Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Vẻ Đẹp Tham Thiền

của

Những Pho Tượng Chùa Sùng Nghiêm



Chúng tôi nhiều năm đọc sách về Phật, thiền Trúc Lâm Yên Tử, thiền Ấn Độ, Trung Quốc, được gặp gỡ và học hỏi nhiều thiền sư, đi thăm, nghiên cứu, chiêm bái nhiều chùa, và thực hành thiền hằng ngày, mọi lúc, mọi nơi, nên đã hiểu vẻ đẹp tham thiền của những pho tượng ở trong các ngôi chùa Việt Nam. Bài tham luận về Vẻ đẹp tham thiền của những pho tượng chùa Sùng Nghiêm là một minh chứng sinh động. Để bài viết được thấu đáo, chúng tôi phải đi từ nguồn gốc thiền, khái niệm thiền, rồi mới phân tích vẻ đẹp tham thiền của các pho tượng chùa Sùng Nghiêm.


    I. Nguồn gốc Thiền Việt Nam:

    Đạo Phật đến Việt Nam khoảng thế kỷ II trước Công Nguyên. Buổi đầu, Phật hòa với tín ngưỡng thờ Mẫu bản địa như một thần quyền (Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi). Song triết học Phật giáo đã sớm thức tỉnh người Việt nhận ra rằng chỉ có sức mạnh của chính mình mới có thể cứu mình, bằng phương pháp thiền. Thiền không chỉ giúp con người vượt qua đau khổ, mà còn dẫn tới giác ngộ và giải thoát. Các nhà nghiên cứu Phật giáo Việt Nam nhận định: “Thiền Phật giáo Việt Nam là một thực thể chính trị- xã hội- triết học- văn hóa- tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam hay sự nhập thế của đạo Phật ở Việt Nam.” (Thích Tâm Đức).

    Thiền Trúc Lâm Yên Tử

    Thế kỷ XIII, Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258- 1380) rũ bỏ hoàng bào, lên núi Yên Tử tu khổ hạnh, sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đậm chất Việt Nam. Thiền Trúc Lâm Yên Tử mạch nguồn từ thiền Tông của Phật Thích Ca Mâu Ni, truyền cho Ca Diếp. Sau đó, Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Quốc đã nâng thiền thành một tông phái- Tinh hoa của đạo Phật. Người Trung Quốc thực hành thiền trong đời sống hằng ngày để đạt trí tuệ, sức sống mãnh liệt. Một vài thiền sư đã du hành sang Việt Nam lập những thiền phái mang tên của họ: Tì Ni Đa Lưu Chi, người Ấn Độ (mất năm 594), Vô Ngôn Thông, người Trung Quốc (mất năm 826), Thảo Đường, người Trung Quốc (mất 1069).
    Thiền sư Hiện Quang (người khai sơn chùa Hoa Yên- Yên Tử), Quốc sư Trúc Lâm, Đại Đăng, thiền sư Tiêu Diêu, Tuệ Trung Thượng Sĩ… đã mở đường cho Trần Nhân Tông sáng tạo Phật giáo mang tinh thần quốc gia Đại Việt.
Thiền Trúc Lâm Yên Tử mang bản sắc Phật giáo Việt Nam, tồn tại độc lập và uy tín như Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Trung Quốc, Phật giáo Nhật Bản… Hơn bảy trăm năm nay, thiền Việt Nam với thiền Trúc Lâm Yên Tử như một dòng chảy văn hóa tâm linh, tràn ngập sức sống thiền luôn đồng hành cùng dân tộc (mặc dù, từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX Khổng giáo đã thay thế vai trò quốc đạo của Phật giáo Lý- Trần).
    Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, hòa thượng Thích Thanh Từ đã phục hưng thiền Trúc Lâm Yên Tử rực rỡ với hàng chục thiền viện Trúc Lâm ở khắp trong, ngoài nước để nghiên cứu, thực hành, truyền dạy Phật tử thiền ở ngay trong lòng mình, Phật tại tâm, xoay lại tìm mình, giác ngộ trong đời sống thực tại, sống thiện, yêu thương, không mê lầm sa vào tội ác…
    Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Hoa truyền sang Việt Nam, được nuôi dưỡng bằng chính sự sống của dân tộc, nên đã hình thành nền tảng văn hóa Phật giáo Việt Nam với sắc thái triết học- nghệ thuật Phật giáo. Các loại hình nghệ thuật được nhân dân ta sáng tạo, chuyển tải hệ thống triết học Phật xuất hiện ngay sau khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam. Nghệ thuật của Phật giáo hết sức phong phú, đa dạng, nhiều loại hình: thơ, văn, nhạc, họa, ca múa, kịch, tuồng, chèo, điêu khắc, khắc gỗ, chạm trổ, kiến trúc chùa, đúc chuông đồng, tượng đồng… diễn ra không ngưng nghỉ suốt hàng ngàn năm nay.
    Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi bàn về Vẻ đẹp tham thiền của những pho tượng chùa Sùng Nghiêm (chùa Mía) tọa lạc ở xã Đường Lâm, huyện Ba Vì- Hà Nội.

    2. Thiền là gì?

    Những người đã ngộ thiền đều hiểu- không thể dùng ngôn từ để định nghĩa thiền là gì? Bồ Đề Đạt Ma (khoảng 470- 534) từ Ấn Độ đến Trung Quốc truyền bá thiền với tinh thần: tự thoát khỏi những khái niệm; tự thể nghiệm; thực hành, tâm truyền tâm; không bám víu vào hình thức, sách vở hay ngoại lực với bài kệ:

                               “Bất lập văn tự
                               Giáo ngoại biệt truyền
                               Trực chỉ chân tâm
                               Kiến tánh thành Phật”

    Thiền Trúc Lâm Yên Tử quan niệm phật tại tâm. Ai cũng có Phật tính và dạy mọi người tu “Phản quan tự kỷ” (xoay lại tìm mình), sống bình an, vững vàng theo cái tâm trong sáng của chính mình. Trần Nhân Tông trong bài “Cư trần lạc đạo phú” viết:

                              Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
                              Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
                              Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
                              Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

Dịch:

                              Ở trần vui đạo hãy tùy duyên
                              Đói đến thì ăn, nhọc ngủ liền
                              Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
                              Đối cảnh không tâm, chớ hỏi thiền

    Thế kỷ XXI thiền được truyền dạy theo ngôn ngữ hiện đại. Theo thiền sư Thích Nhất Hạnh, thiền là sự tỉnh thức trong từng bước chân, nắm lấy hơi thở, kiểm soát được tâm, ý, sống với hiện tại, an lạc mọi lúc, mọi nơi. Ông viết “Rửa bát cũng là thiền”.
    Đạo sư Ấn Độ Jiddu Krishnamurti (1895- 1986) viết: “Tham thiền không phải là một sự trốn tránh thế gian, đó không phải là một hoạt động cô lập tự khép mình, mà- đúng ra- là sự thấu hiểu thế gian cùng những phương thế hoạt dụng của nó…Tham thiền là sự khơi mở cái mới, là sự tìm về cõi tinh khôi không bợn những dòng định kiến, suy tưởng xếp nếp…Cho nên tham thiền là một vận hành không bao giờ chấm dứt để tâm hồn chúng ta thực sự rộng mở, ôm trọn vẻ đẹp thuần khiết và tình yêu cao vời của cuộc sống”. (Tham thiền vẻ đẹp của tình yêu- NXB Lao Động- 2007)

    3. Vẻ đẹp tham thiền của những pho tượng chùa Sùng Nghiêm:

    Chùa Sùng Nghiêm, dân gọi thân thương là chùa Mía, được xây dựng vào thời Trần. Đến thế kỷ XVII, bà Nguyễn Thị Rong, vợ Chúa Trịnh Tráng tức bà Chúa Mía đã cho xây dựng lại. Văn bia ở chùa cho biết chùa được trùng tu lớn vào năm 1632. Chùa hiện nay có 287 pho tượng. Nhiều pho tượng là những tác phẩm điêu khắc nổi tiếng như tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Âm tống tử, tượng Bát bộ Kim Cương, tượng Thập bát La Hán…
    Chùa Mía rợp bóng những cụ đa không có tuổi, mái nâu trầm thấp cong như áng mây lành tụ giữa đồng quê xanh ngô lúa. Bên trong, chùa thơm hương khói, ấm mát, ôm ấp sức sống thiền Việt Nam từ dáng ngồi tham thiền của hàng trăm pho tượng. Từng bước chân ta, hơi thở của ta ở nơi đây, như chạm vào cõi thiền an tịnh, im lặng nối mình đến vô biên.
    Pho tượng Tuyết Sơn ngồi tu khổ hạnh ở đây đã bao nhiêu kiếp, mà dáng ngồi vững chắc như bàn thạch (Tuyết Sơn gợi về núi Tuyết tức là núi Hy- mã- lạp- sơn, nơi Phật tu khổ hạnh sáu năm trời). Tượng Tuyết Sơn ngồi thiền trên tảng đá, chống chân trái, tay trái để lên đầu gối trái, tay phải để lên đầu gối phải ngả sát tảng đá. Tà áo không lành khoác hờ vai trái, để lộ bộ sườn gầy lép, nổi rõ từng cái xương sườn, đốt sống ngực, xương cổ, xương ống chân, ống tay dài ngoẵng, các đốt ngón tay, ngón chân xù xì. Gương mặt hóp, in từng chỗ lồi lõm của xương mặt, tai phải to, dài, tai trái không nhìn thấy, đôi mắt trũng sâu, mở một phần ba, tầm nhìn không quá sáu tấc, lưng thẳng vừa phải… Dù thân xác bị kiệt quệ, nhưng tượng Tuyết Sơn như tỏa hào quang của sự im lặng tuyệt đối, của sức mạnh tinh thần, của năng lượng bình an vĩnh hằng. Đó là sức mạnh của thiền. Thể xác có thể bị hủy diệt, nhưng năng lượng tinh thần mà thiền đem lại, không gì phá vỡ nổi.
    Tượng Bát bộ Kim Cương ở chùa Mía được điêu khắc tinh tế, tám vị, mỗi vị cầm vũ khí trong một dáng diệu, tư thế khác nhau. Nhưng tất cả hợp lại thành một vũ điệu uyển chuyển trong không gian, như vờn mây, đuổi gió, như cảm hóa kẻ thù, tà ma, ác quỉ. Gương mặt họ bừng lên vẻ dũng mãnh, nhưng lại bình thản, tự tin, không tỏ ra bạo lực, hung tàn, hoặc sợ hãi. Tượng Bát bộ Kim Cương chùa Mía trong tư thế tham thiền, tỉnh thức, họ chiến đấu, bảo vệ, chính bằng sức mạnh của thiền, không phải bằng vũ khí.
    Tượng Thập bát La Hán. Mười tám vị, mỗi vị xuất thân khác nhau, có cuộc đời riêng khác nhau, tính cách khác nhau, lối tu hành cũng khác. Có ông ăn mặc nghiêm chỉnh, ông xuềnh xoàng, ông khỏe khoắn, vung vẩy cây gậy… Tượng Thập bát La Hán chùa Tây Phương nổi tiếng về nghệ thuật khắc họa tính cách từng vị La Hán một cách sinh động. Và người ta nhìn vào từng vị La Hán chùa Tây Phương, thấy hiện ra những con người trầm tư suy nghĩ, nhưng bất lực, mà xa xót kêu lên: “ Nung nấu tâm can, vò võ trán. Đau đời có cứu được đời đâu.” (Thơ Huy Cận).
Ngược lại, chúng ta tìm thấy tượng Thập bát La Hán chùa Mía tràn ngập ánh sáng thiền, giúp tâm ta tĩnh lặng, sau những bước đi qua bể khổ trầm luân. Các vị ăn mặc khác nhau, cùng dáng áo nâu thiền, nhưng vị hở cổ, vị hở cái bụng tròn lẳn, vị thì hở tay, vị nghiêm trang… Các vị được khắc họa trong tư thế tham thiền, dáng điệu mỗi ngưỡi một kiểu, vị giơ tay phải, người giơ tay trái, vị ôm đầu gối, vị trỏ ngón tay, vị ngồi xếp bằng, vị chống một chân lên... Gương mặt các vị cũng không giống nhau, người mặt tròn trái xoan thiếu nữ, người mặt bầu bĩnh, vị thanh tú nam nhi, chỉ đôi tai Phật là giống nhau như đúc. Ta vẫn nhận ra từ nét riêng của những pho tượng Thập bát La Hán ấy, một khuôn hình chung là vẻ đẹp tham thiền. Gương mặt Thập bát La Hán chùa Mía lặng im bình thản, trong như nước hồ thu. Đôi mắt họ vẫn mở to nhìn cuộc đời. Ngoài kia, cánh đồng lúa xanh bát ngát. Từng đám người lom khom bón phân, cào cỏ. Trong làng, những cụ già đói khổ lo âu, bệnh tật dày vò. Những đứa trẻ khát sữa. Tiếng chó sủa, gà kêu… Ngoài biên ải, tiếng người la hét, súng nổ, máu chảy, đầu rơi… Hỏi các vị La Hán có đau đời không mà cứ lặng yên làm vậy? Đời đục, mà sao gương mặt họ cứ bình thản, sáng trong như thế?
Đừng trách họ không đau đời, lánh xa trần thế. Họ đang thực hành một sự yên lặng phi thường. Yên lặng để quan sát, hiểu, cảm thông và yêu thương, dẫn dắt nhân gian hãy tỉnh thức. Đời người là vô thường. Vũ trụ vô thường. Kiếp người ngắn như hơi thở mà tham, sân, si như những quả núi lớn đè sập xuống. Hãy im lặng mà tỉnh thức. Giảm tham, sân, si. Không bạo lực. Không thù hận. Loài người hãy, sống với nhau bằng trí tuệ và yêu thương.

    4. Kết luận:

    Vẻ đẹp tham thiền từ các pho tượng chùa Mía chỉ là một minh chứng thể hiện trong nghệ thuật Phật giáo Việt Nam. Vẻ đẹp này hiện hữu ở tất cả các pho tượng trong những ngôi chùa Việt Nam mà chúng ta chưa có dịp khám phá. Điều này dẫn đến kết luận: Thiền Việt Nam từ thực hành đến nghệ thuật đã đạt được thành tựu to lớn mà thế giới phải ghi nhận.
    Một ông vua, bỏ quyền lực, bạc, vàng, gái đẹp… đi tu thành Phật, và sáng lập Thiền phái Việt Nam. Nhiều thiền sư tu thiền đạt đạo. Thiền sư Vũ Khắc Trường thế kỷ XVII và một số thiền sư đã thiền để bảo toàn được nhục thân, không bị thời gian tiêu hủy… Nhiều thiền sư nhờ thiền mà tài năng tâm đức tỏa sáng cho cộng đồng Việt Nam và thế giới như: Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ…
    Giá trị của thiền nói chung và thiền Việt Nam vô cùng to lớn. Chúng tôi mong muốn thiền sẽ được truyền bá rộng rãi trong cộng đồng, nhất là trong các gia đình và giới trẻ học đường. Bằng kinh nghiệm nhiều năm dạy Văn hóa Hà NộiĐại học Thăng Long, tôi nghĩ dạy thiền không khó. Giới trẻ, đặc biệt là sinh viên tiếp thu thiền rất nhanh. Đơn giản là từng cá nhân thấu lẽ vô thường, xoay lại tìm mình, tỉnh thức mọi lúc, mọi nơi, nắm gữi hơi thở, kiểm soát được tâm ý, an lạc từng bước chân, giờ nào việc ấy, sống với hiện tại, giảm tham, sân, si, không đánh mất mình, biết quản lý, chăm sóc bản thân, không bị tác động bên ngoài lôi kéo…

Ghi chú: Nguồn tư liệu tham khảo của chúng tôi trong bài viết này là sách của thiền sư Thích Thanh Từ, Thích Nhất Hạnh và các sách nghiên cứu Phật giáo Việt Nam…

(Bài tham gia hội thảo khoa học về Nghệ thuật của Phật giáo Việt Nam do Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam tổ chức tại Hà Nội- 2007)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 04.5.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn