Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



LINH HỒN MÙA HẠ

(VÀO HÈ)





Ai xui con cuốc gọi vào hè ?
Cái nóng nung người, nóng nóng ghê !

       Cứ mỗi lần hè sang, ở thành phố tuy không có tiếng cuốc kêu, nhưng “cái nóng nung người, nóng nóng ghê!” đã nhắc ta nhớ đến hai câu thơ trên đây của cụ Tam nguyên Yên Đổ. Nếu hằng năm, bốn mùa cứ tuần tự vận hành theo đúng lịch ta thì đến đầu tháng tư âm lịch mới bắt đầu mùa hè, nhưng trong thực tế, ta đã thấy “cái nóng nung người” thường đến sớm hơn cả tháng, tức là từ đầu tháng ba âm lịch, bấy giờ hãy còn là tháng cuối xuân mà nhà nho quen gọi là tháng quí xuân.
       Trong thơ xưa, những hình ảnh và âm thanh có tính cách ước lệ để báo hiệu mùa hè đến là tiếng kêu của con chim quyên (hay đỗ quyên, đỗ vũ) tức là con chim cuốc và màu đỏ như lửa của hoa lựu nên Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều :
Dưới trăng quyên đã gọi hè,
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.

       Và nữ sĩ Anh Thơ, với một nghệ thuật tả cảnh độc đáo, cũng không quên hoa lựu khi viết về mùa hè :

Hoa lựu nở đầy một vườn đỏ nắng,
Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua.
(Trưa hè)

      Thế là những ngày nóng bức kinh khủng bắt đầu và kéo dài tưởng chừng như vô tận. Mà đâu phải chỉ có Sài Gòn mới nóng, Huế nóng cũng có kém chi :

                                                                            Lửa hạ bừng bừng cháy,
Làn ma trốt trốt bay.
Tiếng ve rè rè mãi
Đánh đổ giấc ngủ ngày.

    và cái cảnh:

Huê phượng như giọt huyết
Rỏ xuống phủ lề đường.
Mặt trời gay gay đỏ
Nhuộm đỏ góc sông Hương.

                                                                                (Nam Trân – Huế, ngày hè)

Trời nóng, nóng quá, nóng gay gắt đến nỗi:

Nghe mồ hôi chảy đầm như tắm

Vì thế mà:
Cành thưa, nắng tưới, chim không đứng,
Quả chín bâng khuâng rụng trước hè.

(Bàng Bá Lân – Trưa hè)

Nắng đốt cháy cỏ cây, cảnh vật. Buổi trưa nắng gắt, người ta rất ngại ra đường, cho nên trong cảnh vắng vẻ ấy hiện lên rất rõ nét một cái am xưa hay đôi chiếc bia già:

Mùa hạ cháy ở dưới trời đốt trắng,
Nắng nồng nung, mây bạc chảy ngân nga.
Cảnh thưa thớt, chỉ một con đường vắng,
Cái am xưa hay đôi chiếc bia già.

(Xuân Diệu – Hè)

Trong cái nóng bức và yên ả của buổi trưa mùa hạ, ai không ngủ được có thể
nghe rõ tiếng ve kêu và tiếng gà gáy trưa trong thôn vắng, một cảnh quê Việt Nam thân yêu muôn đời còn khắc ghi trong tâm hồn những người xa xứ:

Ve ve rung cánh, ruồi say nắng,
Gà gáy trong thôn những tiếng dài.

(Bàng Bá Lân – Trưa hè)

       Tiếng gà gáy sáng thì sống động, reo vui, còn tiếng gà gáy trưa lại buồn rầu, áo não, nghe như máu ứa trong tim:
Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa,
Chết không gian, khô héo cả hồn cao.
Thắm tuyệt vọng hai hàng bông phượng lửa,
Thê lương đời như trải mấy binh đao.

(Xuân Diệu – Hè)

      Hễ hè về là phượng cũng về theo. Hoa phượng – có khác chi hoa lựu – đỏ như màu lửa khiến cho nhà thơ vốn giàu tưởng tượng nghĩ rằng bao nhiêu lửa của mặt trời đã kết tụ lại để biến thành hoa phượng đỏ:

Đốt cháy bao la sánh mặt trời,
Linh hồn mùa hạ hiện thân ơi !
Đời người kết tụ bao nhiêu nắng?
Trưa chói chang cao, lửa rạng ngời.

(Tế Hanh – Phượng)

    Trưa hè nóng bức khiến cho người thơ nhớ đến dòng sông quê hương mát mẻ, từ dòng sông liên tưởng đến ruộng đồng, thóc lúa và tự hỏi không biết người nông dân có phơi thóc dưới cái nắng gay gắt này không:

Trưa hè bỗng nhớ sông quê,
Nước xa không bóng thuyền đi đôi dòng.
Thóc nhà ai có phơi không?
Chói chang lửa thóc, sân trông bóng người.

(Quang Dũng – Trưa hè)

     Nhưng Huy Cận lại nhìn trưa hè dưới một khía cạnh khác. Giữa cái nắng gay gắt oi nồng ban trưa, nhà thơ cảm thấy hoa dại thơm hơn và cánh bướm đẹp hơn:

Hoa dại thơm hơn,
Giữa giờ trưa vắng.
Con bướm chập chờn
Vờn đôi cánh nắng.

(Buổi trưa hè)

     Theo tôi tới đây chắc bạn đã thấy toát mồ hôi rồi, phải không? Trời nóng, nóng quá bạn nhỉ! Thế thì ta cầu mưa vậy. Tiếc rằng ta không có tài đảo vũ như Khổng Minh ngày xưa, chỉ biết “lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày…”, nhưng ông trời có chịu mưa đâu:

Tháng ba thiên hạ đợi mưa rào,
Đợi mãi mà mưa chẳng thấy nào.
Kinh tế khó khăn, trời tiếc nước,
Văn minh hào nhoáng, ếch trông sao…

(Tản Đà – Tháng ba không mưa)

    Nhà thơ miền núi Tản sông Đà khá hóm hỉnh, những cụm từ “trời tiếc nước, ếch trông sao” rất đắt. Nóng quá, cầu mưa không xong, ta chỉ còn biết mong sao cho ngày chóng qua, cho đêm chóng về vì may mắn thay, ban đêm không có… nắng. Dĩ nhiên là đêm chưa mát hẳn nhưng dù sao cũng đỡ hơn ngày, nếu đêm hè mà có trăng nữa thì tuyệt:

Ông lão nằm chơi ở giữa sân,
Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân.
Thằng cu đứng vịn bên thành chõng
Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.

(Đoàn Văn Cừ - Trăng hè)

    Ngày hè nóng bức khiến ta tiếc xuân rồi lại mong thu. Tiếc xuân thì dã có con cuốc tiếc hộ người:

Xuân đã qua rồi cứ gọi theo.

(Tản Đà)

     Còn Xuân Diệu thì cảm thấy tiếc rẻ vì xuân qua chỉ còn lưu lại một chút dư hương:

Chỉ còn lại của mùa xuân quá vãng
Một chút hương vương vấn bụi hồng tàn.

(Hè)

     Nhưng dù có tiếc xuân cũng không thể nào kéo xuân lại được. Mong thu thì thu sẽ tới với bao nhiêu hình ảnh êm đềm vẽ nên một bức họa lung linh qua màn sương ảo vọng:

Đây mùa thu tới – mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng.

(Xuân Diệu - Đây mùa thu tới)

Và cái cảnh nên thơ dệt nên nhiều mộng đẹp:

Trận gió thu phong rụng lá vàng,
Lá rơi hàng xóm, lá bay sang.

Tản Đà (Gió thu)

Nhưng đó chỉ là sự mơ ước. Trong hiện tại, bạn và tôi, ta còn phải chịu đựng cái cảnh nắng hè gay gắt thêm một thời gian nữa:

Gió thêm nóng, ngày dài thêm ánh sáng,
Ve thêm sầu – Em cũng kém dung nhan.

(Xuân Diệu – Hè)

Bài này đã đăng trên tạp chí KIẾN THỨC NGÀY NAY số số 854 ngày 1-5-2014

Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 10.5.2014 .