Khoa bảng là tĩnh từ để chỉ những người đỗ đạt này. Thí dụ: "Gia đình khoa bảng" là gia đình có học, có người trong họ đỗ đạt cao trong những kỳ thi cử do triều đình tổ chức và chấm khảo.
      Các sách xưa dùng chữ Nho dạy Nho giáo cho thí sinh dự các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình. Cuối thời nhà Trần , Hồ Quý Ly nắm quyền điều hành triều đình đã đặt ra lệ thi Hương đầu tiên ở các địa phương, năm 1396 đời Trần Thuận Tông , lấy người đỗ được học vị cử nhân. Năm sau (1397) tổ chức thi Hội ở kinh đô. Đây là khoa thi Hội đầu tiên.
      Từ thời Hậu Lê, việc thi cử được tiến hành đều đặn và quy củ. Các kỳ thi theo thứ tự là Thi Hương, Thi Hội, Thi Đình. Người đỗ đầu cả ba thì gọi là Tam Nguyên (như Tam nguyên Vũ Phạm Hàm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Khuyến …). Thi Hương được tổ chức mỗi 3 năm, vào các năm Tý , Ngọ , Mão , Dậu . Thi Hội sau thi Hương 1 năm, vào năm Sửu , Mùi , Thìn , Tuất .

Thi Hương .

      Cuộc thi được tổ chức tại các trường nhiều nơi (từ Hương do nghĩa khu vực quê hương của người thi). Nhưng không phải tỉnh nào cũng được tổ chức thi Hương. Trường thi chia ra làm nhiều vùng. Ba bốn trấn hoặc tỉnh cùng thi ở một nơi, thí dụ trường Nam là tập trung thí sinh ở các tỉnh chung quanh Nam Định , trường Hà các tỉnh chung quanh Hà Nội vv... Số thí sinh mỗi khoa có đến hàng nghìn người.
      Theo quy định từ năm 1434 , thi Hương có 4 kỳ:

      - I: Kinh nghĩa, thư nghĩa;
      - II: Chiếu, chế, biểu;
      - III: Thơ phú;
      - IV: Văn sách.

      Thi qua 3 kỳ thì đỗ Tú Tài (trước 1828 gọi là Sinh đồ ) – tên dân gian là ông Đồ, ông Tú. Thường mỗi khoa đỗ 72 người. Tuy có tiếng thi đỗ nhưng thường không được bổ dụng. Nhiều người thi đi thi lại nhiều lần để cố đạt cho được học vị Cử nhân. Lần thứ nhất đỗ gọi là "ông Tú", lần thứ hai vẫn đỗ Tú tài thì gọi là "ông Kép", lần thứ 3 vẫn thế thì gọi là "ông Mền".
      Thi qua cả 4 kỳ thì đỗ Cử Nhân (trước 1828 gọi là Hương cống ) – ông Cống, ông Cử. Mỗi khoa đỗ 32 người, được bổ dụng làm quan ở các cơ quan cấp tỉnh, cấp trung ương, hoặc được đi làm quan các huyện, sau dần dần mới lên các chức vụ cao hơn. Người đỗ đầu gọi là Giải Nguyên.
      Khoa thi Hương đầu tiên năm 1396 đời Trần Thuận Tông, khoa thi Hương cuối cùng tổ chức năm 1918 đời vua Khải Định .

Thi Hội .

      Thi Hội là khoa thi 3 năm một lần ở cấp trung ương do bộ Lễ tổ chức. Từ đời Lê Thánh Tông thi Hương được tổ chức vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu và thi Hội vào năm sau Sửu, Mùi, Thìn, Tuất. Khoa thi này được gọi là "Hội thi cử nhân" hoặc "Hội thi cống sĩ" (các cử nhân, cống sĩ , tức là người đã đỗ thi Hương ở các địa phương, tụ hội lại ở kinh đô để thi) do đó gọi là thi Hội.
      Trước năm 1442 thí sinh đỗ cả 4 kỳ được công nhận là trúng cách thi Hội, nhưng không có học vị gì. Nếu không tiếp tục thi Đình thì vẫn chỉ có học vị hương cống hoặc cử nhân. Chỉ sau khi thi Đình, người trúng cách thi Hội mới được xếp loại đỗ và mới được công nhận là có học vị các loại tiến sĩ. Từ năm 1442 thí sinh đỗ thi Hội mới có học vị Tiến Sĩ (tức Thái học sinh – tên dân gian là ông Nghè ). Người đỗ đầu gọi là Hội Nguyên.
      Vào thời nhà Nguyễn những thí sinh thiếu điểm để đỗ tiến sĩ có thể được cứu xét và cho học vị Phó Bảng (ông Phó Bảng hay Ất tiến sĩ).
      Khoa thi Hội đầu tiên năm 1397 đời Trần Thuận Tông , khoa thi Hội cuối cùng tổ chức năm 1919 thời vua Khải Định, đánh dấu sự chấm dứt của khoa bảng phong kiến Việt Nam.

Thi Đình .

      Kỳ thi cao nhất là thi Đình tổ chức tại sân đình nhà vua. Nơi thi là một cái nghè lớn, nên sau này người ta thường gọi các vị vào thi là các ông nghè. Nhà vua trực tiếp ra đầu đề, và sau khi hội đồng giám khảo hoàn thành việc chấm bài, cân nhắc điểm sổ, chính nhà vua tự tay phê lấy đỗ. Người đỗ đầu gọi là Đình Nguyên .
      Theo số điểm, người đỗ được xếp vào 3 hạng gọi là Tam Giáp:

      - Bậc 3: Đỗ Tiến Sĩ Đệ Tam Giáp ( Đồng tiến sĩ xuất thân – tên dân gian là ông Tiến Sĩ)
      - Bậc 2: Đỗ Tiến Sĩ Đệ Nhị Giáp (Tiến sĩ xuất thân, Hoàng Giáp – ông Hoàng)
      - Bậc 1: Đỗ Tiến Sĩ Đệ Nhất Giáp (Tiến sĩ cập đệ – gồm 3 thí sinh đỗ cao nhất gọi là Tam khôi : Đỗ hạng ba là Thám Hoa (ông Thám), hạng nhì là Bảng Nhãn (ông Bảng), đỗ đầu là Trạng Nguyên (ông Trạng)

      Đôi khi lúc chấm bài, chủ khảo (trong đó có cả vua) thấy người thủ khoa không đạt được điểm số tối thiểu để gọi là Trạng. Những khoa này sẽ không có Trạng Nguyên – thủ khoa giữ cấp Đình Nguyên. Thí dụ: Lê Quý Đôn – đời Hậu Lê và Vũ Phạm Hàm – đời vua Thành Thái, đỗ cao nhất nhưng chỉ được cấp vị Đình Nguyên Bảng Nhãn và Đình Nguyên Thám Hoa. (Đặc biệt, cà hai ông đều đỗ dầu trong cả ba kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình nên hai ông còn được gọi là Tam Nguyên Bàng Nhãn và Tam Nguyên Thám Hoa).
      Vào năm 1828 vua Minh Mạng chỉnh đốn lại khoa cử và bỏ Đệ nhất giáp. Học vị Trạng Nguyên, Bảng Nhãn không còn trên khoa bảng từ đó.

Vinh quy bái tổ.

      Bài thi Đình được vua chấm xong, khoa thi đã chọn được người đỗ Tiến Sĩ để niêm yết bảng vàng. Triều đình sẽ cử hành nghi lễ trang trọng xướng danh Tiến Sĩ tân khoa và ban yến. Sau đó, nhà vua sẽ ban ân tứ để Tiến Sĩ tân khoa vinh quy bái tổ.

Ân tứ vinh quy:

      Theo Khâm định Đại Nam Hội điểu sự lệ, từ khoa thi Tiến Sĩ đầu tiên của triều Nguyễn (1822) đã có lệ định việc vinh quy của tân Tiến Sĩ, nhằm thể hiện sự trân trọng nhân tài và học vấn của triều đình. Việc vinh danh đầu tiên cho các tân Tiến Sĩ là cho xem hoa tại vườn ngự uyển và cưỡi ngựa dạo quanh kinh thành.
      Xong việc ngắm hoa, các tân Tiến Sĩ lại được cấp một lọng đen, một hồ lô đen, một con ngựa kèm theo bốn lính hầu quân phục tề chỉnh. Tiếp đó, quan kinh dẫn các tân Tiến Sĩ cưỡi ngựa ra cửa chính đông đi ngắm phố phường xung quanh kinh thành. Xong việc trở về thì phải trả lại ngựa. Hôm sau, quan kinh lại dẫn các tân Tiến Sĩ vào Văn Minh điện để dâng biểu tạ ân và để vua hỏi han các tân Tiến Sĩ. Xong xuôi, quan bộ lễ sẽ chọn ngày tốt để các tân Tiến Sĩ làm lễ ở Văn Miếu.
      Tân Tiến Sĩ được ban cấp cờ có thêu học vị đã đạt được trong khoa thi và tấm biển màu đỏ một mặt khắc hàng chữ ân tứ vinh quy, mặt kia khắc tên tuổi thứ hạng đỗ đạt. Đồng thời, triều đình lệnh cho các quan địa phương cử mười hay hai mươi quân lính binh phục đầy đủ để hộ tống tân Tiến Sĩ về quê.
      Vào năm thi Tiến Sĩ đầu tiên, triều đình cấp năm người phu để hầu tân Tiến Sĩ về làng vinh quy bái tổ. Về địa phương thì quan chức sở tại phải tổ chức một đám rước long trọng để đón tân Tiến Sĩ về làng. Đám rước tân Tiến Sĩ đi đầu có hai người cầm biển, tiếp đó tân Tiến Sĩ ngồi trên võng có hai người gánh, sau cùng là một người mang đồ đạc, hai bên có hai hàng lính hộ tống. Về đến làng thì được các vị chức sắc làng và dòng họ cùng dân chúng ra nghênh đón, đưa Tiến Sĩ về nhà thờ làm lễ bái tạ tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Các Tiến Sĩ được ở địa phương tối đa hai tháng thì phải trở lại kinh đô Huế để chờ bổ dụng.

ĐỒNG TIỀN THỜI XƯA

Đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo thời nhà Đinh

      Trong lịch sử một ngàn năm Bắc thuộc, Dân Việt không có đồng tiền riêng. Mãi đến sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, dân Việt vẫn còn dùng đến đồng tiền của phương Bắc. Đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế với đế hiệu Đinh Tiên Hoàng, niên hiệu Thái Bình. Năm 970 nhà vua đã cho đúc những đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo. Đây chính là những đồng tiền đầu tiên của người Việt. Từ đó tiếp đến những triều đại sau đều theo.
      Đơn vị để tính tiền xưa gồm có: quan, tiền, đồng. Mỗi quan có giá trị là 10 tiền, mỗi tiền bằng bao nhiêu đồng tùy theo quy định của mỗi thời đại. Theo sử sách giá trị đồng tiền các thời đại như sau:

      1/ Năm 1225, vua Trần Thái Tông định phép dùng tiền – 1 quan bằng 10 tiền – 1 tiền bằng 70 đồng.
      2/ Năm 1428, vua Lê Thái Tổ cho đúc tiền Thuận Thiên – 1 quan bằng 10 tiền – 1 tiền bằng 50 đồng.
      3/ Năm 1439, vua Lê Thái Tông quy định 1 quan bằng 10 tiền – 1 tiền bằng 60 đồng. Như vậy:
      1 quan = 10 tiền = 600 đồng.

      Từ đó các triều đại về sau, mỗi khi đúc một loại tiền mới đều theo tỷ lệ này, cho đến cuối triều Nguyễn năm 1945. Chỉ có tên đồng tiền là thay đổi theo tên hiệu.
      Năm 1905, chính quyền bảo hộ Bắc kỳ cho phát hành loại tiền đúc bằng hợp kim kẽm. Loại tiền này mặt trước in chữ Pháp, mặt sau ghi chữ Hán, có giá trị tương đương các loại tiền đồng như Gia Long Thông Bảo, Minh Mệnh Thông Bảo, Thiệu Trị Thông Bảo và Tự Đức Thông Bảo.
      Trong những đời vua sau của nhà Nguyễn còn có thêm hai đồng tiền khác là Khải Định Thông Bảo và Bảo Đại Thông Bảo, hai loại tiền này không đúc như những đồng tiền xưa mà được dập bằng máy dập nhập từ nước Pháp.
      Như vậy, qua giá trị của các loại Tiền Xưa dưới thời vua Minh Mạng: Quan Nhất phẩm có lương 400 quan tiền, trong khi đó, Lính, Thơ lại, Phục dịch chỉ có lương là 1 quan tiền. Như thế, đồng quan ngày xưa nó to thế. Nên người ta bỏ… quan ra để mua phẩm hàm, chức tước... để được làm quan!
      Chẳng trách người phụ nữ "thời xưa" trong bài thơ ‘Trăng sáng vườn chè’ quên cả thanh xuân, gác tạm những ẩn ức, dồn nén để một ngày chồng vinh quy về làng... cùng nhau trải trọn trong một đêm trăng! Nhạc sĩ Văn Phụng đã phổ thơ thi phẩm này của nhà thơ Nguyễn Bính thật là dí dỏm và ướt át, nêu lên tục lệ “Vinh quy Bái tổ” để người vợ hãnh diện biết bao nhiêu khi đi đón chồng đỗ kỳ thi Đình và hiên ngang trở về làng quê với nghi thức trang trọng, bõ công người vợ mỏi mòn đợi chờ trong thời gian dài... và cuối cùng thì…

Đêm nay mới thật là đêm
Ai đem trăng tưới lên trên vườn chè.

Sau đây là Ca khúc nhắc lại lệ Vinh quy Bái tổ và Đồng tiền xưa:

Trăng Sáng Vườn Chè

      Nhạc: Văn Phụng – Thơ: Nguyễn Bính

Sáng trăng sáng cả vườn chè
Một gian nhà nhỏ đi về có nhau
Vì tằm tôi phải chạy dâu
Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay
Chồng tôi thi đỗ khoa này
Bõ công kinh sử từ ngày lấy tôi
Kẻo không rồi chúng bạn cười
Rằng tôi nhan sắc cho người say sưa
Tôi hằng khuyên sớm khuyên trưa
Anh chưa thi đỗ thì chưa (thì chưa) động phòng
Một quan là sáu trăm đồng
Chắt chiu tháng tháng cho chồng (mà) đi thi
Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy
Hai bên có lính hầu đi dẹp đường
Tôi ra đón tận gốc bàng
Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem
Đêm nay mới thật là đêm
Ai đem trăng tưới lên trên vườn chè.

KHOA BẢNG VIỆT NAM THỜI NAY

      Cải cách kỳ thi tốt nghiệp THPT tại Việt Nam và Kinh nghiệm từ nước Mỹ
      Sau một thời gian dài chuẩn bị, đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo" đã được thông qua tại một Hội nghị tại Hà Nội vừa qua. Một trong những nội dung đáng chú ý là kỳ thi tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông (THPT) sẽ được đổi mới theo hướng kiểm tra năng lực, và kết quả của nó sẽ được sử dụng như một trong những căn cứ để tuyển sinh, thay thế cho kỳ thi đại học hiện nay. Việc lựa chọn giải pháp thi cử này đang tạo nên nhiều luồng ý kiến trong xã hội...
      Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết: Sẽ có nhiều đổi mới trong tuyển sinh đại học theo hướng giảm áp lực: giữ kỳ thi tốt nghiệp, bỏ kỳ thi đại học.
      Thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, quá trình chuẩn bị nội dung Đề án đã làm dấy lên một cuộc tranh luận nóng bỏng về kỳ thi này. Lựa chọn của đa số dường như thiên về việc nên bỏ kỳ thi tốt nghiệp và giữ lại kỳ thi tuyển sinh đại học. Tỷ lệ đậu kỳ thi tốt nghiệp THPT trong những năm gần đây đều cao hơn 90%, khiến nhiều người nghi ngờ vào chất lượng của kỳ thi này, và cho rằng đây là một kỳ thi quá tốn kém mà chỉ nhằm để loại chỉ vài phần trăm thí sinh. Thay vào đó, có thể xem xét cấp chứng chỉ tốt nghiệp cho toàn bộ học sinh sau khi học hết lớp 12, nhằm giảm áp lực để các em tập trung vào một kỳ thi quan trọng khác là kỳ thi đại học.
      Thật ra, những ý kiến lâu nay của dư luận chung quanh các kỳ thi phản ánh rất rõ cách hiểu còn hạn chế của nhiều người về mục đích của thi cử. Hai kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học có mục đích hoàn toàn khác nhau. Kỳ thi tốt nghiệp nhằm đánh dấu sự hoàn tất một giai đoạn học tập kéo dài 12 năm của một học sinh, thời gian quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách và phát triển trí tuệ của người học, để chuẩn bị cho giai đoạn đào tạo chuyên nghiệp, hoặc bước vào thế giới việc làm. Vì vậy, tỷ lệ đậu càng cao thì càng đáng mừng. Tất nhiên, mọi cuộc thi đều phải được tổ chức nghiêm túc, khách quan, và đánh giá được những năng lực cần đánh giá.
      Mục tiêu quan trọng nhất của kỳ thi tốt nghiệp là cung cấp thông tin phản hồi cho các bên liên quan: cho giáo viên và nhà trường về hiệu quả của quá trình dạy và học trước đó; và cho các nhà chính sách để giám sát và điều chỉnh mục tiêu giáo dục sao cho phù hợp với yêu cầu của đất nước trong từng giai đoạn. Kỳ thi này thật ra rất cần thiết.

Kỳ thi tốt nghiệp và chất lượng giáo dục phổ thông.

      Để hiểu rõ tầm quan trọng của kỳ thi tốt nghiệp THPT đối với chất lượng của một nền giáo dục, có thể tham khảo trường hợp Mỹ. Tại đất nước có nền giáo dục tự do và phân quyền rất cao này, giáo dục phổ thông do chính quyền Tiểu bang quản lý. Việc tổ chức hay không tổ chức một kỳ thi tốt nghiệp THPT cũng do từng Tiểu bang quyết định, và trước khi đạo luật "No Child Left Behind" (tạm dịch: Không bỏ sót một đứa trẻ nào) ra đời vào năm 2001 thì hầu như mọi Tiểu bang của Mỹ đều không yêu cầu học sinh tham gia một kỳ thi, mà cấp chứng chỉ tốt nghiệp cho tất cả học sinh đã hoàn tất chương trình lớp 12.
      Với sự ra đời của đạo luật "No Child Left Behind", một đạo luật nhằm cải cách và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông của nước Mỹ – để xứng đáng với vai trò của một cường quốc hàng đầu thế giới – trong vòng hơn một thập niên trở lại đây, ngày càng có nhiều Tiểu bang yêu cầu học sinh tham gia kỳ thi Tốt nghiệp bắt buộc do chính phủ Tiểu bang tổ chức.
      Vì sao một nước có truyền thống phi tập trung hóa và quan điểm nhất quán rằng Nhà nước không can thiệp sâu vào những công việc chuyên môn, giờ đây lại cảm thấy cần tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT? Câu trả lời rất đơn giản: Kỳ thi tốt nghiệp là một công cụ chính sách mà các nhà lãnh đạo có thể sử dụng để thúc đẩy quá trình cải cách giáo dục tại một địa phương.

Nước Mỹ thi tốt nghiệp THPT như thế nào?

      Mặc dù kỳ thi tốt nghiệp THPT được xem là một kỳ thi quan trọng nhất của giai đoạn giáo dục phổ thông, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc nó phải là một kỳ thi căng thẳng. Ngược lại, do bản chất là một kỳ thi đánh giá năng lực tiêu biểu chứ không phải là một kỳ thi cạnh tranh, kỳ thi tốt nghiệp phải được tổ chức để không tạo áp lực cho người học.
      Theo báo cáo năm 2012 của Trung tâm Nghiên cứu chính sách giáo dục (Center for Educational Policy, viết tắt là CEP) thuộc Đại học George Washington, kỳ thi tốt nghiệp THPT ở Mỹ khá nhẹ nhàng; phần lớn các Tiểu bang ra đề thi chỉ dựa trên nội dung của chương trình lớp 10; một số ít hơn dựa trên chương trình lớp 11, và chỉ có 1/26 Tiểu bang dựa trên chương trình lớp 12. Số môn thi cũng không nhiều, chỉ thi ba hoặc bốn môn, thậm chí nhiều nơi chỉ tổ chức thi hai môn. Hai môn thi luôn được chọn là Toán và Tiếng Anh/đọc hiểu (reading); những môn khác có thể xuất hiện trong các kỳ thi tốt nghiệp ở các Tiểu bang gồm có môn Viết luận (writing), Khoa học (science), và Xã hội (social studies).
      Việc tích hợp các môn tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học) thành môn Khoa học và các môn xã hội (lịch sử, địa lý, công dân,...) thành môn Xã hội cho phép ta đánh giá năng lực tư duy, sáng tạo và giải quyết vấn đề của học sinh, chứ không buộc học sinh phải nhồi nhét kiến thức vào đầu để trả bài thuộc lòng như một con vẹt. Theo báo cáo của CEP, tỷ lệ đạt tốt nghiệp ngay lần thi đầu tiên xét theo từng môn thi ở tất cả các Tiểu bang có biên độ dao động khá lớn, khoảng từ 50% đến hơn 90%, trong đó phần lớn rơi vào khoảng 70 – 80%. Các thí sinh không đạt có thể thi lại trong đợt thi kế tiếp, hoặc cũng có thể chọn một cách khác để hoàn tất, thí dụ như nộp điểm của một kỳ thi khác như SAT, ACT, hoặc nếu thi mãi mà vẫn không đạt thì có thể nhận Chứng chỉ hoàn tất bậc trung học (không hoàn toàn tương đương với Bằng Tốt nghiệp).

TÓM TẮT

      Việt Nam là đất nước có một nền Khoa bảng từ hàng ngàn năm nay, chính sách Quốc gia Giáo dục hiện nay rất quan trọng, nó sẽ khiến cho những nhân tài Đất Việt có khả năng vươn cao ngang tầm cùng với thế giới hay không, tất cả tùy thuộc vào sự Cải cách giáo dục đang diễn ra. Mong rằng các cấp thẩm quyền sẽ cân nhắc, cẩn thận…
      Những thông tin về cách tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT tại Mỹ cho thấy đây thật sự là một kỳ thi nhẹ nhàng nhưng nghiêm túc và có giá trị, đánh giá được năng lực thật của người học, đồng thời cung cấp được những thông tin cần thiết cho giáo viên, cho nhà trường, và cho các nhà chính sách để cải thiện hệ thống theo những mục tiêu mong muốn.
      Với đề án "Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo" vừa được thông qua, chúng ta đã xác định được vấn đề cốt lõi cần quan tâm của giáo dục Việt Nam trong những năm tới. Học hỏi kinh nghiệm của các nước luôn là điều cần thiết để tránh cho chúng ta những sai lầm.
      Nói vắn tắt, kỳ thi tốt nghiệp THPT là Kỳ thi quan trọng nhất của giai đoạn Giáo dục Phổ thông, là công cụ hữu hiệu để quản lý và thúc đẩy chất lượng giáo dục.

Công bố lịch thi tốt nghiệpTHPT năm 2014

      Bộ GD-ĐT vừa có văn bản gửi các Sở GD – ĐT về hướng dẫn tổ chức thi tốt nghiệp THPT năm 2014 (từ ngày 2/6 đến 4/6/2014)
      Theo văn bản này thì giáo dục Trung học phổ thông thi 4 môn, gồm 2 môn bắt buộc (Toán, Ngữ văn) và 2 môn do thí sinh tự chọn trong số các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ; với môn Ngoại ngữ, thí sinh tự chọn một trong các thứ tiếng: Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiếng Trung Quốc (theo chương trình 7 năm) và Tiếng Đức, Tiếng Nhật (theo chương trình Đề án thí điểm).
(Tham khảo: Tài liệu trên Sách báo và trên Internet)
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 17.5.2014.