Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




HÀ NỘI- THĂNG LONG NGÀN NĂM






Đại cương

Vùng đất Hà Nội có lịch sử lâu đời nhất so với những thể loại đô thị khác tại Việt Nam; nhưng danh xưng Hà Nội thì chỉ mới xuất hiện vào thế kỷ thứ XIX, dưới triều nhà Nguyễn mà thôi. Trong thời gian trước đó, qua các triều đại và những giai đoạn kiến thiết thành trì, đô thị nầy có rất nhiều tên khác nhau; địa danh được sử dụng phổ biến nhất là thành Thăng Long, gắn liền với một huyền thoại khi dời đô, vào năm 1010 và được xây dựng và trùng tu qua nhiều giai đoạn khác nhau.
Theo những tài liệu sử học, thì thời gian trước đó, thoạt kỳ thủy, vùng đất nầy chỉ là một khu làng cổ, nằm trên bờ con sông Tô (Tô Lịch), dựa lưng vào núi Nùng (núi Long Đỗ). Tô Lịch là một con sông lớn, quan trọng có đoạn chảy vào giữa nội thành Hà Nội cổ, nhưng nay thì đã bị vùi lấp nhiều.
Theo quan niệm phong thủy học thì vị trí nầy khá thuận lợi (trước là sông, sau là núi), tiền án, hậu chẩm, tả long, hữu hổ, sơn triều, thủy tụ. Đây của là khái niệm cơ bản trong việc quy hoạch cổ truyền về địa diện, từ khi thành nầy chỉ là một địa điểm nhỏ rồi dần dà mới được mở mang thêm dầm ra.
Theo những tài liệu cổ sử học thì khu làng cổ đầu tiên của Hà Nội thuở xưa có cái tên huyền thoại là làng Long Đỗ (Rốn của con rồng), vào thời đại Hùng Vương, trong địa bàn của bộ Tây Vu.
Vào thời kỳ Bắc thuộc thì vùng nầy là đất của huyện Tây Vu và Phong Khê đời nhà Hán (23 sau Công Nguyên); sau đổi thành đất của huyện Vũ (hay Vũ Châu) và Nam Định vào đời nhà Ngô (thế kỷ III sau Công Nguyên) và đời nhà Tấn (thế kỷ thứ VI). Vào khoảng giữa thế kỷ thứ V, thì khu đất làng gốc của Hà Nội đã được phát triển thành một huyện, rồi sau đó, do tổ chức hành chánh, cũng đã được nâng cấp lên, để trở thành một quận, có tên là quận Tống Bình; đây là giai đoạn của nhà Lưu Tống và nhà Tùy ở Trung Hoa.
Vào giữa thế kỷ thứ VI, và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử củavùng đất nầy, cuộc khởi nghĩa của Lý Bí chống lại chế độ Bắc thuộc của người Tàu, lập ra nước Vạn Xuân; trong trường hợp nầy, địa bàn của Hà Nội đã trở thành vùng trung tâm đất nước của những phong trào đấu tranh; một toà thành cổ cũng đã được xây lên tại đây trong giai đoạn đầu tiên.
Trong các sách sử Trung Hoa, chẳng hạn như sách "Lương Thư" cũng đãchép: Vào năm 545, Lý Bí (tức là Lý Nam Đế) đã dựng lên một thành lũy bằng tre và bằng gỗ ở nơi cửa sông Tô Lịch (Hồng Hà). Cuộc khởi nghĩa chỉ dấy lên trong thời gian ngắn đã bị thất bại. Sang thế kỷ thứ VII, đất Tống Bình đã trở thành trung tâm hành chánh và quản trị của cả vùng đồng bằng miền bắc Việt Nam, dưới đời nhà Tùy, sang đến đầu nhà Đường.
Năm 621, nhà Đường thay thế nhà Tùy, đã bắt đầu xây dựng thành lũy ở vùng Tống Bình; đến năm 679 thì đặt trị sở của vùng "An Nam Đô Hộ Phủ" tại đất Tống Bình, để khống chế tất cả vùng đất chiếm lấn được của người Tàu. Và cũng từ đó cho đến đầu thế kỷ thứ X, thì vùng trung tâm Hà Nội thời cổ đã trở thành vùng xây dựng dinh lũy quan trọng của chính quyền đô hộ.
Vùng đất nầy đã trở thành Đại La sau khi xây dựng một vòng thành lớn, kiên cố hơn và tổ chức nhiều cơ sở quan trọnghơn. Đây cũng là nơi tranh giành của những tổ chức khởi nghĩa chống ngoại bang, như cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng (cuối thế kỷ thứ VIII) hay cuộc khởi nghĩa của Dương Thanh (đầu thế kỷ thứ IX).

Hà Nội đời nhà Thục

Thục Phán thôn tính nước Âu Việt và Lạc Việt (Văn Lang) lập thành nước Âu Lạc, đó đô ở đất Việt Thường, xây thành Cổ Loa để cai trị. Đến khi Triệu Đà đánh Âu Lạc thì sát nhập vào Nam Việt, rồi sau đó nhà Hán đánh chiếmlấy đất Nam Việt; Ngô Tôn Quyền và nhà Đông Hán đánh Nam Triệu, và nhà Đường sai Cao Biền sang Lĩnh Nam, xây thành Đại La, để cai trị, mở đường cho việc xâm lăng.
Trong thời gian đầu, thủ phủ đặt tại thành Luy Lâu (Bắc Ninh) saudời về Đại La. Đây là thủ phủ của hệ thống cai trị trong toàn vùng. Nghệ thuật nơi đây cao hơn và phong phú hơn những vùng khác, nên thường được gọi là Nghệ Thuật Đại La.
Thành Đại La có vùng chu vi rộng 3,000 bộ, tức là gần 6 cây số. Bốn mặt thành đều xây nữ tường (tường nhỏ xây trên mặt thành), cao 5 thước,có 55 lầu dịch vọng. Trong toàn thành có đến 5 cửa lớn dùng để ra vào và phân chia theo từng loại khác nhau. Trên mỗi cửa có dựng trạm canh rất nghiêm ngặt. Ngoài ra còn trổ thêm 6 ứng môn (cửa nhỏ).
Theo những tài liệu nghiên cứu cho biết thì trong toàn thành có 5,000 căn nhà nhưng hầu hết giành cho binh sĩ. Một con đê bao quanh thành để ngăn lũ lụt. Đê nầy có tên là đê Trường Sa, có chu vi 2,125 trượng (khoảng 6 cây số) cao 5 thước, rộng 9 thước. Nhà cửa dân chúng trong thời đại nầy đều được xây cất trong khung khổ thông thường là hình vuông hay hình chữ nhật. Chung quanh nhà nào cũng đều có tường bao bọc.
Kiến trúc nhà cửa trong dân chúng ở Giao Châu không giống như nhà cửa ở Trung Hoa. Những ngôi nhà trong vùng thường có tường đất bao quanh để giữ gìn an ninh.
Đại cương có những đặc tínhnhư sau: Mái nhà thường uốn cong. Chồng nóc thường xây lớn hơn để ngăn ngừa lũ lụt khắc nghiệt của vùng nhiệt đới. Các tầng nhà đều xây theo độ lớn bằng nhau. Tầng sát đất thường thấp hơn những tầng trên cao, để chống đỡ vững chắc hơn. Một số nhà theo quy mô nhỏ thì chỉ làm hai chái.
Vào đầu thế kỷ thứ X, cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ, Khúc Thừa Mỹ, Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ và nhất là cuộc kháng chiến của Ngô Quyền, thì trung tâm của Hà Nội cổ đã trở thành địa bàn chiến đấuđể quyết định số phận của quân xâm lược phương bắc, kết thúc một nghìn năm Bắc thuộc của người Tàu. Đây cũng khởi đầu cho nhữngtrang sử vẽ vang nhất của dân tộc, mở đầu kỹ nguyên mới. Trong thời gian từ 952 đến 997, khi cuộc khởi nghĩa đi đến thành ng chuyển sang giai đoạn kiến thiết đất nước thì trung tâm Hà Nội được phát triển thêm nhiều.
Năm 1010, khi Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) dời đô ra thành Đại La (của Cao Biền ngày trước) đã đánh giá vùng đất nầy là nơi "nằm giữ khu vực đất trời, có thế rồng quấn, hổ ngồi, ở giữa nam bắc, đông tây, tiện hình thế núi sông sau trước, khu đất rộng mà bằng phẳng, chỗ đất cao mà sáng sủa, dân cư không bị khổ về nạn ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ nầy là hơn cả" (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Bản Kỷ).
Những nhận định trên đây cũng chính là nhận định của nhà vua trong bức "Chiếu chỉ dời kinh đô", để có thể mở đường cho khu vực trung tâm của thành Hà Nội cổ trở thành kinh đô của nước Đại Việt "Thực là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sử muôn đời".
Như vậy thì đô thị cổ Hà Nội chính thức thành lập từ thời điểm nầy, để kết thúc giai đoạn thường được gọi là "Thời kỳ Tiền Thăng Long" để chuyển sang giai đoạn phát triển mới, tiêu biểu cho tínhchất đô thị hoá vùng đất nầy.

Hà Nội đời nhà Lý

Trong bản nhận định của vua nhà Lý trong giai đoạn đầu tiên nầy đã viết như sau: "Vùng đất Hà Nội qua nhiều thế kỷ trước từng xây dựng thành quách, trở thành một trong những trung tâm chính trị, kinh tế cũng như quân sự và văn hoá".
Phải kể từ năm 545, khi Lý Nam Đế đã xây dựng vùng nầy để trở thành Vạn Xuân, đắp lũy đào hào ở cửa sông Tô Lịch, để chống lại quân xâm lăng của Trần Bá Tiên từ Trung Hoa tràn sang. Năm 602, nhà Tùy lại chuyển trị sở đô hộ của chúng từ thành Long Biên đến đất Tống Bình (tức là vùng đất Hà Nội ngày nay) cũng trong mục đích tương tự như trên để phát triển. Năm 621, Khâu Hoá xây dựng Tử Thành; năm 767, Trương Bá Nghi xây La Thành, năm 791 và 801, Triệu Xương và Bùi Thái sửa sang lại LaThành, gọi tên là "An Nam La Thành".
Tài liệu ghi chép về thời gian đó có nói: An Nam La Thành cao 22 thước (khoảng 7 mét ngày nay). Thành nầy có 3 cửa, trên đều có xây dựng lầu. Cửa đông và cửa tây lầu có ba gian, cửa nam cũng là cửa chính) có lầu năm gian. Trong thành có 10 cung, hai bên tả hữu đại sảnh dựng lều giáp trượng 40 gian để chứa vũ khí. Đây là thành đầu tiên được xây dựng khá quy mô kể từ trước.
Lần cuối cùng đắp thành Hà Nội trong thời Bắc thuộc là lần do Cao Biền đắp lên trong khoảng những năm 866 - 868. La thành của Cao Biền có quan hệ chặt chẻ với thành Thăng Long về sau nầy và được gọi tên là thành Đại La, cũng từ chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ.
Khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi (1009) thì công việc đầu tiên là cho dời kinh đô từ Hoa Lư đến Đại La. Theo truyền thuyết thì khi nhà vua đi thuyền đến Đại La có rồng vàng hạ xuống ở thuyền ngự, cho nên đã đổi thành Đại La ra thành Thăng Long.Qua suốt những đời Lý, Trần, Hậu Lê, tên của kinh đô có thay đổi: Thăng Long, Đông Đô, Đông Kinh; thành lũy, cung điện có xây, có phá, có đổi dời, có mở mang, tuy nhiên cũng chỉ xây dựng quanh quẩn trong vùng đất của Hà Nội ngày nay mà thôi.
Vị trí của thành Thăng Long đời nhà Lý được nhiều nhà viết sử bàn luận khá nhiều và không đồng nhất.
Lập luận 1: Theo Trần Huy Bá (1959) thì vị trí của thành Thăng long phía bắc áng chừng ở chỗ rẽ đường xuống trường Đua Ngựa cho đến cửa đền Quan Thánh; phía đông từ quá đền Quan Thánh đến gần Văn Miếu bây giờ; phía nam từ gần Văn Miếu tới gần chỗ rẽ tránh đường xe điện Cầu Giấy; phía tây từ chỗ tránh đường xe điện Cầu Giấy đi tắt đến gần chỗ rẽ xuống Trường Đua Ngựa bây giờ. Núi Khán Sơn ở Bách Thảo và Chùa Một Cột phải ở về phía đông Hoàng Thành Thăng Long xưa. Hồ Ngọc Hà phải là ở về phía đông của nội thành mới đúng như bản đồ thời Hồng Đức đã ghi chép.
Như thế các cung điện chính phải ở trong khu Hữu Tiệp, Ngọc Hà, Vạn Phúc, nhà máy rượu bia và chùa Bát Tháp bây giờ mới đúng chỗ. Vậy thành Thăng Long xây năm 1805 có lẽ đã theo sự nhu cầu gần bên sông Hồng Hà mà đã thiên hẳn ra ngoài phía đông thành Thăng Long cũ, rồi các di vật đều thiên cả ra mà sử không chép tườngtận chăng?
Lập luận 2: Theo Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán (1966) thì ý kiến đã không đồng ý như thế. Sử sách không hề chép có một sựdi chuyển nào của kinh đô Thăng Long qua những triều đại Lý, Trần, Lê.
Trái lại những di tích ghi trong tài liệu cũ phối hợp với sự điều tra tại chỗ cho phép đoán định rằng: Thành Thăng Long đời nhà Lý vẫn giữ nguyên vị trí cũ cho đến đời nhà Nguyễn sau nầy. Núi Nùng tức là núi Long Đô được thuyết Phong Thủy coi như là nơi tập trung của "Khí thiêng sông núi nơi đế đô" vẫn là trung tâm của thành Thăng Long qua bao nhiêu thế kỷ...
Xem như thế thành Thăng Long cũ bao gồm Hoàng Thành cùng khu buôn bán về phía đông giáp với sông Hồng, khu nông nghiệp ở về phía tây đã được hình thành ít nhất ngay từ đời Lý. Hai ý kiến trên đây đã khác nhau xa về vị trí địa lý của thành Thăng Long đời nhà Lý cho tới nay vẫn chưa được phân định đúng sai. Vấn đề phải đợi những cuộc khai quật thăm dò ở dưới lòng đất sâu trong khu vực Thăng Long, thì mới có được sự xác minh rõ ràng, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được.
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể tìm hiểu thêm qua những thư tịch còn lưu lại. Tuy nhiên các sách sử cũ thì trình bày sơ sài trong vấn đề nầy. Số lượng tương đối nghèo nàn, nhưng cũng có những giá trị nghiên cứu của nó, và giá trị nầy cao hay thấp thì cũng tùy theo cách khai thác tài liệu theo tư duy của mỗi người.
Như chúng ta thấy được những tài liệu đầu tiên quan hệ đến kinh đô Thăng Long ngày trước trong tờ Chiếu "dời đô" của vua Lý Thái Tổ, viết vào năm canh Tuất (1010).
Bài Chiếu có đoạn viết như sau: -"... Thế mà nhà Đinh, nhà Lê lại theo lòng riêng, lo là mệnh trời... yên ở nơi quê quán, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không nên. Trẫm rất xót thương, không thể không dời đi nơi khác. Huống chi kinh đô cũ của Cao Vương ở thành Đại La, ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn, hổ ngồi, ở giữa nam bắc, đông tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về nạn ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ nào ấy là nơi hơn cả" (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).
Căn cứ theo tờ Chiếu, việc xây dựng thành đã nêu lên những điểm chính như sau: Không câu nệ về đất quê hương của người sáng lập như các triều Đinh, Lê trước đây. Dựa trên quan điểm địa lý để xây dựng và bố cục các mặt thành. Tập trung vào nơi dân cư đông đúc.
Về kiến trúc:
Đại Việt Sử ký toàn thư cũng ghi rằng: "Bên xây dựng cung điện ở trong cung thành Thăng Long phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả dùng làm điện Tập Hiền, bên hữu làm điện Giảng Võ, lại mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân, cửa Đan Phương thông với cửa Uy Viễn, chính cửa nam là điện Cao Minh, đều gọi là thềm rồng. Bên trong thềm rồng có mái cong, hàng hiên bao quanh bốn mặt.
Sau điện Càn Nguyên dựng hai điện Long An và Long Thụy làm nơi nghỉ ngơi; bên tả làm điện Nhật Quang; bên hữu làm điện Nguyệt Minh; đằng sau dựng hai cung Thúy Hoa và Long Thụy làm chỗ ở cho cung nữ. Dựng kho tàng, đắp thành, đào hào, bốn mặt thành mở bốn cửa. Phía tây của vùng hoàng thành còn có xây thêm một số cung điện phụ thuộc khác như: điện Diên Linh, điện Vĩnh Ninh, điện Thiên Khánh, điện Hội Liên, điện Lệ Thiên, điện Thanh Hòa, điện Trường Xuân. Một trong những cơ sở nổi tiếng là Long Trì. Nơi đây có lầu chuông trống; phàm trong dân chúng ai muốn kêu oan điều gì thì có thể vào thỉnh chuông hay trống để khiếu nại.
Mặt khác, vua nhà Lý còn cho xây thêm cung Long Đức ở ngoại thành; nơi đây vị Hoàng Thái Tử thường đến để được những vị quan đại thần hướng dẫn công việc tập làm quen trong việc trị dân sau nầy. Phía đông có sông Lô Giang; phía bắc và phía tây có sông Tô Lịch, lại thêm Dâm Đầm dùng nơi án ngự vững chắc; phía Nam có nhiều hồ, trong đó có Đại Hồ giữa ở miệt dưới.
Quả là vị trí phòng thủ thích nghi. Đã vậy nhà vua lại cho tạo thêm những ngọn giả sơn như Nùng Sơn, Khán Sơn, Ngũ Nhạc, Tam Sơn, để gia tăng thêm ý nghĩa phong thủy, mà còn dùng làm thế bảo vệ nội thành.
Từ trong thành có thể nhìn bao quát toàn diện dễ dàng. Để bảo vệ vững chắc thêm, nhà vua cho củng cố vùng thành ngoài. Trước đây vùng nầy đã có la thành, cũng còn gọi là thành Đại La, nhưng qua bao nhiêu biến cố, đã bị suy sụp nhiều.
Vua Lê sai quan Chưởng Quản Lê Thái Tùng điều động quân sĩ và dân chúng trùng tu lại. Lũy nầy chạy theo dọc sông Tô Lịch, xuống sông Kim Ngưu sau đó ngược lên phía bắc; như thế vừa dùng làm đê ngăn chận mùa lũ lụt, lại vừa bảo vệ cho kinh thành.
Vùng la thành nầy có xây nhiều cửa ô ra vào; những cửa đó gồm có: ô Cầu Giấy, ô Yên Phụ, ô Ông Mạc, ô Triều Đông, ô Chợ Dừa. "Quân lính được tổ chức canh giữ chặt chẻ những cửa ô nầy. Thế bố trí cũng rất vững chắc. Ngoài ra, thành giữa xây theo hình đa giác, rồi chạy dọc theo sông Tô Lịch, đến sông Kim Ngưu thì lại chạy dọc lên phía Bắc. Chung quanh cũng có những cửa ra vào và được canh giữ. Phía trong là cấm thành, nơi vua và Hoàng gia cư ngụ.
Nhà Lý coi trọng việc bảo vệ kinh đô, nên cho kiến thiết không ngừng, nhất là những năm xẩy ra lũ lụt. Xem như vậy, thành Thăng Long đã trở thành một mô thức kiến trúc và bố cục khá vững chắc, quy mô. "Trong thời kỳ nầy, tất cả những cung điện đều được xây bằng gỗ, lợp ngói hoàng lưu ly hay thanh lưu ly. Đây là loại ngói ống, phía đầu có những mô hình điêu khắc tinh xảo.
Ba năm một lần, nhà vua thường tổ chức tế trời. Nơi tế lễ là đàn Hoà Khâu và đàn Xã Tắc. Trong vùng đất nầy còn có xây thêm đền thờ đức Khổng Phu Tử và Thất Thập Nhị Hiền. Ở đây còn có toà Quốc Tử Giám nơi giảng dạy các hoàng tử và con cái quan đại thần trong triều.
Dưới đời nhà Lý, trong hoàng thành có một số ngôi chùa giành cho những vị cao tăng và vị quốc sư. Nhà vua, hoàng hậu, hoàng thân quốc thích và các quan đại thần trong triều thường đến chiêm bái và nghe giảng kinh...."
Đoạn thư tịch trình bày trên đây cho thấy: Có một toà thành trong mới được đắp lên, có tường thành và hào ngoài, mở cửa ra bốn hướng. Toà thành nầy bao bọc các cung điện, kho tàng, chùa tháp của nhà vua và nằm trong thành Đại La của Cao Biền trước đây.
Như vậy thì thành Thăng Long của thời Lý có hai vòng thành: thành ngoài và La Thành của họ Cao; thành trong mới đắp sau khi dời kinh đô tới.
Tuy rằng đoạn thư tịch trên chỉ ghi chép một cách tổng quát về vịtrí và tên gọi của các cung điện, tuy nhiên cũng có thể gợi lên ývề công việc đắp thành đất và việc sửa chữa kinh thành Thăng Long, tức là tiếp tục đắp thêm và sửa chữa toà thành trong mới được đắp từ năm 1010, tường thành vẫn được đắp bằng đất, chứ không xây bằng gạch, đá hay bằng thứ vật liệu nào khác.
Một đoạn văn khác có chép thêm: "Năm Mậu Ngọ (1078), mùa Xuân,tháng giêng, sửa lại đoạn thành Đại La" cho biết thêm chi tiết rõràng hơn; đó là việc sửa chữa vòng thành ngoài của kinh thành Thăng Long đời nhà Lý. Cho đến nay thì những cuộc khai quật lẫn việc tìm dấu vết thành Thăng Long thời Lý không được là bao nhiêu, và chỉ mới được tiến hành sơ khởi ở vùng Ngọc Hà.
Những hiện vật thu thập được trong những cuộc khai quật không nhiều, tuy nhiên trên cơ bản có thể chứng minh được rằng: Thành trong của Thăng Long thời Lý là ở vùng Ngọc Hà ngày nay, nghĩa là chếch hẳn về phía tây thành Đông Đô thời Lê, hay Hà Nội thời nhà Nguyễn về sau.
Năm 1889, khi sửa sang lại vườn Bách Thảo, người Pháp có tìm được cột đá chạm rồng suốt thân cột, đường kính cột là 0,5 mét, caotrên 2 mét, hiện trưng bày tại Viện Bảo Tàng Hà Nội. Đây là cột đá chạm rồng độc nhất ở nơi cung điện của nhà vua trong thành Thăng Long đời Lý. Trong mấy năm đầu của thế kỷ XX, lại đào được ở phía tây của vườn Bách Thảo lan can đá chạm sấu, hai bên lan can còn chạm hoa cúc dây mang phong cách thời đại Lý - Trần. Đây là lan can bậc lên xuống của các cung điện nhà vua.
Tháng 7 năm 1932, cũng đã tìm thấy một hộp nhỏ chạm hoa cúc dây, trong có một cán dao hình đầu con vẹt. Hai hiện vật đều bằng vàng tìm thấy ở độ sâu chừng 2 mét, nơi cổng đi vào trường Đua Ngựa. Vùng Ngọc Hà, Vạn Phúc, Hữu Tiệp, Kim Mã... hàng trăm năm nầy cũng tìm thấy được nhiều đồ đất nung hình chạm khắc rồng, phượng hay những loài cầm thú. Đó là những bộ phận vật liệu kiến trúc và trang trí kiến trúc mang phong cách Lý - Trần.
Cũng tìm được hàng vạn mảnh đồ sứ men xanh, vàng hay nâu trong vùng đất nầy. Năm 1970 - 1972, cũng đã khai quật ở sườn phía tây nam núi Cung, nhằm tìm dấu vết cung Thái Hoà và Thành Trong, nhưng đã không mang lại kết quả nào. Năm 1972, khai quật khu Đồng Gạch và khu Đồng Giếng.
Hàng loạt divật kiến trúc như gạch, ngói, sư tử bằng đá và những đồ bằng đất nung... đã được phát hiện rải rác trong tầng văn hoá, tuy nhiên chưa tìm được nền kiến trúc rõ rệt. Những chồng bát đĩa được nung hông, dính liền lại với nhau đã tìm thấy được ở Đồng Giếng đã gợi ý cho biết có nhiều thợ thủ công sản xuất tại địa điểm nầy, để cung cấp vật liệu cho kinh đô trong thời gian đó.
Năm 1978, trong việc san bằng vùng đất Quần Ngựa, cũng tìm thấy được một phế tích kiến trúc xây dựng bằng loại gạch vồ và ngói lưu ly nhiều màu. Hiện vật nầy lại mang đặc điểm thời Lê; do đó, dự đoán về ngôi chùa Chân Giáo thời nhà Lý, nơi đi tu và bị sát hại của vua Lý Huệ Tông, nay cũng chưa được chứng minh rõ được.
Tháng 11 năm 1978, khu vực Quần Ngựa cũng tiếp tục được đào xới lên để xây nhà, cùng với khu Đồng Gạch, đã tìm được nhiều di vật bằng gạch vồ, gốm tráng men, bát đĩa còn nguyên vẹn, trong một tầng văn hoá ổn định. Một khẩu giếng được khai quật lên cũng tìm được một số đồ sứ nung khá phong phú, như là trung tâm thủ công nghiệp về loại đồ nầy.
Đồng thời có dấu vết của một dòng sông nhỏ, nối với sông Tô Lịch cũng được tìm ra dấu vết. Cuộc khai quật vết tích của chùa Chân Giáo cho thấy vào đời nhà Lý chưa có ngôi chùa tại đây. Cuộc tìm kiếm khác tại đình Thái Tề cũng tìm được nhiều vật liệu kiến trúc bằng đất nung vào thời Trần như rồng, phượng thường dùng trang trí trên các bờ nóc của mái kiến trúc cổ. Chùa Vĩnh Phúc được đào 10 hố cho thấy dấu tích ngôi chùa có từ đời Lê.
Qua những công trình sơ khảo như đã nói có thể đưa đến kết luận tổng quát như sau: (a) Vòng thành trong của thành Thăng Long cho đến nay vẫn chưa tìm ra dấu vết gì đích xác cả. (b) Vòng thành ngoài chính là La Thành của Cao Biền trước đó. Dấu tích đến nay khá rõ rệt. La Thành mặt đông từ đê con sông Hồng lên tới Hồ Tây; tiếp đến là đoạn đường Hoàng Hoa Thám, rồi chạy dọc tả ngạn sông Tô Lịch, từ Bưởi lên tới Ô Cầu Giấy, qua Giảng Võ đến Ô Chợ Dừa, khu Kim Liên, đường Đại Cồ Việt và đường Trần Khắc Chân cho đến Ô Đồng Mác, rồi lại gặp đê sông Hồng.
Vòng thành nầy đắp bằng đất; phía ngoài lợi dụng con sông Hồng, sông Tô Lịch và nhiều đầm hồ để làm những con hào tự nhiên. Những cửa thành tuy không còn tìm được chứng liệu gì, nhưng cũng có thể nghĩ rằng: Những đoạn khuyết của tường thành là nơi xâycửa thành. Vòng thành trong được xây đắp hoàn toàn mới, kể từ năm 1010.
Vòng thành bao quanh một loạt cung điện được dựng lên. Thành đắp bằng đất, có đào hào ngoài. Bốn cửa chính là Tường Phù, Quảng Phúc, Đại Hưng và Diệu Đức, nhưng không còn dấu vết gì để hiểu được cấu trúc của những cửa nầy. Vòng thành trong được gọi là "Cung Thành" (Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư) với ý nghĩa là: một tường thành bao quanh cả khu vực các cung điện nhà vua mới xây dựng từ khi dời kinh đô tới. Tài liệu trên ghi thêm: "Năm 1012, nhà vua sách phong Hoàng Thái Tử Phật Mã làm Khai Thiên Vương, làm cung Long Đức ở ngoài cho ở, có ý muốn cho biết việc trong dân gian..."
Toàn Thư cũng chép: "Tháng 6 (năm 1029) rồng hiện ở nền cũ điện Càn Nguyên. Nhà vua bảo các quan hầu rằng: "Trẫm phá điện ấy, san phẳng nền rồi màrồng còn hiện ra, hay là chỗ ấy đất tốt, đức lớn, dấy nghiệp ở chính giữa trời đất chăng".
Bèn sai quan, theo quy mô rộng lớn,nhắm lại phương hướng, làm lại, mà đổi tên là điện Thiên An. Bên tả làm điện Tuyên Đức; bên hữu làm điện Diên Phúc, thềm trước điện gọi là Thềm Rồng (Long Trì); bên đông Long Trì đặt điện Văn Minh; bên tây đặt điện Quảng Vũ; hai bên tả hữu Long Trì đặt lầu chuông trống đối nhau; dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì gióng chuông trống lên; chung quanh Long Trì đều có hành lang giải vũ, để các quan hội họp và sáu quân túc vệ. Phía trước làm điện PhụngTiên; trên điện dựng lầu Chinh Dương, để xem giờ khắc;phía sau xây điện Trường Xuân, trên có gác Long Đồ, để nghỉ ngơi, chơi ngắm. Bên ngoài có đắp Long Thành..." Phạm vi vòng thành thứ 2 đến nay vẫn chưa có ý kiến khẳng định. Vòng thành bao bọc hàng trăm kiến trúc cung điện, lầu gác, chùa tháp.
Hai vòng thành dù xây dựng trước sau khác nhau, nhưng được những vua nhà Lý tiếp nhận trong đồ án kiến trúc chung. Long thành là một vòng tường thành nhỏ, chỉ bao bọc một khu vực mới xây thêm, gồm điện Thiên An, điện Tuyên Đức, Diên Phúc, Văn Minh, Quảng Vũ, Phụng Thiên và Trường Xuân.
Vòng tường thành nầy rõ ràng là vòng tường thành trong cùng, vòng tường thứ ba lọt trong phạm vi của vòng tường thứ 2, đắp năm 1010, và chỉ bảo vệ riêng nơi ăn ở và làm việc của nhà vua. Người ta gọi đó là Cấm Thành.
Nếu tính Long Thành là 1 vòng tường thành, thì kinh thành Thăng Long thời Lý có 3 vòng tường thành bao bọc lẫn nhau. Như vậy thì kiểu "tam trùng thành quách" đã xuất hiện tại Việt Nam từ đời Lý, sớm hơn cả Trung Hoa nữa. Nhưng một số nhà nghiên cứu thì xem đây chỉ là công trình mang tính chất quân sự thuần túy.

Hà Nội đời nhà Trần

Cuộc thay triều đổi họ từ triều Lý sang triều Trần đã diễn ra ởkinh đô Thăng Long, bằng cách nhường ngôi của vị nữ hoàng Lý Chiêu Hoàng cho chồng là Trần Cảnh (tức vua Trần Thái Tông) năm 1225.
Trần Thái Tông lên ngôi năm 1230 thì việc đầu tiên là cho xây thêm các cung điện trong thành Thăng Long vốn có từ đời Lý, thêm vào cung Thành Từ, cung Quan Triều, cùng những nhà Lang Vũ ở phía đông và phía tây để mở mang thêm nhiều cơ sở khác.
Cho đến năm 1248, triều đình lại cho xây dựng thêm cầu Lâm Ba ở chùa Lân Giáo qua hồ Ngoại Thiềm, đến cung Thái Thanh, trở nên lộng lẫy uy nghi hơn trước nhiều.
Những công trình của nhà Lý khá đồ sộ, nhưng khi quân Nguyên đem quân sang xâm lăng nước ta vào năm 1280 đã phá phách nhiều cho nên triều đình phải cho tu bổ lại. Những viên sứ thần Trung Hoa đến Thăng Long thời gian đó đã ghi lại: Từ sứ quán đi 60 dặm, thì đến cầu Vân Hoà; đi thêm một đoạn nữa thì đến phía bắc của cầu Thanh Hoa; trên cầu nầy đã cấtlên 19 gian nhà. Vào cửa Tù trưởng có cửa Dương Kinh Môn, trên cửa có Triều Thiên Các...
Những cung được cất thêm trong thời gian nầy phải kể đến Tập Hiền Điện, Minh Linh Các, Đức Huy Điện. Vào những năm cuối đời nhà Trần, vua Trần Dụ Tông đã cho đào hồ trong Ngự Uyển, thả cá,lắp non bộ, lại nuôi chim quý, thú lạ. Lại cho người sang Châu Hoá mua cá sấu về thả.

Hà Nội đời Hậu Lê

Việc đầu tiên của vua Lê Thái Tổ sau khi lên ngôi là chỉnh đốn kinh đô, mọi việc triều chính. Nhà vua đổi tên thành Thăng Long ra thành Đông Kinh để phân biệt với Tây Kinh hay Lam Kinh ở Thanh Hoá. Đông Kinh vẫn trong vị trí cũ; chỉ xây thêm một số điện đài và đổi một số danh xưng.
Khu vực được mở rộng nằm về phía đông và phía tây nam. Phần mở rộng nhằm phát triển thêm mặt bằng của kinh đô trong giai đoạn được mở mang thêm và tổ chức lại đa dạng hơn trước. Về phía bắc, có đắp thêm một vòng thành rộng hơn, phần để ngăn nước lũ, phần khác để bảo vệ trị an và phòng giặc.
Thành thử thành Thăng Long nằm sát ngay bờ Tô Lịch, với những cung điện và thành lũy được khai triển thêm. Bố cục kiến trúc vẫn như cũ: tất cả đều nằm trên một trục thẳng và trở thành mô thức độc đáo xây hệ thống các lăng tẩm cho những triều sau. Lê Thái Tổ khởi đầu những công trình xây bổ túc Thăng Long của đời Trần. Những điện được xây dựng thêm: Kinh Thiên, Cần Chánh và Vạn Thọ, dùng làm nơi thiết triều và thờ phụng. Những vua Lê kế tiếp cũng xây dựng thêm Điện Hội Anh, Càn Đức, Tường Quang, Giảng Võ, Thúy Ngọc, Kim Loan, Bảo Quang. Về sau lại mở thêm Gác Thừa Thiên, đình Quảng Văn, Nghị Sự Đường, Vân Lập Đường, Phượng Nghi Đường, Viện Di Lâu.
Những phần bổ túc khác như: cầu Ngoại Thiềm là lối đi vào Hoàng Thành, vườn Ngự uyển nơi nhà vua vãn cảnh. Những vua Lê sau nầy như Lê Hiển Tông, Lê Uy Mục và Lê Tương Dực chỉ biết lo ăn chơi, cho nên việc mở cung điện thêm chỉ để thoả mãn những hiếu thắng, hành lạc.
Lê Hiến Tông cho xây Điện Thượng Dương, Giám Trị, Đồ Trị, Trường Sinh, và tất cả để mưu chuyện hoang đường trường sinh bất tử. Lê Uy Mục xây những cung điện thờ những nhân vật huyền bí như Châu Nguyên Điện, Bảo Thùy Điện, Tuyên Du Đường, có tính chất mê tín dị đoan, bùa phép, dung túng những tay thầy pháp, thầy bói, thầy tụng. Lê Tương Dực thì cho xây Đại Điện, Cửu Trùng Đài cũng trong mục tiêu tương tự kiểu ăn chơi đó.
Câu chuyện Vũ Như Tô làm điên đảo kinh thành Thăng Long một thời cũng là sản phẩm của những trò chơi nầy. Vũ Như Tô chỉ là một tên thợ khéo ở Cẩm Giàng thường đắp những mô hình cung điện giả có nhiều tầng khá công phu. Tiếng đồn đến tai vua Lê, nên Vũ Như Tô được mời vào kinh và cũng được phong cho làm quan Đô Đốc Giám để xây hai cung điện vừa nói.
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục nói về những toà nhà nầy như sau: Đại Điện có hơn 100 nóc có lầu. Cửu Trùng Đài có quy mô lớn lao. Trước mặt điện có hồ, thông với sông Tô Lịch. Dọc theo sông Tô Lịch thì lại cho đắp thành nghìn trượng để làm lá chắn cho những cung tế lễ trừ ma quái. Phần lớn những di tích nầy đã bị suy thoái và hư hỏng. Những triều sau không ai nghĩ đến kiến thiết lại và tổ chức những kiểu ăn chơi, mê tín nầy. Cảnh quan thời đó như thế thật đa dạng (Robequain).

Sinh hoạt kinh tế Hà Nội thế kỷ XIX

Từ khi định đô vào thế kỷ thứ XI cho đến ngay cả lúc kinh đô được dời về kinh thành Huế vào đầu thế kỷ thứ XIX, Hà Nội thời cổ vẫn là một đô thị sinh hoạt khá tấp nập, mà nền kinh tế chính yếu tại đây là những phát triển công thương và dịch vụ.
Tuy nhiên trong suốt nghìn năm tồn tại của mình, đô thị Hà Nội còn có một đặc trưng khác nữa là vị trí quốc đô của nó trong quá khứ. Về hai phương diện nầy, sinh hoạt nghìn năm của đô thị nầy là đã tạo ra một đường hướng, mô hình vận động theo kiến thức và tổ chức của một đô thị kết hợp giữa chợ, bến, phố, phường, mà những trung tâm là những khu chợ búa buôn bán sầm uất.
Ngay từ khi mới định đô, những hoạt động thị tứ ở Hà Nội đã được khai triển không ngừng.
Đại Việt Sử Ký chép lại: "Đô thị nầy mở phố chợ về cửa đông, hàng quán chen chúc sát đến bên đền Bạch Mã, rất huyên náo..." Vào thế kỷ XV, khi những nhà truyền giáo Tây Phương đến đây đã ghi rõ "Hàng hoá phong phú dựng lên nhiều lều quán, kẻ chợ thìcó rất nhiều ngôi chợ đẹp".
Trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú có ghi lại "Có 8 khu chợ nổi tiếng của đô thị là chợ Cửa Đông, chợ Cửa Nam, chợ Huyện, chợ Đình Ngang, chợ Ba Đá, chợ Văn Cử, chợ Bác Cử và chợ Ông Nước". Về sau lại còn bổ sung thêm một số chơi khác là: chợ Mới, chợ Yên Thọ, chợ Yên Thái, chợ Thịnh Quang, chợ Dịch Vọng.
Ngoài những chợ búa được trải đều khắp nơi, lại còn một hệ thống những bến cảng của đô thị nữa. Sông Hồng thông nước với sông Tô Lịch và các nhánh của sông nầy, tạo ra cho Hà Nội nhiều bến cảng lớn nhỏ, phục vụ đắc lực cho việc vận chuyển hàng hoá, đặc biệt là ở khu vực phía đông của Hà Nội. Những bến chính đều nằm ở phía bờ bên phải của con sông Hồng; hàng hoá từ đây mà ra vào không ngừng, qua các cửa ô.
Hồi thế kỷ XIX, Hà Nội cổ có 16 cửa ô thì ở mặt đông mở đến 11 cửa, để đón những nguồn hàng từ nhiều nơi đến trao đổi. Cùng với những khu chợ tấp nập của đô thị, những bến cảng trên sông của Hà Nội cổ đã hình thành cả mộtcảnh tượng nhộn nhịp lạ thường.
Chính ngay những phố phường của Hà Nội cổ cũng đã góp phần vào những hoạt động kinh tế của đô thị.
Trong "Lettres" (Annam - Tonkin (1884) Julieu viết: "Những người ở đây khéo tay, hay nghề; đô thị Hà Nội trải qua nhiều thế kỷ tồn tại, đã tập hợp được tại đô thị nầy cả một loạt nghề nghiệp và người sản xuất có chất lượng cao. Phố phường ở đây là nơi tàng trữ, đồng thời, cũng tung ra những khối lượng hàng hoá, với những kiểu thức đặc trưng nổi nét; nhiều phố do những người cùng làm một nghề tập hợp đông đúc..."
Một tác giả Tây Phương khác đến tìm hiểu Hà Nội cổ đã viết: "Mỗi loại hàng hoá đều có một khu phố riêng của nó. Ở phố Bát Sứ, tất cả đều là màu xanh; tiếp đến phố Bát Đàn, tất cả đều là màu đỏ. Rồi đến phố hàng Đồng, lấp lánh ánh kim vàng chói. Phố Hàng Thêu và phố Hàng Tranh, màu sắc tươi vui sặc sỡ" (Yann- Croquis Tonkinois- 1889)
Trên đây là một trong những sinh hoạt thương mải của Hà Nội cổ, điều mà những nhà nghiên cứu thường mệnh danh là "Kiểu đô thị trung cổ".
Nhà nghiên cứu xã hội Julien viết: "Những sinh hoạt cứ tuần tự theo kiểu đó: trên một quảng đường chừng 100 - 200 mét, không có gì khác hơn ngoài các cửa hành đồ khảm; xa hơn, không có gì khác hơn là các cửa hàng mây đan; xa hơn nữa, không có gì khác hơn, ngoài các hàng bán gạo.... Tất cả sinh hoạt kinh tế tại đây đều khuôn rập theo kiểu "tự sản tự tiêu, của phố phường Hà Nội, theo một nhịp điệu quen thuộc không mấy thay đổi.
Một số tàu buôn nước ngoài trong thế kỷ XIX đã ghé đến đây để mua những mặt hàng như bát đĩa, vàng, trầm hương, gỗ, đồ nhuộm, muối, hạt hồi. Hai mặt hàng chính tại đây thông thường là sơn và tơ lụa. Cũng có trường hợp và thời điểm tại đây còn kinh doanh tiền tệ.
Dampier trong Voyages and Discoveries viết: "Đổi bạc là một nghề quan trọng ở Kẻ Chợ (Hà Nội). Nghề đó được thực hiện do giới phụnữ. Họ là những người rất khéo léo và lão luyện trong nghề. Họ tiến hành những mưu kế trong đêm tối và đã biết cách làm thế nàođể tăng túi tiền của họ lên, như hệt những tay đầu cơ chứng khoán sắc sảo nhất ở Luân Đôn..."
Những hình ảnh trên đây được trình bày dưới mắt người nước ngoài khi đến nghiên cứu sinh hoạt kinh tế thị trường Hà Nội của thế kỷ trước, để tìm kiếm môi trường xuất nhập cảng. Tình trạng nầy kéo dài sang thế kỷ XX, và nhiều hình ảnh vẫn còn tồn tại đến ngày nay, ngoại trừ một vài sự kiện mới, nhưng cũng chỉ làm ăn nhất thời; như nghề địa ốc và nghề du lịch. Thiếu hẳn nền kinh tế xây dựng từ hạ tầng vững chắc, cho nên tình trạng đó cũng khó thay đổi sinh họat của dân chúng. Đó là chưa kể những khó khăn lớn dochính trị gây nên.

Kiến trúc Pháp đầu thế kỷ XX

Sang những năm đầu của thế kỷ XX, tình hình chính trị tương đối ổn định ở nhiều nơi trong nước, nhà cầm quyền cai trị Pháp đã bắt đầu quan tâm đến việc kiến trúc nhiều hơn. Ngôi nhà đấu xảo tại Hà Nội là bước thử nghiệm đầu tiên trong chương trình nầy. Ngôi nhà chính nầy phảng phất kiến trúc kiểu Petit Palais do nhà kiến trúc Charles Girauld đã trình bày trong cuộc triển lãm tại Parisnăm 1900, sau đó đã đem áp dụng trong kiến trúc tại đây.
Đây là kiểu bố trí ba khối kiến trúc nhô ra phía trước, khối giữa lớn hơn cả. Cả ba khối lợp mái kiểu Mansard, có hai hàng cột nối ba khối kiến trúc lại với nhau, trên những tường tầng hầm xây giả đá cổ điển Pháp. Cũng trong thời gian nầy, mạng lưới giao thông vận tải cũng được mở mang như đường sắt, đường xe hơi, xây dựng một số cơ quan hành chánh và văn hoá.
Năm 1902, ở Hà Nội đã xây trụ sở công ty xe lửa Đông Dương và đường Vân Nam, là một công ty độc quyền về hệ thống đường sắt của người Pháp tại đây, đồng thời cũng xây nhà ga Hà Nội trong thời gian nầy. Hai công trình nầy trong thời điểm đó được xem là đồ sộ về khối và chiều cao 3,4 tầng, nhưng cũng rất lạ về hình thức kiến tạo thời đó, với mái kiểu Mansard lợp bằng ngói thạch bản được chở từ Pháp sang.
Cùng với công trình kiến trúc nói trên, trụ sở Toà Án Hà Nội và Phủ Thống Sứ cũ, với những mái đen sì bằng đá (nay là Nhà Khách Hà Nội - 1998) và những cửa sổ ba góc trên mái (lucarnes), đã không thích ứng được với khí hậu nhiệt đới tại đây, nhưng cũng được xem là công trình kiến trúc trang nghiêm, mới lạ ở đầu thế kỷ XX.
Những thức của loại kiến trúc mới lạ nầy dần dần xuất hiện tại nhiều nơi ở Việt Nam, với dáng khoẻ mạnh và trang nhã của kiểu kiến trúc "Dorique" Hy Lạp và La Mã. Ở mặt trước là Toà Án Hà Nội và Viện Radium tại đây. Ở nhà Hát Lớn Hà Nội, nhiều mô-típ trang trí như các loại hoa dây và những hình đắp màu mè khác đã trình bày theo "kiểu Ionique và Composite".
Khi nói về cách cấu trúc của Toà Đốc Lý Sài Gòn thời Pháp thuộc xây trong khoảng 1898-1899, nhà kiến trúc danh tiếng nước Pháp là Jean De Lamarre đã viết như sau:
"Mô hình kiến trúc Hà Nội làm theo kiểu những mẫu họa theo những điển tích tượng trưng, những mặt nạ và những vòng hoa. Tất cả những loại hình hoa lá thạch cao đã diễn đạt kiến trúc căn bản đầu thế kỷ XX trên đất Nam Kỳ, vừa mang tính chất như một phép lạ, lại mang tính phóng túng. Bên trong của toànhà nầy được trang trí phủ kín trong từng mô-típ khác nhau, tùy theo các phòng. Những mô hình trang trí kiểu mới, về những tràng hoa theo kiểu Louis XV cho đến cách bố cục trang hoàng kỷ hà học theo kiểu tân kỳ của thời đại mới..."
Những kiến trúc trong giai đoạn nầy đã khuôn rập điệu thức của Pháp với những con-xơn nhẹ, nhỏ, để giảm bớt những hình tượng nặng nề trong tổng thể. Chẳng hạn như kiểu kiến trúc của chợ Đồng Xuân được lợp kín một diện tích lớn, đã thể hiện những cố gắng thích hợp với khí hậu, là nhờ những loại tường được thông hơi (claustras) rất lớn ở các đầu hồi.
Trong giai đoạn nầy, nhiều công trình xây dựng đã được kết cấu bằng sắt như mí cửa, vi kèo, dầm sàn, cho đến cái cầu dài nhất của Việt Nam trong thời gian đó là cầu Long Biên qua sông Hồng: những công trình kiến trúc nầy đã thể hiện được mức độ khéo léo của bàn tay người thợ Việt Nam.
Dù không đắp những phù điêu rồng phượng như trước kia nữa, tuy nhiên đã sử dụng khéo léo trong việc kẻ những gờ chỉ tế nhị của kiểu kiến trúc mới hay cách tô điểm những đầu cột (chapiteau) rất phức tạp của những kiến trúc loại mới.
Những công trình nầy đã thể hiện tinh thần tiếp thu những cái mới trong nền kỹ thuật kiến trúc bằng sắt đang phát triển tại Tây Phương vào đầu thế kỷ XX. Cầu Long Biên là ví dụ sinh động nhất theo mẫu kiến trúc loại nầy. Cũng trong thời điểm đó, đã xây cầu Tràng Tiền qua sông Hương (khoảng năm 1899) cầu Bình Lợi qua sông Bến Nghé năm 1902 và nhiều cầu khác nữa. Dù hồi đó không còn là thủ đô, nhưng vị trí, tổ chức và cơ cấu thì Hà Nội vào thời kỳ Pháp vẫn là nơi quần cư quan trọng của đất Bắc.

Những danh thắng Hà Nội

Chùa Trấn Quốc

Một trong những ngôi chùa được xây dựng tại trung tâm Đại La ngày trước là chùa Trấn Quốc. Chùa được xây bên cạnh hồ Tây. Chùa nầy nguyên trước là chùa Khai Quốc, dưới triều vua Lý Nam Đế (544-548) ở ngoài bãi sông Hồng, nằm về phía Bắc phường Yên Hoa, tức là Yên Phụ, gần cầu Long Biên hiện nay. Năm 580, thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi từ Ấn Độ đến trung tâm Luy Lâu cũng đã dừng chân tại ngôi chùa nầy trong một thời gian.
Đời nhà Lý nhiều vị cao tăng, thạc đức trong nước được nhà vua mời đến để thuyết giảng tại đây, nên dân chúng khắp nơi thường đến chiêm bái. Dưới triều vua Lý Nhân Tông, thái hậu ý Lan thường đến lễ Phật tại chùa Trấn Quốc, và tổ chức cúng dường chư tăng trong vùng nầy. Bà cũng thường đến học hỏi Phật pháp với những cao tăng tại chùa nầy.
Vào đời vua Lê Thái Tông (1434-1442) chùa được tu sửa lại thêm nhiều và cũng đã được đổi tên là chùa An Quốc, dùng trong việc cầu khẩn vào những ngày đầu mỗi năm cho quốc thái, dân an. Nhưng thời gian sau đó thì nhiều trận lụt xẩy ra cho nên bến bãi của vùng nầy bị xoi mòn khá nhiều, có ảnh hưởng đến nền tảng của ngôi chùa nầy.
Vì vậy vào đời vua Lê Kính Tông, dân chúng làng Yên Phụ đã góp công sức để dời ngôi chùa vào gò đất Kim Ngư. Từ đó, ngôi chùa được tái thiết vững chắc hơn. Mãi cho đến đời vua Lê Hy Tông (1676-1705) thì chùa nầy mới được đổi tên là chùa Trấn Quốc cho đến ngày nay.
Nhà vua đã ban sắc tứ Quốc Tự cho chùa. Hằng năm vua nhà Lê thường đến lễ bái, cầu khẩn sau dịp Nguyên Đán. Hiện nay, bức hoành phi treo trong chùa có ba chữ Trấn Quốc Tự được kiến tạo từ thời đó. Chùa được xây dựng bên cạnh hồ Tây cho nên dưới thời vua Lê chúa Trịnh, chùa cũng được dùng làm nơi nghỉ ngơi cho nhà vua mỗi khi đến vãn cảnh hồ Tây.
Vào năm 1842, vua Thiệu Trị ra Bắc có đến vãn cảnh chùa và đổi tên chùa là Trấn Bắc Tự, nhưng dân chúng vẫn quen gọi tên cũ là chùa Trấn Quốc như hiện nay. Chùa Trấn Quốc không những là một ngôi quốc tự thường được nhiều vua chúa đến lễ bái, cúng dường mà còn là nơi kết tụ nhiều vị danh tăng từ nhiều phương đến đây.
Dưới thời Lý Trần, nhiều danh tăng thường đến trụ trì hay thuyết giảng tại ngôi chùa lịch sử nầy như: ngài Vân Phong, ngài Khuông Việt, ngài Thảo Đường, ngài Thông Biện, ngài Tịnh Không.
Ngoài ra chùa Trấn Quốc cũng liên hệ nhiều đến Thiền phái Thảo Đường. Sử chép: Vào năm 1069, vua Lý Thánh Tông đem quân sang đánh nước Chiêm Thành đến tận kinh thành Đồ Bàn, bắt được vua nước nầy là Chế Củ, nhiều hoàng thân quốc thích và nhiều tù binh. Trong số những tù binh nầy có một vị tu hành rất tinh thông Phật Pháp. Khi hỏi ra thì mới biết đó là danh sư Thảo Đường mà dân chúng Chiêm Thành rất trọng vọng. Vua nhà Lý đã phong cho thiền sư Thảo Đường làmQuốc sư và cũng đã cung thỉnh ngài trụ trì tại ngôi chùa Trấn Quốc. Thiền sư cũng đã lập ra thiền phái Thảo Đường.
Vào đời Hậu Lê, chùa Trấn Quốc cũng đã trở thành ngôi tổ đình của thiền phái Tào Động. Chùa Trấn Quốc trải qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử cũng như thời gian bị hư hại nhiều cũng như được trùng tu nhiều lần. Khi được dời vào vùng bãi Kim Ngư (Cá Vàng), chùa Trấn Quốc cũng đã được kiến thiết và trùng tu nhiều lần.
Chẳng hạn như năm 1624, dưới triều nhà Hậu Lê, vua Lê Thần Tông đã được xây dựng toà Tam bảo, toà Thiên hương và ngôi Tiền đường. Nhà Tổ cũng được dựng lên sau chánh điện. Thời gian sau đó, năm 1639 lại xây thêm cổng tam quan, nhà hậu đường và la thành hai bên khá kiên cố.
Hiện nay phía gian bên phải của nhà chánh bái còn có tấm bia ghi lại công trình tái thiết nầy do Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đề từ. Đời Tây Sơn, qua nhiều cuộc chiến, chùa Trấn Quốc cũng bị tàn phá khá nhiều.
Căn cứ theo nội dung của một tấm bia do vị tiến sĩ triều Gia Long là Phạm Quý Thích được dựng lên vào năm 1815 thì trong khoảng thời gian từ năm 1813 - 1815, chùa Trấn Quốc đã được trùng tu lại nhiều công trình đã bị hư hại: chánh điện, nhà thiêu hương, la thành, gác chuông, hậu đường. Công trình tu tạo lần nầy là do công đức của vị trụ trì tại chùa là thiền sư Khoan Nhân. Ngoài ra, ngài cũng cho đúc 5 pho tượng Phật và đại hồng chung.

Chùa Một Cột

Chùa Một Cột còn có tên là chùa Diên Hựu xây ngay ở trung tâm của kinh thành Thăng Long. Ngôi chùa đượcdựng lên trong giai đoạn đầu tiên bắt nguồn từ một giấc mơ. Tương truyền rằng: vào năm 1049, vua Lý Thánh Tông nằm chiêm bao thấy Phật Quan Âm hiện ra, cầm tay nhà vua dẫn lên toà sen. Khi tỉnh dậy nhà vua đã đem toàn câu chuyện kể cho triều thần nghe. Có người cho là điềm không lành.
Nhà sư Thiền Tuệ khuyên nên xây chùa ở trên cột đá giữa hồ làm toà sen thờ đức Quan Âm. Khi xây cất xong, nhà vua lại sai lập trai đàn chẩn tế để cầu cho nhà vua được sống lâu. Vì thế có tên là chùaDiên Hựu. Năm 1105 Lý Nhân Tông ban sắc chỉ cho sửa chữa lại toàn bộ ngôi chùa nầy, trước sân lại còn cho xây thêmmột bửu tháp theo mô hình kiến trúc Champa kiểu Pô Nagar. Ba năm sau đó, Ỷ Lan Phu Nhân cũng cho đúc một quả chuông rất to, tương truyền là nặng đến một vạn hai nghìn cân. Chuông nầy có tên là Giác Thế Chung, ngụ ý là tiếng chuông sẽ thức tỉnh người trên cõi đời. Chuông nầy được liệt vào một trong Tứ đại khí trong thời bấy giờ. Nhưng sau khi hoàn thành thì chuông gióng lên không kêu liền cho đem bỏ ngoài ruộng, có nhiều rùa. Chuông có tên là chuông Quy Điền.
Năm 1105 vua Lý Nhân Tông ngôi chùa nầy tu bổ đã cho xây 2 ngọn tháp chỏm trắng. Một số giả thuyết cho rằng chùa trước lớn hơn bây giờ, nhưng không có bằng chứng rõ ràng. Chùa xây trên trụ đá hình bát giác, mỗi cạnh có một khối gỗ chống từ cột lên xà ngang. Từ xà ngang hướng lên phía trên có 8 cột chống. Chùa cất theo bố cục hình vuông; các góc đều được trang trí khá tinh vi. Mái được lợp ngói uyên ương (âm dương) ở phần chánh điện và ngói ngang ở phần sau. Từ bờ hồ đi vào có xây một bậc thang dùng làm lối đi chính vào chùa.
Cho đến thế kỷ XV, quân Minh đem quân sang xâm lăng nước ta, chiếm được thành Đông Quan (tức là Hà Nội sau nầy). Lê Lợi đem quân từ Lam Sơn ra chống lại quân thù, bao vây thành lũy của chúng rất gấp. Vì thiếu vũ khí, cho nên tướng Minh là Vương Thông đã sai quân lính đem phá chuông nầy để lấy đồng đúc khí giới. Lê Lợi thắng giặc đem lại thịnh trị cho đất nước, nhưng chuông Quy Điền thì đã không còn lại nữa.
Chùa Một Cột được trùng tu nhiều lần, nhưng quan trọng nhất là cuộc đại trùng tu vào những năm 1840 cho đến 1850 và cuối cùng là năm 1920 sau nầy nữa. Đài Liên Hoa còn sót lại ngày nay cũng là do cuộc trùng tu theo mẫu cũ vào năm 1955. Đài nầy xây theo hình vuông, mỗi cạnh đo được 3 mét, có mái cong theo kiến trúc Trung Hoa, được dựng trên một cột cao 4 mét, đường kính vào khoảng 1,2 mét gồm có hai trụ đá ghép lại với nhau, thành một khối khá hoàn chỉnh.
Tầng trên của chùa là một khung gỗ khá kiên cố, đỡ ngôi đài. Mái chùa được lợp bằng ngói, bốn góc được gặp cong vút lên. Trên mái có tạc hình "Lưỡng long triều nguyệt" bằng những mảnh sành sứ ghép lại với nhau khá tỉ mỉ. Từ xa nhìn lại thì ngôi chùa nầy có dáng một toà sen đang vươn thẳng lên; chung quanh có hàng lan can bằng bằng những viên gạch được tráng màu xanh. Con đường đi qua hồ theo một lối đi nhỏ hơn, lót bằng gạch, rồi một cầu thang lên Phật Đài. Chùa Một Cột đã trở thành một biểu tượng của những ngôi cổ tự Việt Nam cũng như điển hình kiến trúc Thăng Long.

Chùa Quán Sứ

Chùa Quán Sứ được nổi tiếng trong những thập niên gần lại đây vì là Trung tâm Phật Giáo quan trọng của Hà Nội và cũng là trụ sở của những tổ chức Phật Giáo trong cả nước. Theo những tài liệu còn lưu lại cho đến ngày nay thì chùa Quán Sứ được xây dựng vào giữa thế kỷ thứ XV, nhưng một số chứng liệu khác thì chùa có thể xây dựng vào thế kỷ thứ XIV hay sớm hơn nữa.
Chùa Quán Sứ tọa lạc tại địa phận của thôn An Tập, thuộc phường Cổ Vũ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương; ngày nay là phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm của thành phố Hà Nội.
Theo cụ Nguyễn Văn Tố (trong Tri Tân Tạp Chí) thì nguyên trước đây chưa phải là chùa mà chỉ là mấy gian nhà tranh vách đất, nằm về phía Nam của địa phương nầy để tế Thần, tế Kỳ Yên trong những ngày đầu năm cho nên được đặt tên là An Tập.
Hoàng Lê Nhất Thống Chí đã ghi lại rằng: Ngày trước vào đời vua Lê Thế Tông, những nước Chiêm Thành và Ai Lao thường sang triều cống nước ta hằng năm. Những nước nầy đều theo đạo Phật. Nhà vua cho xây một căn nhà tạm trú cho những sứ thần khi mới đặt chân đến, cho nên được gọi tên là Quán Sứ.
Những sứ thần của Chiêm Thành và Ai Lao lại sùng bái đạo Phật, cho nên vua Lê cho xây thêm một ngôi chùa nhỏ nằm trong khu vực Quán Sứ, để họ hành lễ trong thời gian lưu trú tại đây. Ngôi nhà Quán Sứ sau không dùng nữa cho nên đã bị suy thoái theo dòng thời gian, nhưng ngôi chùa Quán Sứ thì được dân chúng đến lễ bái, nên vẫn còn được tồn tại và trùng tu thêm.
Cho đến những năm đầu thế kỷ XX, khi phong trào chấn hưng Phật Giáo được phát động thì Tổng Hội Phật Giáo Bắc Kỳ đã chọn chùa Quán Sứ làm trụ sở trung ương (3/1934) và cũng được sửa sang thêm nhiều. Cho đến năm 1942, ngôi chùa nầy đã được Hội Đồng Quản Trị ra công xây dựng lại toàn bộ. Bản thiết kế xây cất nầy do hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng phác họa ra. Hội Đồng đã trình lên tổ Vĩnh Nghiêm duyệt xét trước khi xây cất.
Theo nhận định chung thì kỹ thuật kiến trúc và điêu khắc của chùa Quán Sứ đã kết hợp những nét tiêu biểu nhất của những ngôi chùa nổi tiếng miền Bắc đúc kết lại. Về sau thì chùa nầy là trụ sở chính của Tổng Hội Phật Giáo Bắc Việt và nay là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Trước hết là nhìn vào kiến trúc của cửa tam quan; cửa có ba tầng mái cân đối, ở chính giữa cửa là tháp đại hồng chung lưu lại từ đời trước. Sau đó, qua một sân nhỏ có trồng nhiều hoa quý, bước lên 11 bậc thềm thì tới chánh điện của chùa.
Lối trang trí của điện Phật được phối hợp theo kỹ thuật mới, cách bài trí thanh thoát, trang nghiêm và những pho tượng đều sơn son, thiếp vàng. Phía giữa và bên trong thờ Tam Thế Phật ở ngôi vị trang trọng và trên bậc cao nhất. Bậc kế tiếp là tượng đức A Di Đà ở chính giữa; hai bên có tượng đức Quan Thế Âm Bồ tát và Đại Thế Chí Bồ tát. Phía dưới có thờ đức Bổn sư Thích Ca, ngài A Nan Đà và ngài Ma Ha Ca Diếp là hai đại đệ tử của đức Phật. Sau cùng, ở bậc thấp nhất của điện nầy, có tòa Cửu Long, hai bên có tượng Đức Quan Thế Âm Bồ tát và Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Một bàn thờ bên phải thờ ngài Minh Không (tức là LýQuốc sư) vị khai sáng chùa nầy. Những gian phòng khác được tổ chức khá quy mô, có giảng đường, có thư viện dùng trong việc hội họp và nghiên cứu. Hiện nay, Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học được đặt tại chùa nầy. Ngoài ra đây cũng là trụ sở của Tổ chức Phật Giáo Á Châu Phụng Sự Hoà bình chi bộ Việt Nam.

Chùa Kim Liên

Chùa Kim Liên nằm trong địa phận của làng Nghi Tàm, xã Quảng An thuộc thành phố Hà Nội, nằm cạnh Hồ Tây, xoay lưng ra sông Nhị Hà. Chùa cũng còn có tên là chùa Nghi Tàm. Chùa nầy được xây trên nền cũ của ngôi chùa Đống Long, có từ đời Trần; đây cũng là nền của chùa Từ Hoa.
Chùa Kim Liên được xây vào năm Dương Hoá thứ năm (1639) và đến năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771) thì được trùng tu lại. Một số tài liệu khác cho rằng: Chùa Kim Liên được xây lên từ đời nhà Lý. Thoạt đầu, ngôi chùa nầy có tên là cung Từ Hoa, hay chùa Từ Hoa, vì nơi đây công chúa Từ Hoa đã ra trú ngụ để trồng dâu chăn tằm. Công chúa đã mở ra trại Tàm Tang, về sau được đổi thành trại Tích ma, rồi lại đổi thành Nghi Tàm.
Đây cũng là tên làng như hiện có. Cảnh quan vùng nầy rất đẹp. Trong tài liệu Thăng Long - Đông Đô của Hoàng Đạo Thúy có viết về chùa Kim Liên như sau: Đứng trên đê Nghi Tàm, vầng dương đã gác ngang vai núi Tản, ngắm lên các mũi dao của chùa Kim Liên thêu nổi lên nền trời và nước, một màu vàng như mới toả, trong khi gió núi đưa lại mùi hương sen ngào ngạt mà thanh thanh. Những mô thức kiến trúc ngôi chùa nầy có nhiều đường nét của nghệ thuật VN vào thế kỷ thứ XVIII; nhiều phần trông giống như kiểu chùa Tây Phương trên núi Câu Lậu.
Nhiều nhà nghiên cứu kiến trúc Việt Nam đã liệt hai ngôi chùa nầy cùng chung nhau một mô thức. Quang cảnh chùa rất thanh nhã. Khi mới đi vào địa phận của chùa, cổng tam quan chỉ có một hàng cột, trên có bệ con, đưa ra hai phía như đỡ lấy mái ngói. Tuy nhiên, nhìn tổng thể của phần cấu trúc nầy trông thật thanh thoát hẳn, ngay trong lối vào của chùa. Tấm bản sơn son, được dựng lên cách đây hơn hai trăm năm, với những chữ Kim Liên Tự. Cửa ở hai bên cũng có hai tấm biển khác; một bên có chữ Từ Bi Địa còn bên kia là Thanh Hư Cung. Những danh từ nầy được trích trong Tứ Thập Nhị Chương Kinh.
Qua bao nhiêu năm tháng, cổng chùa nầy đã hư hại nhiều và cũng được trùng tu lại vào năm 1986, vẫn theo đúng khuôn mẫu của cổng cũ. Qua khỏi cửa tam quan, đi vào một sân rộng, lát gạch, chung quanh có trồng nhiều chậu cây kiểng, nhất là phong lan.
Ngôi chùa nầy gồm có ba lớp được kiến trúc theo hình chữ Tam. Đó là chùa hạ, chùa trung, chùa thượng. Những dãy chùa nầy đã được sắp xếp song song với nhau. Một tấm bia lớn được dựng lên phía bên tả, ngay trong tiền đường của chùa; người biên soạn là quan Thái Úy An Huy Bùi Huy Cận và gọi tên chùa nầy là chùa Đại Bi. Những cột xà của chùa khá kiên cố, những nét điêu khắc rất tinh vi, dù đã lâu ngày nhưng vẫn còn đường nét sắc sảo.
Tường chùa trước đây được xây bằng loại gạch Khuất Âm, đường vòng cổ khá dày. Chùa trải qua nhiều giai đoạn trùng tu; trong lần trùng tunăm 1792 thì mang nhiều dấu tích của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc của triều đại Tây Sơn.
Trong chánh điện hiện nay còn bảo lưu những pho tượng Phật (Tam thế Phật) và chư Bồ tát. Một pho tượng của Uy Nam Vương Trịnh Giang, mặc sắc phục một vị võ tướng, dáng điệu uy nghi. Đây là một trong những nhân vật có công nhất trong nhiều đợt trùng tu chùa.
Hiện nay, trong chùa Kim Liên còn lưu giữ nhiều hoành phi và nhiều câu đối mang nhiều ý nghĩa. Một trong số những câu đối nầy ghi như sau: "Tâm tức Phật, Phật tức tâm, hoành nhi sung chi dữ thiên địa đồng kỳ đại. Sắc thị không, không thị sắc, quả nhi truyền di quán nguyên hội dĩ vô cùng".
Nghĩa là:
"Tâm tức Phật, Phật tức tâm, mở ra hết tâm rộng, ngang cùng vũ trụ, Sắc tức thị không, không tức thị sắc, lan truyền khắp, dài cùng thế gian".

Thành Cổ Loa

Đây là toà thành cổ vào bậc nhất Việt Nam được vua Thục An Dương Vương xây từ thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên để làm kinh đô nước Âu Lạc (tên của Việt Nam thời đó).
Thành được xây kiểu vòng ốc (nên gọi là Loa thành) gồm 3 vòng: thành ngoài, thành giữa và thành trong. Dưới thành ngoài là hào sâu ngập nước, thuyền bề đi lại được.
Từ trung tâm thành phố, đi 18km đến xã Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, sẽ tìm thấy được dấu vết còn lại của 3 vòng thành xưa bằng đất và nơi các nhà khảo cổ học tìm được hàng vạn mũi tên đồng, lưỡi cày, rìu sắc, xương thú vật.
Trong khu vực thành có đình làng Cổ Loa, am thờ công chúa Mỵ Châu và đền An Dương Vương - ông vua rất mực thương yêu con gái của mình nhưng vì mất cảnh giác, ông đã để thành Cổ Loa trở thành sân khấu của tấn bi kịch nước mất nhà tan.

Đền Quan Thánh

Ba chữ Hán tạc trên nóc cổng là Trấn Vũ Quán nghĩa là quán thờ ông Thánh Trấn Vũ. Thánh Trấn Vũ là một hình tượng kết hợp giữa một nhân vật thần thoại Việt Nam (ông Thánh giúp An Dương Vương trừ ma quấy rối khi xây thành Cổ Loa) và nhân vật thần thoại Trung Quốc (một ông thánh coi giữ phương bắc).
Đền Quán Thánh được xây dựng vào đời vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028). Năm 1893, đền được tu sửa lớn như diện mạo ngày nay. Đặc biệt có pho tượng Thánh Trấn Vũ bằng đồng đen đắp năm 1677. Tượng nặng 3,600kg, chu vi 3,48m. Đền còn có một bức tượng đồng đen cỡ nhỏ, tương truyền đó là tượng ông trùm Trọng, người thợ cả đúc đồng tài hoa đã chỉ huy hiệp thợ đúc tượng Trấn Vũ và quả chuông trên gác tam quan.
Để ghi công ơn thầy, những học trò của ông đã đúc tượng ông và xin được thờ trong đền.

Đền Hai Bà Trưng

Đền còn có tên gọi là Đồng Nhân, vì đền được dựng vào khu đất thuộc làng Đồng Nhân nay là quận Hai Bà Trưng. Đền được lập từnăm 1142 đời vua Lý Anh Tôn để thờ hai vị nữ anh hùng Trưng Trắc và Trưng Nhị. Trong hậu cung đền có tượng Hai Bà Trưng bằng đất luyện, hai bên tả hữu là tượng 12 nữ tướng đã cầm quân theo Hai Bà đánh giặc. Hàng năm cứ đến ngày mồng 5 và mồng 6 tháng 2 âmlịch, dân chúng nô nức kéo về Đồng Nhân dự lễ tưởng niệm Hai Bà.

Chuà Liên Phái

Ngôi chùa ở trong ngõ Liên Phái, phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Chùa lập vào năm 1726. Lúc mới xây dựng chùa có tên là Liên Hoa, sau đổi tên là Liên Tông và đến năm 1840 đổi tên là Liên Phái. Trước cổng chùa có ngôi tháp Diệu Quang, hình lục lăng, cao 10 tầng, có lối kiến trúc thanh nhã, cổ kính (1768). Trong tháp có hoà cốt đã hoả táng của vị sư tổ Diệu Quang cùng với 5 vị trụ trì khác liên tiếp nhau điều hành ngôi chùa nầy. Nhà bia có 34 tấm bia ghi sự tích của chùa và những lần trùng tu qua những giai đoạn khác nhau. Qua sân rộng đến nhà bái đường và nhà tam bảo thờ Phật.
Khu vườn tháp sau chùa có 9 ngôi tháp xây thẳng theo ba hàng, tương truyền đây là nơi táng hài cốt vị sư tổ thứ nhất Lâm Giác Thượng Sĩ. Ngôi tháp Cửu Sinh đã có trên 250 năm. Đây là ngôi tháp cổ nhất trong nội thành Hà Nội. Ngoài ra chùa còn có một ngọn tháp cao chín tầng kiến trúc đẹp được xây dựng vào năm 1890.

Chùa Láng

Ngôi chùa nầy được khởi dựng vào đời vua Lý Anh Tông (1138 -1175) tại làng Yên Lãng, huyện Từ Liêm, thuộc phường Láng, quận Đống Đa, Hà Nội. Chùa được xây theo kiểu "nội công, ngoại quốc", tam quan 3 gian, lầu bát giác 4 gian.
Các ngôi nhà chính đều gồm 9 gian, vì vậy ngôi chùa trông rất bề thế. Trong chùa còn lại nhiều di vật cổ của những thiền sư trụ trì ngày trước bảo lưu. Ở hậu cung, ngoài các pho tượng Phật, còn có pho tượng vua Lý Thần Tông bằng gỗ, tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh đan bằng mây, bên ngoài quét sơn.
Hai dãy hành lang thờ Thập bát La Hán trong tư thế thiền định, có nhiều nét sinh động. Chùa Láng đã qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu lớn nhất vào năm 1656. Chùa Láng là một ngôi chùa có lối kiến trúc đẹp, bố cục của chùa tạo nên một không gian hài hoà, sâu thẳm, tĩnh mịch, cổ kính uy nghi.

Đền Ngọc Sơn

Ngôi đền nầy được xây dựng từ thế kỷ XIX, trên hòn đảo Ngọc của hồ Hoàn Kiếm. Lúc đầu gọi là chùa Ngọc Sơn, sau đổi gọi là đền Ngọc Sơn, vì trong đền chỉ có thờ thần Văn Xương là ngôi sao chủ việc văn chương, khoa cử và thờ đức Trần Hưng Đạo, vị anh hùng có công phá tan quân Nguyên xâm lăng vào thế kỷ XIII.
Ngôi đền còn tồn tại đến ngày nay do công lao trùng tu của Nguyễn Văn Siêu một nhà văn hóa lớn của Hà Nội. Ông đã cho xây tháp Bút, trên tháp có tạc 3 chữ "Tả Thanh Thiên" (viết trên trời xanh), nói lên ý chí của con người chân chính.

Đền Phù Đổng

Còn gọi là đền Gióng, ở xã Phù Đổng, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Đền thờ Phù Đổng Thiên Vương Xung Thần.
Sử chép: Vào đời Hùng Vương thứ VI, ở hương Phù Đổng bộ Vũ Ninh, có nhà sinh đứa con lên 3 tuổi vẫn chưa biết nói cười. Gặp lúc có giặc Ân sang xâm lược, vua sai người đi tìm người tài giỏi ra dẹp giặc. Lúc ấy đứa trẻ bỗng cất tiếng nói, bảo mẹ ra gọi sứ giả vào xin tâu vua làm một con ngựa sắt và một cây gậy sắt để đi đánh giặc. Ngựa sắt, gậy sắt đúc xong, cậu bé vươn mình vụt biến thành cao lớn, nhảy lên ngựa, cầm gậy đánh giặc Ân, đuổi chúng lên núi Ninh Sóc, rồi cưỡi ngựa bay về trời.
Vua Hùng cảm tạ công đức phong thần làm Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ. Đền tọa lạc ở mé đông nam làng Phù Đổng, nhìn ra sông Thiên Đức (sông Đuống), phía tây đền có bàn đá, giếng đá, tương truyền là nơi thánh Gióng ra đời. Ngôi đền hiện nay gồm bái đường, hậu cung, nhà thủy đỉnh để múa rối nước trên nước ao trước cửa đền, dựng vào thế kỷ XIX.
Tượng Thánh Gióng khá lớn ngồi ở giữa, hay dãy là tượng các quan hầu. Quý nhất ở đền là đôi rồng đá cách điệu ở bậc thềm, đôi sư tử đá tạc vào thế kỷ XIX. Hàng năm cứ đến này 4 tháng 9 âm lịch tại đền Phù Đổng có tổ chức hội Gióng, diễn lại tích thánh Gióng đánh giặc Ân.

Đền Voi phục

Đền được lập từ đời Lý Thái Tông (1028 - 1054) ở góc phía tây nam kinh thành Thăng Long cũ, thuộc địa phận làng Thủ Lệ, nay là công viên Thủ Lệ. Đền thờ Linh Lang đại vương. Tương truyền bấy giờ hoàng phi họ Nguyễn đang tắm ở Dâm Đàm (Hồ Tây) bỗng có con rồng thần hiện ra phun nước thơm vào mình, về nhà bà mang thai, 14 tháng mới sinh ra Linh Lang.
Vua Lý Thánh Tông cho bà đưa hoàng tử về nuôi dưỡng ở nơi ở chỗ cũ của bà trong trại Thủ Lệ. Linh Lang lớn lên tướng mạo khôi ngô, trên người có nhiều tướng quý.
Bấy giờ nhà Tống sai Triệu Tiết chỉ huy sang cướp phá vùng biên giới nước ta, kinh thành trở nên náo động. Vua sai sứ đi chiêu mộ người có tài đi đánh giặc. Sứ giả tới trại Thủ Lệ, Linh Lang sai mời sứ giả vào nhà, bảo sứ giả trở về xin vua ban cho một lá cờ đỏ, một thớt voi để đi đánh giặc. Vua y theo, cho sắm sửa các thứ mang tới; Linh Lang hô to một tiếng, con voi lập tức nằm phục xuống. Linh Lang cầm cờ nhảy lên lưng phóng ra trận, vừa phất cờ vừa đánh, giặc thua chạy tan tác.
Sau khi thắng giặc, Linh Lang trở về nơi cũ, ít lâu sau lâm bệnh nặng. Vua tới thăm hỏi, Linh Lang tâu rằng: mình không phải là người trần, nay đã đến hạn kỳ, phải ra đi. Nói rồi hoá thành con giao long trắng dài trăm trượng, trườn xuống Dâm Đàm biến mất. Sau đó trời mưa lớn liền trong mấy ngày. Khi trời vừa tạnh, từ trên trời bay xuống nhiều cờ đỏ, cắm xuống trước cửa Ngọ môn. Vua bèn phong tước cho thần là Linh Lang đại vương, sửa lại nơi ở cũ của Đại vương làm đền thờ.

Khu phố cổ

Khu nầy còn gọi là khu "36 phố phường". Đặc điểm chung của khu phố nầy là phân chia ra từng con đường chuyên bán một mặt hàng: hàng Trống, hàng Đào, hàng Đường, hàng Mã, hàng Thiếc... Du khách mới đến Hà Nội thường chú ý đến vùng phố cổ nầy để thấy rõ nét khác biệt của Hà Nội với những thành phố khác ở các nước.
Từ phía bắc hồ Hoàn Kiếm, du khách đi bộ qua các phố hàng Đào, hàng Ngang, hàng Đường là đến khu chợ Đồng Xuân. Phố hàng Đào hình thành từ thế kỷ XV, dân ở đây chuyên nghề nhuộm vải. Thời đó họ thường xuyên nhuộm vải màu đỏ, màu hồng đào, nên gọi tên là hàng Đào. Từ đời Lê (thế kỷ XV) nhiều người Hoa được phép cư trú tại kinh thành Thăng Long, họ rủ nhau đến buôn bán tại phố hàng Ngang.
Xưa kia hai đầu phố có dựng hai cái cổng chắn ngang đường, tối đến đóng lại. Do đó có tên là hàng Ngang. Như tên gọi hàng Đường là nơi tập trung bán đường, bánh, kẹo. Sát với chợ Đồng Xuân là phố hàng Mã. Mặt hàng truyền thống nầy làm từ các loại giấy màu; phố nầy dường như không mấy thay đổi từ khi thàng lập cho đến nay. Khác chăng là có nhiều mặt hàng mới sáng tạo.
Từ đầu hàng Mã đi thẳng sang phố hàng Chiếu (bán loại chiếu bằng cói) là đền ô Quan Chưởng (cửa Đông Hà) di tích khá nguyên vẹn của Hà Nội 36 phố phường. Một nghề khá điển hình là phố hàng Thiếc. Đến đây, sẽ nghe vang dội những tiếng búa gõ vào những mảng tôn, mảnh thiếc. Những mặt hàng ở đây thường là chân đèn thùng, chậu, bể nước, gáo múc nước. Hàng Trống chuyên bán loại tranh dân gian Đông Hồ.

Hồ Hoàn Kiếm

Hồ Hoàn Kiếm nằm ở vị trí trung tâm thành phố, nên thường được ví như một lẵng hoa giữa lòng thành phố Hà Nội. Hồ nầy gắn liền với truyền thuyết trả gươm: vua Lê Thái Tổ có một thanh gươm quý luôn ở bên mình ông suốt 10 năm kháng chiến chống quân Minh (thế kỷ XV).
Sau chiến thắng, một lần vua Lê du thuyền trên hồ bỗng có con rùa nổi lên, vua lấy gươm báu trỏ cho quân sĩ biết thì ruà đớp ngay thanh gươm rồi lặn xuống nước. Nghĩ rằng trước đây thần đã giúp mang gươm cho mình đánh thắng giặc, nay đất nước đã thanh bình nên thần lấy lại gươm, nên vua đặt tên cho hồ là Hoàn Kiếm (trả lại thanh gươm).

Hồ Tây - Đường Cổ Ngư

Đây là một quần thể cảnh đẹp ở phía tây của thành phố Hà Nội. Có thể ví đường Cổ Ngư là một cái cầu bắc ngang hai hồ nước, một bên là Hồ Tây, một bên là hồ Trúc Bạch. Đoạn đường nầy dài 992m, đường đôi, giải phân cách là một hàng cây xanh, hai bên đường là những hàng cây phượng, cây liễu, cây bằng lăng.
Nếu đứng ở đầu đường nơi có đến Quán Thánh thì Hồ Tây ở bên tay phải. Hồ rộng vào khoảng 500ha, lớn nhất trong các hồ của Hà Nội. Con đường vòng quanh hồ dài 17km, qua các làng hoa Nghi Tàm, Tây Hồ, vườn đào thôn Nhật Tân và các đình chùa đẹp nổi tiếng như phủ Tây Hồ, chùa Kim Liên... Từ xa xưa, các triều đại vua chúa phong kiến đã xây dựng cung điện chung quanh hồ làm nơi nghỉ ngơi.Theo sự khảo sát của các nhà địa lý học thì hồ Tây cũng như hồ Hoàn Kiếm đều là dòng cũ của sông Hồng. trong dân gian có 2 thần thoại về Hồ Tây.
Một thuyết nói: Xưa kia, trong một quả núi đá gần đó có một con hồ tinh 9 đuôi gây hại dân chúng. Long Vương cùng đội quân thủy tộc theo dòng sông tràn vào, đánh tan quả núi, giết hồ tinh. Chỗ nầy thụt xuống thành hồ.
Một thuyết khác nói: Vị cao tăng nhà Lý là Nguyễn Minh Không sang Trung Quốc chữa bệnh cho con vua Tống. Khi thái tử khỏi bệnh, vua Tống cho phép Minh Không vào kho muốn lấy gì thì lấy. Minh Không hoá phép thu tất cả đồng trong kho bỏ gọn trong bị, xách ra bờ biển thả nón xuống làm thuyền chở về nước. Vua Lý sai đúc chuông đồng. Khi hoàn tất, gióng chuông đánh lên vang lên. Có con trâu vàng từ Trung Quốc nghe tiếng chuông chạy sang Thăng Long. Khi đến Bắc Kinh thành, tiếng chuông im bặt. Trâu vàng lồng lộng đi tìm, dẫm nát cả khu rừng, đất thụt, biến thành hồ nầy. Nhà vua sai ném quá chuông xuống hồ, để trâu vàng nằm im.Đời Lý, hồ nầy có tên là hồ Dâm Đàm, vì mặt hồ quanh năm đều cósa mù bao phủ. Nhà Trần có lập hành cung phía nam của hồ, gọi là Dâm Đàm hành cung. Vì trùng tên húy của Lê Thái Tổ là Duy Đàm, nên đổi là Hồ Tây. Đời Hậu Lê, vì kiêng tước "Tây vương" của chúa Trịnh Tạc, nên đổi tên là Duy Đàm, nhưng hết đời chúa nầy, vẫn gọi tên cũ là Hồ Tây.

Chợ Đồng Xuân

Trong số hàng chục ngôi chợ tại Hà Nội như chợ Mơ, chợ Hôm, chợ Cửa Nam, chợ Ngọc Hà... thì chợ Đồng Xuân là lớn nhất. Theo những tài liệu lưu lại thì ngôi chợ nầy ra đời từ năm 1889 trên địa phận của làng Đồng Xuân. Ban đầu chợ họp ngoài trời; sau được xây thành chợ với 5 cầu khung sắt, lợp tôn, tráng kẽm, dài 52m, cao 19m. Nằm gần ga đầu cầu Long Biên bên sông Hồng, chợ Đồng Xuân là một địa điểm thuận lợi để hàng hoá bốn phương dồn về đây, cũng như từ đấy tỏ đi các nơi. Ở chợ Đồng Xuân dường như có đủ tất cả các mặt hàng, ngành hàng phục vụ sinh hoạt và đời sống. Chợ Đồng Xuân cũng là ngôi chợ buôn bán lớn nhất trên đất Bắc. Ngày nay chợ Đồng Xuân được xây dựng lại với quy mô lớn hơn, gồm ba tầng, khang trang, rộng rãi, nhưng vẫn giữ phần kiến trúc mặt tiền như trước kia.

Chùa Ngọc Hồ

Chùa nầy còn có tên là chùa bà Ngô, ở thôn Tả Giáp, huyện Thọ Xương, phố Nguyễn Khuyến, Hà Nội. Hiện nay chùa làm theo chiếu chỉ năm Kiến Gia thứ VIII (1218) đời vua Lý Huệ Tông, dựng trên một gò đất hình dáng như bầu rượu cho nên gọi là Ngọc Hồ. Đến đời Trần chùa đổi tên là Thiên Phúc. Đời Lê có truyền thuyết kể rằng: Vua Lê Thánh Tông đến thăm chùa nầy, khi trở về thấy một cô gái nấp sau lùm cây mẫu đơn. Vua cho xa giá lại gần, thấy cô gái diện mạo diễm kiều, bèn mời cùng ngự giá về triều.
Đến cửa Đại Hưng (cửa Nam) cô gái tâu: "Thiếp nguyên là tiên nữ, bị trời phạt tội, may có duyên gặp bệ hạ ở đây. Nay xin tạm chia tay, sau nầy có ngày gặp lại". Nói xong cưỡi xe loan bay đi. Vua nhớ nhung không nguôi, sai dựng lên lầu Vọng Tiên ở trên cửa Đại Hưng. Tương truyền vào đời Mạc, có một Hoa kiều lấy vợ trong thôn nầy; về sau bà nầy xuất gia, tu sửa lại chùa, vì thế có tên là chùa bà Ngô.
Trong nội điện của chùa hiện nay chia làm 3 phần: phần giữa thờ Phật; bên tả là nhà hậu, thờ những người có công đức trong các giai đoạn trùng tu chùa; bên hữu thờ Liễu Hạnh Thánh Mẫu.
Cửa ngoài có hai câu đối: "Chẳng thiêng cũng bụt chùa nhà, gái Thanh Hoá nữ thần là một," Đẹp nhất là tiên hạ giới, cõi Nam thiên bất tử hoà tư". Trên đây là những nét tiêu biểu văn hoá, kiến trúc và lịch sử của Hà Thành. Qua bao thay triều, đổi họ, những khu di tích đó vẫn là dấu ấn sâu sắc khi hiểu về Hà Nội - Thăng Long.

Phần phụ: Đền Hùng

Khu di tích đền Hùng Vương hiện nay gồm có 4 ngôi đền, một ngôichùa và một lăng Tổ; tất cả đều được xây dụng trên ngọn núi Hùng.
Đền Hạ và chùa: Đền Hạ kiến tạo vào khoảng thế kỷ thứ XVII - XVIII, được làm hai lớp theo kiểu chữ "nhị" như thường thấy trong những ngôi đền cổ ở miền Bắc. Theo những truyền thuyết thì nơi đây, sau khi kết hôn, Lạc Long Quân đã đưa Âu Cơ từ động Lăng Xương về đếb núi Nghĩa Lĩnh. Âu Cơ trở dạ, sinh ra một bọc trăm trứng, sau nở thành một trăm người con trai.
Cộng đồng người Việt được hình thành hai tiếng "đồng bào" (cùng chung bọc) vì thế mà có.- gác chuông và chùa Thiên Quang Thiền Tự (nơi có ánh sáng của mặt trời rọi xuống): Kiến tạo vào thời nhà Lê (từ 1427 - 1573);kién trúc chính là cột gỗ có đá kê là lợp ngói. Ngày nay, ngôi chùa nầy chỉ còn để lại phần tiền tế mà thôi,
Đền Trung (Hùng Vương Tổ Miếu) : Đền trung xuất hiện sốm nhất trên ngọn núi Hùng. Kiến trúc ban đầu vào thời nhà Trần (thế kỷ XIII) nhưng đến thế kỷ XV thì bị giặc tàn phá. Cách đây 300 năm, đền Trung lại được xay dựng lại, kiểu chữ "nhất", tồn tại đến bây giờ. Tương truyền nơi đây các vua Hùng thường họp bàn việc nước, hay mỗi khi qua khu vực nầy thường đốt lửa nướng thịt chia đều cho mọi người trong những cuộc săn bắn.
Đền Thượng và Lăng: Đền Thượng (Kính Thiên Lĩnh Điện) được xây dựng vào thế kỷ XV. Tục truyền, thời Hùng Vương cùng các quan tướng thường đến đỉnh cao Ngũ Lĩnh để tiến hành những nghi thức cầu cúng, tế trời đất, mong cho mưa thuận gío hoà, mùa màng tốt tươi, để muôn dân được ấm no, hạnh phúc.
Truyền thuyết lại còn kể lại rằng: tại đỉnh cao nầy vua Hùng thứ VI sau khi kháng chiến chống lại giặc Ân, cảm kíchvị anh hùng có công cứu nước, đã lập miếu thờ Phù Đổng Thiên Vương.- Lăng Tổ (Hùng Vương Lăng): Đến nay vẫn chưa biết rõ năm nào xây dựng Lăng nầy. Ngày trước có thể là một đất có mái che, sau tới năm 1874, được xây dựng toàn bộ kiểu dáng như ngày nay.
Tương truyền đó là Thần mộ vủa vua Hùng thứ VI, theo lời dặn của người "Hãy chôn ta trên núi Cả, để đứng trên núi cao ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu sau nầy..." Cạnh đền Thượng còn có một cột đá, người xưa truyền lại Thục Phán được vua Hùng nhường ngôi đã dựng cột đá trên đỉnh Nghĩa Lĩnh thề nguyện muôn đời bảo vệ giang sơn gấm vóc mà vua Hùng đã trao lại cho mình.
Bảo Tàng Hùng Vương: Ngày nay đến viếng đền Hùng, còn được đến thăm Bảo Tàng Viện Hùng Vương. Viện nầy được khánh thành năm 1993 vào dịp khai hội hằng năm. Với hơn 700 hiện vật gốc trên tổng số hơn 3,000 hiện vật có trong kho bảo tàng, 162 bức tranh, 5 bức sơn mài, 9 bức gò đồng, 5 hộp hình, 1 nhóm tượng lớn và nhiều hiện vật khác được trưng bày, để nói lên chủ đề tổng quát: Từ văn minh nông nghiệp thời vua Hùng dựng nước Văn Lang trên vùng đất Phong Châu (bao gồm Vĩnh Phú và một phần Hà Tây, Hà Nội ngày nay).
Lễ hội: Một trong những tiết mục sôi nổi hào hứng trong lễ hội, diễn xướng là kể chuyên dân gian. Người kể chuyện thường là những cụgià, đồng thời cũng là nghệ nhân dân gian, vừa là người phụ trách việc cầu cúng trong làng chạ cổ. Người kể thường hoá trang chogiống như các đắng thần linh trong chuyện kể.
Đây là nhân vật trung gian thể hiện khả năng giao tiếp giữa người và thần. Hình thức kể chuyện ngày hội khá phổ biến vẫn còn được bảo lưu cho đến ngày nay, tiêu biểu là hình thức kể vè của người Kinh (Việt) hát mo (sử thi) ở vùng Mường, kể khan (trường ca) ở tây Nguyên. Ở những vùng cư trú của người Ê Đê, Gia Rai, Bahnar... những lão nghệ nhân đầu cài lông chim, mặc lễ phục sang trọng kẻ chuyện khan Đam San, chuyện khan Đăm Di, khan Xinh Nhã, khan Kinh Dú... Bên cạnh đó là âm nhạc dân gian, tùy từng vùng, từng lễ hội để thực hiện. Những hình thức âm nhạc dân gian có phong cách rất cổ xưa như điệu hát muá Xoan ở Vĩnh Phú, múa hát Dậm, hát múa Lải Lê ở Hà Nam Ninh, hát múa Rô ở Hà Sơn Bình, hát múa Xuân Phả ở Thanh Hoá, múa hát Ải Lao ở ngoại thành Hà Nội, hát Chầu văn phụ họa cho múa lên đồng trong những lễ hội Tam Phủ, Tứ Phủ...
Đã từ lâu, dân tộc ta có truyền thống giỗ Tổ Hùng Vương (ngày 10 tháng ba âm lịch) Hùng Vương là vị vua đầu tiên mở nước: “Cõi Nam riêng một góc trời, Hùng Vương gây dựng đời đời nghiệp vua”.
Lễ giổ Tổ được khai hội ngay trên địa bàn từ xưa vua Hùng đã thiết lập kinh đô, nơi cội nguồn của dân tộc ta. Địa bàn nầy nay thuộc xã Hy Cương, huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú. Cả một quần thể kiến trúc đã được xây dụng ở đây khá lâu đời. trong thời gian đầu có lẽ chỉ có một ít ngôi nhà thờ kiến tạo đơn giản; nhưng theo tài liệu ghi trong Ngọc Phả Hùng Vương, viết vào năm 1470 thì đã có được quy mô rộng lớn.
Nói đến những tổ chức liên hệ đến ngày giỗ tổ Hùng Vương là nói đến lễ hội và diễn xướng tại Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng, Đền Giếng, chùa Thiên Quang và Lăng Vua Hùng.
Tất cả đều quây quần trên ngọn Ngũ Lĩnh, tất cả đều được xem là những di tích lịch sử đầy kỷ niệm hào hùng của thời dựng nước.
                   Ai về Phú Thọ cùng ta,
                        Nhớ ngày giỗ Tổ tháng ba mồng mười

Hay là:

                 Dù ai đi ngược, về xuôi,
                Nhớ ngày giổ Tổ mồng mười tháng ba.

Lễ hội ở đây bao gồm cả những cuộc tế lễ và hội hè, diễn xướng những trò vui chơi giải trí. Lễ hội nầy đầy đủ tất cả những nghi thức ở cấp quốc gia (quốc lễ) diễn ra ở những đền thờ nói trên. Nghi thức đầy đủ các tiết mục, các quy phậm như những cuộc hội lớn. Lễ vật là lễ tam sinh : lợn, dê, bò, mỗi thứ một con để nguyên. Bắt buộc là phải có bánh chưng, bánh dày mới đầy đủý nghĩa của cuộc tượng niệm nầy. Nhạc khí chủ yếu được dùng từ xưa đến nay trong ngày lễ nầy là trống đồng; tiếng trống thiêng ngânvang lên luôn luôn gây niềm xúc động. Thể hiện đầy đủ những lễ tiết trên, thì mới thể hiện trọn vẹn được tấm lòng thành kính biết ơn của bao nhiêu thế hệ con Rồng, chúa Tiên.Tiếp theo phần lễ là phần hội; chủ yếu là các cuộc rước.
Trước hết là rước cỗ chay, rước bánh chưng, bánh dày. Đây là cuộc rước độc đáo, không đám rước nào trước kia có cả, vì là riêng của Đền Hùng. Không phải chỉ tưởng nhớ đến truyện tích Lang Liêu, mà để nhớ ơn các vua Hùng, các vị thánh như Thánh Tản Viên, người đã dạy cho dân chúng thời ấy nhiều nghề trong đó có nghề trồng lúa nước. Trong những nghi lễ nầy cũng thường có cả rước voi. Theo những lời lưu truyền lại của những vị bô lão trong vùng nầy thì trước đây là những đoàn voi thực được dẫn đi diễu hành.
Voi tiêu biểu cho sức mạnh, cho sức hào hùng của dân tộc đương đầu chống đỡ lại bất cứ trở ngại nào. Cuối cùng là tiết mục rước kiểu bay. Những làng chung quanh núi Nghĩa Lĩnh đem những chiếc kiệu của làng, cờ quạt nhiều màu sắc từ các ngả rước về Đền Hạ, được chạy quanh sân đền. Ý nghĩa của cuộc rước kiệu bay nầy là con cháu xa gần nhanh chóng về lễ Tổ. Kiệu các làng trong vùng cũng đại diện cho các làng trong cả nước.
Cùng với những cuộc ruớc nầy là những trò vui chơi, diễn xướng khác nữa; những cuộc vui chơi của các địa phương chung quanh Đền Hùng góp chung vào không khí tưng bừng của ngày lễ hội nầy. Trên hồ Đá Vao, cạnh chân núi Nghĩa Lĩnh là cuộc thi bơi của những đội thuyền rồng. Quanh bờ hồ, bên sườn núi dọc hai bênquốc lộ và tỉnh lộ là những rạp tuồng chèo, những cây đu tiên, những cuộc tung còn của những trai thanh gái lịch. những phướngHát Xoan từ nhiều nơi cũng đua nhau về tham gia những cuộc thi hát Xoan, một điệu dân ca riêng trong vùng đất Vĩnh Phú.
Lại còn có những cuộc trình bày các tiết mục âm nhạc đặc biệt của các dân tộc Mường gần đó như "Đâm Đuống". Tất nhiên những địa phương xa gần đều kéo nhau đến mở những quán ăn thu hút những khách tham dự lễ hội.
Ngày nay, những quán ăn nầy lại càng nhièu hơn, vì vùng đất Vĩnh Phú có khá nhiều sản vật đậm đà ý nghỉa quê hương: bưởi Đoan Hùng, chè Phú Thọ, dứa Tam Đảo. Mùa xuân của lễ hội Đền Hùng là cả một mùa Xuân rực rỡ với bầu không khí sôi động lan toả khắp vùng từ những luá chuẩn bị cho ngày lễ và dư âm còn vang lại về sau. Lễ hội Đền Hùng là cả mộtcuộc hành hương trở về cội nguồn dân tộc, cũng là biểu tượng lòng yêu nước. Sinh họat văn hoá của lễ hội đền Hùng có ý nghĩa thiêng liêng hơn bất cứ một lễ hội nào trong cả nước.

Di tích trung tâm Thăng Long - Hà Nội 
 
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội có tổng diện tích 18,395ha, bao gồm: khu khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và các di tích còn sót lại trong khu di tích Thành cổ Hà Nội như cột cờ Hà Nội, Đoan Môn, điện Kính Thiên, nhà D67, Hậu Lâu, Bắc Môn, tường bao và 8 cổng hành cung thời Nguyễn. Cụm di tích này nằm ở quận Ba Đình và được giới hạn bởi phía bắc là đường Phan Đình Phùng; phía nam là đường Bắc Sơn và nhà Quốc hội; phía tây là đường Hoàng Diệu, đường Độc Lập và nhà Quốc hội; phía tây nam là đường Điện Biên Phủ và phía đông là đường Nguyễn Tri Phương.
Lịch sử
Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập vương triều Lý. Tháng 7 mùa thu năm 1010, nhà vua công bố thiên đô chiếu (chiếu dời đô) để dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La. Ngay sau khi dời đô, Lý Công Uẩn đã cho gấp rút xây dựng Kinh thành Thăng Long, đến đầu năm 1011 thì hoàn thành. Khi mới xây dựng, Kinh thành Thăng Long được xây dựng theo mô hình tam trùng thành quách gồm: vòng ngoài cùng gọi là La thành hay Kinh thành, bao quanh toàn bộ kinh đô và men theo nước của 3 con sông: sông Hồng, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Kinh thành là nơi ở và sinh sống của dân cư. Vòng thành thứ hai (ở giữa) là Hoàng thành, là khu triều chính, nơi ở và làm việc của các quan lại trong triều. Thành nhỏ nhất ở trong cùng là Tử Cấm thành, nơi chỉ dành cho vua, hoàng hậu và số ít cung tần mỹ nữ. Nhà Trần sau khi lên ngôi đã tiếp quản Kinh thành Thăng Long rồi tiếp tục tu bổ, xây dựng các công trình mới. Sang đến đời nhà Lê sơ, Hoàng thành cũng như Kinh thành được xây đắp, mở rộng thêm ra. Trong thời gian từ năm 1516 đến năm 1788 thời nhà Mạc và Lê trung hưng, Kinh thành Thăng Long bị tàn phá nhiều lần. Đầu năm 1789, vua Quang Trung dời đô về Phú Xuân, Thăng Long chỉ còn là Bắc thành. Thời Nguyễn, những gì còn sót lại của Hoàng thành Thăng Long lần lượt bị các đời vua chuyển vào Phú Xuân phục vụ cho việc xây dựng kinh thành mới. Chỉ duy có điện Kính Thiên và Hậu Lâu được giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi ngự giá Bắc thành. Năm 1805, vua Gia Long cho phá bỏ tường của Hoàng thành cũ và cho xây dựng Thành Hà Nội theo kiểu Vauban của Pháp với quy mô nhỏ hơn nhiều. Năm 1831, trong cuộc cải cách hành chính lớn, vua Minh Mạng đã cho đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội. Khi chiếm xong toàn Đông Dương, người Pháp chọn Hà Nội là thủ đô của liên bang Đông Dương thuộc Pháp và Thành Hà Nội bị phá đi để lấy đất làm công sở, trại lính cho người Pháp. Từ năm 1954, khi bộ đội ta tiếp quản giải phóng thủ đô thì khu vực Thành Hà Nội trở thành trụ sở của Bộ quốc phòng. Như vậy giá trị đầu tiên của khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội thể hiện ở chỗ nó gần như là một "bộ lịch sử sống" chảy suốt theo cả chiều dài lịch sử hơn 10 thế kỷ của Thăng Long- Hà Nội, kể từ thành Đại La thời tiền Thăng Long đến thời đại ngày nay.

Giá trị khảo cổ

Trong lịch sử, Hoàng thành Thăng Long trải qua khá nhiều thay đổi, nhưng trung tâm của Hoàng thành, đặc biệt là Tử Cấm Thành thì gần như không thay đổi. Chỉ có kiến trúc bên trong là đã qua nhiều lần xây dựng, tu sửa. Chính đặc điểm này giải thích tại sao trên khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu, các lớp di tích kiến trúc và di vật nằm chồng lên nhau qua các thời kỳ lịch sử. Các di tích đó có mối quan hệ và sự liên kết lẫn nhau, tạo thành một tổng thể liên hoàn rất phức tạp nhưng phong phú và hấp dẫn, phản ánh rõ mối quan hệ về qui hoạch đô thị và không gian kiến trúc, cũng như sự tiếp nối giữa các triều đại trong lịch sử xây dựng kinh đô Thăng Long. Đó chính là giá trị nổi bật và độc đáo của khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội. Tại đây, các nhà khảo cổ học còn khai quật được một số lượng lớn đồ gốm sứ là những vật dụng dùng hàng ngày trong hoàng cung qua nhiều thời kỳ. Những khám phá này đã thực sự mở ra một cánh cửa mới cho việc nghiên cứu về gốm Thăng Long và gốm dùng trong hoàng cung Thăng Long qua các triều đại, là minh chứng cụ thể về trình độ phát triển cao của kinh tế và văn hoá. Ngoài ra, nhiều tiền đồng, đồ gốm sứ của Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Á... được tìm thấy ở đây là bằng chứng cho thấy Thăng Long là trung tâm giao lưu văn hoá với các nước trong khu vực và tiếp nhận những giá trị tinh hoa của nhân loại. 
Ban di sản thế giới của UNESCO đã thông qua Nghị quyết công nhận khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di sản văn hóa thế giới dựa trên 3 tiêu chí nổi bật: (ii) là minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, là nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều học thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại để tạo dựng nên những nét độc đáo, sáng tạo của một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của quốc gia, (iii) là minh chứng duy nhất về truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt ở vùng châu thổ sông Hồng qua các thời kỳ lịch sử, (vi) có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của quốc gia trong mối quan hệ với khu vực và thế giới.

Khu phố ngoại thành

Khu phố cổ Hà Nội là tên gọi thông thường của một khu vực đô thị có từ lâu đời của Hà Nội nằm ở ngoài hoàng thành Thăng Long. Khu đô thị này tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương, hình thành lên những phố nghề đặc trưng, mang những nét truyền thống riêng biệt của cư dân thành thị, kinh đô. Ngày nay khu phố cổ Hà Nội là điểm đến hấp dẫn cho những ai muốn tìm hiểu về Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.
Khu "Hà Nội 36 phố phường" là một cách gọi không chính xác của khu phố cổ, vì 36 phố phường là một cách gọi ước lệ khu vực đô thị cổ, nằm bên trong và bên ngoài cả khu phố
Theo quyết định số 70 BXD/KT-QH ngày 30 tháng 3 năm 1995 của Bộ Xây dựng, khu Phố cổ Hà nội có phạm vi được xác định: phía Bắc là phố Hàng Đậu; phía Tây là phố Phùng Hưng; phía Nam là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu GỗHàng Thùng; phía Đông đường Trần Quang Khảiđường Trần Nhật Duật.
Khu phố cổ Hà Nội thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm tổng diện tích khoảng 100 ha, có 76 tuyến phố thuộc 10 phường: phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Mã, Đồng Xuân, Cửa Đông, Lý Thái Tổ.
Mặc dù các phố cổ của Hà Nội còn nằm cả bên ngoài khu vực này, nhưng do đây là khu vực tập trung phố cổ nhiều nhất và còn giữ được những đặc trưng nên chỉ khu vực theo quy định trên được gìn giữ, bảo tồn là khu phố cổ.
Khu dân cư sinh hoạt và buôn bán sầm uất này đã được hình thành từ thời Lý - Trần, nằm ở phía đông của hoàng thành Thăng Long ra đến sát sông Hồng. Đầu đời đời Lê, trong sách Dư Địa Chí, Nguyễn Trãi cũng đã đề cập đến tên một số phường nghề tại đây. Dưới thời Lê, đặt phủ Phụng Thiên gồm hai huyện là Vĩnh ThuậnThọ Xương, thì khu này nằm gọn trong bốn tổng Túc của huyện Thọ Xương là Tiền Túc, Hậu Túc, Tả Túc, Hữu Túc. Bên ngoài khu vực là vòng thành Đại La có trổ các cửa ô.
Thời Lê, giữa khu này có một số đầm hồ, lớn nhất là hồ Thái Cực. Sông Tô Lịch nối với hào thành, các đầm hồ, thông với hồ Hoàn Kiếmsông Hồng cũng ở khu vực này. Đến cuối thế kỉ 19 thì các sông hồ đó hoàn toàn bị lấp, nhưng vẫn còn để lại dấu tích qua các địa danh: Hà Khẩu, Giang Khẩu, Cầu Gỗ, Cầu Đông.
Thời Lý - Trần, dân cư từ các làng quanh đồng bằng Bắc Bộ tụ tập về khu vực này sinh sống, tạo thành khu phố đông đúc nhất kinh thành. Đến đời Lê, dần dần đã có một số Hoa kiều buôn bán ở đây, hình thành nên các khu phố Tàu.
Thời Pháp thuộc, sau khi lấp toàn bộ các đầm hồ, khu phố được chỉnh trang, người Ấn, người Pháp cũng đến đây buôn bán. Hai chợ nhỏ được giải tỏa để lập chợ Đồng Xuân, Đường ray xe điện Bờ hồ - Thụy Khuê cũng chạy xuyên qua đây.
Cho đến nay, đây vẫn là khu buôn bán nhộn nhịp nhất của Hà Nội. Tuyến phố đi bộ cũng được mở tại đây.
Đặc trưng nổi tiếng nhất của khu phố cổ là các phố nghề. Thợ thủ công từ các làng nghề quanh Thăng Long xưa tụ tập về đây, tập trung theo từng khu vực chuyên làm nghề của mình. Các thuyền buôn có thể vào giữa phố để buôn bán trao đổi, khiến các phố nghề càng phát triển. Và chính sản phẩm được buôn bán trở thành tên phố, với chữ "Hàng" đằng trước, mỗi phố chuyên môn buôn bán một loại mặt hàng.
Hiện nay, một số phố vẫn còn giữ được sản phẩm truyền thống như phố Hàng Mã, Hàng Tre, Hàng Thiếc, Thuốc Bắc... Ngoài ra một số phố tuy không giữ nghề truyền thống, nhưng cũng tập trung chuyên bán một loại hàng hóa như phố Hàng Quạt bán đồ thờ, phố Hàng Buồm bán bánh kẹo, phố Mã Mây chuyên dịch vụ du lịch...
Hàng Bông lấy theo tên đoạn phố chính Hàng Bông Đệm vốn có nhiều nhà làm nghề bật bông, bán mền bông, chăn đệm.
Phố Hàng Mã ngày xưa chuyên buôn bán đồ vàng mã để thờ cúng, bao gồm tiền giấy âm phủ, vàng giấy âm phủ, sau mở rộng thêm các tượng giấy hình các quan, hình nhà cửa... để cúng và đốt cho người âm (người chết). Ngày nay phố Hàng Mã tập trung nhộn nhịp vào các dịp lễ, tết Trung Thu, Nguyên Đán với các mặt hàng phong phú về đồ chơi. Ngoài ra, tại đây cũng là nơi bán đồ trang trí phông màn cho đám cưới với các hình cắt làm từ nguyên liệu giấy màu hay bọt xốp nhiều màu sắc.
Phố Mã Mây. Phố này nguyên bao gồm hai phố xưa: phố Hàng Mã và phố Hàng Mây[2]. Đoạn phố Hàng Mây nằm giáp phố Hàng Buồm, trên bờ sông Nhị, nơi tập trung thuyền bè miền ngược chở các mặt hàng lâm sản như song, mây, tre, nứa...
Phố Hàng Bạc do ông Lưu Xuân Tín được nhà vua cho phép mở lò đúc bạc thành nén cho triều đình[3] , kéo người trong họ hàng và người làng Trâu Khê (hay Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang - Hải Dương) ra đây mở phường đúc bạc, thành lập trường đúc ở số nhà 58 Hàng Bạc.
Phố Hàng Đào là nơi buôn tơ, bán vải vóc (chữ vải điều chỉ màu đỏ được đọc chệch thành chữ đào)
Phố Hàng Lược nối từ phố Hàng Cót đến phố Chả Cá, vốn là nơi có nhiều nhà buôn bán lược : lược gỗ, lược sừng và sau này là lược nhựa.
Phố Hàng Chai không phải là nơi sản xuất, buôn bán chai lọ; phố này là một đoạn ngõ nhỏ nối phố Hàng Rươi và Hàng Cót, đây là nơi tập trung dân nghèo chuyên làm nghề thu lượm các đồ phế liệu, đồ bỏ (rác)
Phố Hàng Gà chạy từ phố Hàng Điếu đến phố Hàng Cót, vốn là nơi tập trung các cửa hàng bán đồ gia cầm: , vịt , ngan , ngỗng , bồ câu, gà tây...
Phố Hàng Chĩnh được người Pháp gọi là Rue des Vases (phố hàng Vại Chậu), vốn thông ra bờ sông, là bến đậu các thuyền chở vại, chậu bằng sành của làng Phù Lãng, nồi đất, chum vại, tiểu sành từ Hương Canh, bằng gốm từ Thổ Hà
Phố Hàng Đồng và phố Bát Sứ thời thuộc Pháp có tên chung là Rue des Tasses (phố Hàng Chén). Đoạn Hàng Đồng và Hàng Mã trước thuộc thôn Yên Phú, có nghề gốc bán đồ đồng như mâm, nồi, đỉnh, lư hương, lọ hoa, hạc thờ...
Một đặc trưng nữa của khu phố cổ là kiến trúc nhà cổ trong khu phố buôn bán. Những nhà cổ chủ yếu là nhà ống, mái ngói nghiêng, mặt tiền là cửa hàng buôn bán thò thụt không đều. Hình ảnh nhà cổ và mái ngói đã đi vào hội họa, thơ ca. Những ngôi nhà này chủ yếu được dựng vào thế kỉ XVIII - XIX, trước đó hầu hết là nhà mái tranh, chỉ có một số nhà giàu có, nhà của Hoa kiều mới lợp mái ngói.
Thời kì toàn quốc kháng chiến, để tránh đụng độ trực tiếp với quân Pháp và lính Lê dương, người dân và Vệ quốc quân đã đục thông tường từ nhà này sang nhà khác. Khi cần người ta có thể đi từ đầu đến cuối phố qua những lỗ hổng giữa các ngôi nhà mà không cần phải xuống đường.
Từ cuối thế kỉ XX, các nhà cổ dần dần biến mất. Thay vào đó là các ngôi nhà ống xây mới phá vỡ cảnh quan vốn có của phố cổ. Tuy vậy, bên trong các ngôi nhà vẫn là hệ thống đường đi chằng chịt.
Trong khu vực phố cổ có rất nhiều di tích lịch sử lâu đời, gồm đình, đền, chùa, hội quán.
Đình: mỗi phố nghề thường có một đình để thờ tổ nghề hoặc thành hoàng làng nguyên quán. Đình ở khu này đặc biệt là tầng dưới vẫn làm cửa hàng cho thuê, tầng trên mới làm nơi thờ cúng. Qua thời gian, các đình bị lấn chiếm nhiều, rất khó tìm ra dấu.
Đền: tương tự như đình, nhiều đền cũng chỉ đặt trên tầng, phía dưới làm cửa hàng. Một số đền còn giữ được là: đền Mã Mây, đền Nhân Nội, đền Bà Chúa,
Chùa: trong khu phố cổ còn một số ngôi chùa, tuy đã bị lấn chiếm nhiều: chùa Cầu Đông, chùa Kim Cổ, chùa Thái Cam.
Hội quán: khi người Hoa đến buôn bán, đã lập ra hai hội quán: Hội quán Quảng Đông và Hội quán Phúc Kiến.
Tại khu vực khu phố cổ xưa kia có các cửa ô: ô Phúc Lâm, ô Thanh Hà (ô Quan Chưởng), ô Trừng Thanh, ô Mỹ Lộc. Hiện chỉ còn lại ô Quan Chưởng là còn nguyên vẹn.
Chợ: Bên cạnh các phố nghề, khu phố cổ cũng có một số chợ để tập trung bán các loại hàng hóa phục vụ đời sống, như chợ Đồng Xuân - Bắc Qua, chợ Hàng Da, chợ Hàng Bè.


Thăng Long tứ trấn


 Người Hà Nội xưa có truyền thống đầu năm đi lễ nhất định phải đến Thăng Long tứ trấn. Có lẽ là bởi nơi đây là nơi thờ 4 vị thần trấn giữ đất kinh kỳ, những người đã mang đến sự yên bình và cuộc sống ấm no cho người dân.
Thăng Long tứ trấn trải quá nhiều thời kỳ còn được tôn là “Thượng đăng phúc thần”, đây cũng là 4 di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng của thủ đô Hà Nội. “Tứ trấn” được xây dựng từ rất sớm, gắn liền với việc ra đời kinh đô Thăng Long thời nhà Lý từ những năm 1010. Vào thời kỳ đó Tứ trấn Thăng Long là nơi diễn ra các lễ hội Xuân, là nơi nhà vua chọn đến để dâng hương những ngày đầu năm. Và có lẽ cũng từ đó, người dân đất kinh kỳ nối tiếp truyền thống này cho đến tận hôm nay.
Nói đến Tứ trấn nghĩa là nói đến Đền Bạch Mã trấn phía Đông; Đền Voi phục trấn phía Tây; Đền Kim Liên trấn phía Nam; Đền Quan Thánh trấn phía Bắc. Cả bốn đền đều nằm trong khu vực nội thành Hà Nội và có những nét kiến trúc độc đáo riêng biệt.
Đền Bạch Mã xưa thuộc huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, nay là số nhà 76 phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm. Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, vị thần bảo hộ của Kinh Thành. Truyền thuyết kể rằng: Khi vua Lý Công Uẩn định đô Thăng Long (năm 1010), xây thành mà cứ bị sụt lở, nhà Vua tới đây cầu lễ và lạ thay, một buổi sáng chợt thấy có vị ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy vòng quanh khu vực đang xây thành, chạy đến đâu để dấu chân đến đấy rồi trở lại Đền và vụt biến mất. Vua Lý cứ theo vết chân ngựa mà xây, thành không lở nữa. Từ đó thành được đắp cao lên, rất vững chắc. Thành xây xong, nhà Vua xuống chiếu cho chúng dân Thăng Long phong thần Long Đỗ làm thành Hoàng bảo vệ cho Thăng Long. Từ đấy Ngựa trắng là một biểu tượng thiêng liêng của Đền. Hội Đền Bạch Mã hằng năm được tổ chức vào ngày 12 và 13-2 âm lịch.
Trấn phía Tây là đền Voi Phục, đền tọa lạc bên hồ Thủ Lệ thuộc phường Cầu Giấy, quận Ba Đình.. Quanh năm đền nằm trong những hàng cây cổ thụ rợp bóng mát, lại thêm không khí trong lành bên hồ khiến cho nơi đây là địa điểm lý tưởng để đến vãn cảnh, dâng hương. Truyền thuyết ghi lại rằng thần vốn là một Thiên sứ đầu thai làm con nàng phi thứ bảy của vua Lý Thái Tông, được vua cha yêu quý đặt tên là Linh Lang. Tương tự như người anh hùng làng Gióng, khi đất nước có giặc ngoại xâm, Hoàng tử nhỏ vươn mình trở thành một dũng sĩ cưỡi voi xung trận, diệt tan quân xâm lược. Sau chiến thắng, bỗng nhiên hoàng tử lâm bệnh, vua cha đến thăm, chàng cho biết mình không phải là người trần rồi biến thành con giao long trườn xuống hồ Dâm Đàm và biến mất. Vua cho lập đền thờ, phong là “Thượng đẳng thần”.
Đền thờ Linh Lang được xây dựng vào năm 1065, đời vua Lý Thánh Tông. Cửa đền có đắp hai vị voi quỳ. Trong đền còn lưu giữ tảng đá có vết lõm, tương truyền đó là dấu vết hoàng tử nằm gối đầu lên rồi hóa thành giao long và trườn xuống hồ. Trải qua những biến cố của lịch sử, chiến tranh, và nhiều lần trùng tu, đến nay kiến trúc của Đền đã thay đổi khá nhiều so với kiến trúc ban đầu. Tuy vậy, lễ hội đền Voi Phục vẫn duy trì tổ chức vào này mùng 9 đến 11 tháng 02 âm lịch hàng năm. 
Trấn phía Nam là đền Kim Liên, cho đến nay đây vẫn là một trong những tuyệt tác kiến trúc của kinh thành xưa. Trước đây đền thuộc địa phận phường Kim Hoa, sau thuộc phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức nay là phường Phương Liên, quận Đống Đa. Đền thờ thần Cao Sơn, truyền thuyết xưa kể rằng thần Cao Sơn đã có công giúp Sơn Tinh chiến thắng Thủy Tinh và sau này lại giúp vùa Lê Tương Dực dẹp loạn, khôi phục nhà Lê. Chính vì thế vua Lê cho xây đền, dựng bia để hương khói thờ phụng.
Tam quan và Đền xây trên gò đất cao, từ sân bước lên phải qua chín bậc gạch, hai bên thềm là hai sấu đá niên đại thời Lê. Tam quan xây thành nhà hoàn chỉnh, kiểu tường hồi bít đốc. Bốn góc tường hồi có bốn cột trụ, bốn bộ vì đỡ mái làm theo kiểu chồng giường, giá chiêng, cột trốn. Các con rường chạm nổi hình mây cuốn, câu đầu và chạm lộng nhiều lớp hình tứ linh vô cùng đẹp với kỹ thuật tinh xảo. Trong đền vẫn còn long ngai thờ thần Cao Sơn và hai nữ thần phối hưởng: Thuỷ Tinh đệ Tam Tôn nữ và Huệ Minh phu nhân.
Vị trí của đền cũng rất đẹp, tọa lạc ngay bên hồ Tây ( xưa là hồ Dâm Đàm) với không gian rộng rãi, thoáng đãng, cảnh quan thi vị hữu tình. Cho đến nay đền hàng năm đền vẫn có hàng trăm nghìn lượt du khách đến dâng lễ, vãnh cảnh. Lễ hội đền Kim Liên mở vào ngày 16 tháng 03 âm lịch. 
Cuối cùng là đền Quán Thánh trấn phía Bắc kinh thành, đền thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ. Vào đời nhà Lê, đền thuộc phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận, phía Nam Hồ Tây, nay ở ngã tư giao đường Thanh Niên với đường Quán Thánh, Hà Nội. Truyền thuyết xưa kể rằng: Huyền Thiên Trấn Vũ là thần cai quản phương Bắc giúp dân trừ tà ma, yêu quái; trừ rùa thành tinh (đời Hùng Vương 14); trừ cáo chín đuôi ở Tây Hồ; giúp An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa; diệt hồ ly tinh trên sông Hồng đời vua Lý Thánh Tông... Đến thời nhà Lê, các vua cũng thường đến đây để cầu mưa mỗi khi có hạn hán. Theo tư liệu cũ, ngôi Đền được xây dựng vào những năm đầu khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Năm 1823, Vua Minh Mạng lên ngôi đổi tên Đền là Trấn Vũ Quán. Đến đời vua Thiệu Trị năm 1842, đổi tên là Đền Quán Thánh như hiện nay. Trong đền có một bức tượng đồng Trấn Vũ cao lớn uy nghi nặng 4 tấn. Pho tượng đồng đen lớn này là tác phẩm nghệ thuật của các tay thợ tài hoa làng đúc đồng Ngũ Xã. Trải qua hàng trăm năm pho tượng ngày càng đen và bóng bởi người nào đến đây thắp hương dâng lễ cũng xoa vào phần chân bức tượng khiến cho những phần này trở nên nhẵn bóng. Đền Quán Thánh vẫn duy trì tổ chức chính hội vào ngày 3 tháng 3 âm lịch hàng năm.
Cả bốn ngôi đền đều đẹp với những kiến trúc khác nhau được thể hiện qua từng giai đoạn lịch sử, thời điểm cũng như ý nghĩa của việc xây dựng đền. Bốn di tích này là những dấu mốc định hình long mạch của đất Thăng Long và suốt bao thế kỷ đã tồn tại trong tâm thức người dân Việt Nam. Có lẽ bởi tầm quan trọng của và ý nghĩa lịch sử của “tứ trấn”, ngoài ra các di tích này nằm ngay trong nội thành Hà Nội và có khoảng không gian thoáng mát, tĩnh lặng nên cả bốn ngôi đền đều là những địa điểm mà người dân Hà Nội thường đến dâng lễ cũng như vãn cảnh đặc biệt vào đầu xuân mới. Đây âu cũng là một cách thể hiện lòng thành kính đến với những vị thần ngày đêm canh giữ, bảo vệ để người dân kinh kỳ có cuộc sống âm no, hòa bình.


. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 11.5.2014.