Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Văn Bia Của Vua Lý Công Uẩn



Báo Nhân Dân cuối tuần (số ra ngày 1-3-2009) giới thiệu bản dịch của Tiến sĩ sử học Mai Hồng về Một áng văn đặc sắc của Lý Công Uẩn mới được phát hiện, làm xúc động lòng người.

Đó là bản văn “Lý triều Thái Tổ Hoàng đế ngự chế Bùi gia Thái Tổ sự trạng bi văn” (Bài ngự chế bia ký về công tích vị Thái tổ họ Bùi của Hoàng đế Thái Tổ triều lý) do cụ Nguyễn Tiến Đoàn, một nhà Hán học, nguyên cán bộ Quân đội hưu trí, hiện ở xã Vũ Trung- Kiến Xương- Thái Bình dày công tìm tòi hàng chục năm, trong những cuốn gia phả họ Bùi, phát hiện.

Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng

    Thiên sách thượng tướng Trinh quốc công Bùi Quang Dũng sinh giờ Thìn ngày 10 tháng giêng- Nhâm Ngọ
( năm 922) trong một gia đình nông dân nghèo ở đất Phong Châu, Bạch Hạc- Phú Thọ. Từ trần tại nhà riêng vào giờ Dần, ngày 13 tháng 6 năm Mậu Ngọ (1018) năm Thuận Thiên thứ 9 nhà Lý, hưởng thọ 97 tuổi.
Lúc còn nhỏ, ông có tư chất thông minh khác người, hiếu thảo với cha mẹ, lễ phép với bề trên, thuận hoà với bè bạn nên được mọi người qúy mến. Ông học rộng, hiểu nhiều, lớn lên trí dũng toàn tài, tinh thông Binh, Nông, Văn, Võ.
Năm 944. Ngô Quyền mất. Nước ta lâm vào cảnh loạn 12 sứ quân. Các thế lực nổi dậy, mỗi người hùng cứ một vùng. Các sứ quân Ngô Xương Xí, Đỗ Cảnh Thạc, Kiều Công Hãn biết tiếng Bùi Quang Dũng, đã cử người đến cầu hiền, thuyết phục ông và mời ông ra hợp tác với họ. Bùi Quang Dũng một mực từ chối vì ông cho rằng họ không phải là bậc minh chủ.
    Năm Đinh Mão (967), biết Đinh Bộ Lĩnh là người cương trực, mưu lược và chí lớn, ông đã tìm đến và ra mắt Đinh Bộ Lĩnh, lúc đó ông đã 45 tuổi. Ông đem tài năng của mình, cùng với Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Lưu Cơ, Trịnh Tú... dốc lòng phò tá nhà Đinh, thống nhất đất nước, lập nên triều đại nhà Đinh.
Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước Đại Cồ Việt đóng đô tại Hoa Lư- Ninh Bình.
Năm Mậu Thìn (968). Đinh Bộ Lĩnh ban thưởng tướng sĩ, phong Bùi Quang Dũng là Anh Dực tướng quân, sung Điện tiền Đô chỉ huy sứ kiêm Thiêm sự.
    Năm 971. Vùng Kỳ Bố, Ngô Văn Kháng nổi loạn, triều đình cử quân đánh dẹp nhưng thất bại. Vua cử Bùi Quang Dũng cầm quân. Bằng uy đức của mình, ông đã dụ hàng Ngô Văn Kháng. Vua Đinh phong Bùi Quang Dũng là Trấn Đông Tiết độ sứ, Tổng thống kiêm lý ba đạo, được đóng quân ở thành Kỳ Bố; sau lại thăng Đặc khai quốc Thiên sách Thượng tướng, tước An Tĩnh hầu và truy tặng thân phụ ông là Khải Tá hầu.
    Bùi Quang Dũng khai khẩn đất hoang ở ven sông Lãng Bạc và sông Cái (sông Trà Lý ngày nay), biến vùng đất hoang vu thành làng xóm đông vui, đồng ruộng tươi tốt. Đất ông được vua ban gọi là ấp Hàm Châu. Ngoài Hàm Châu, ông lập ra tám trại khác (nay thuộc địa bàn huyện Vũ Thư và TP Thái Bình). Cảm tạ công lao của ông, dân các làng đều đặt tên làng mình là Bùi Xá.
    Khi Đinh Bộ Lĩnh bị hành thích, Lê Hoàn lên làm vua. Giặc Tống nhân Đại Việt có biến, đem quân xâm lược. Sau chiến thắng chống Tống (981). Bùi Quang Dũng lui về ở ẩn trong động Trinh Thạch. Ông không phò vua Lê Hoàn.
Năm Kỷ Dậu (1009). Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập ra triều Lý. Thái Tổ ba lần cho người vời nhưng Bùi Quang Dũng đều thoái thác.
    Năm Thuận Thiên thứ 2 (triều Lý Thái Tổ). Vùng Kỳ Bố Hải Khẩu có giặc. Triều đình ba lần đánh dẹp nhưng đều bị bại. Tướng Nguyễn Uy dò biết lòng dân đều tri ân Bùi Quang Dũng, bèn tấu về triều.
Lý Thái Tổ lại viết thư, sai Nguyễn Uy đem đến động Trinh Thạch mời ông về triều và nói rõ sự tình ở Kỳ Bố. Lúc này, dù đã 60 tuổi Bùi Quang Dũng mới chịu xuất thế. Về kinh, ông được vua hậu đãi, ban hiệu là "Minh Triết Phu Tử", đối xử như thầy. Vua lại phong chức cũ thời Đinh của ông cho con trai ông là Bùi Quang Anh. Hai cha con Bùi Quang Dũng được phái về Kỳ Bố dẹp loạn. Khi ông tới nơi, giặc kéo nhau ra hàng.
    Bùi Quang Dũng mất năm Thuận Thiên thứ 9 (1018), thọ 97 tuổi. Lý Thái Tổ sai Bộ Lễ làm lễ cử ai và truy phong là Trịnh Quốc Công. Tháng 8 năm ấy, vua ngự đề văn bia Sự trạng ông; ngày 12-8, giao Thái sư Khuông Việt chép bản ngự chế lên bia đá. Thợ khắc đá Phạm Công Thắng vâng mệnh vua khắc bia. Sau đó, vua Lý cho người đem về từ đường ông ở ấp Hàm Châu để thờ.
    Năm Thuận Thiên thứ 11 (1020), nhân đi tuần phòng phía đông, vua đến vùng Kỳ Bố và về ấp Hàm Châu viếng mộ ông. Tại từ đường thờ Bùi Quang Dũng, Thái Tổ ngự đề đôi câu đối:
                           "Không thờ hai vua, tiếng trung liệt cao vời vợi, động Trinh Thạch 30 năm lừng tiếng.
                        Hết sức giúp nền thống nhất, chí khí ngay thẳng vang dội, ấp Hàm Châu vạn cổ vẫn còn".
    Sau khi về kinh, Lý Thái Tổ còn xuống chỉ cho họ Bùi ở Hàm Châu ba ngôi cấm địa (nơi chôn cất Bùi Quang Dũng và song thân). Thời Trần Thái Tông, Lê Thái Tông, cũng có chỉ cho họ Bùi ba ngôi cấm địa nguyên như trước. Lê Thái Tông còn ban chữ: "Bùi thị hưng gia Thái tổ".

Văn bia ngự chế của vua Lý Công Uẩn

    Bản văn ghi rõ: “Ngày 12 tháng 8 nhuận, năm Thuận Thiên thứ chín (1018) Ngự chế thái sư Khuông Việt (thần) Lý Pháp Chân vâng mệnh chép, thợ khắc đá Phạm Công Thắng vâng mệnh khắc bia”.
    Tuy tấm bia chưa tìm thấy, nhưng với tính cẩn trọng khoa học, nghiên cứu từ văn bản, cụ Nguyễn Tiến Đoàn và nhiều nhà khoa học xác định chắc chắn đây chính là bản văn bia ngự chế của vua Lý Công Uẩn.
Tiến sĩ Mai Hồng đọc bản chữ Hán văn bia ngự chế của nhà vua anh minh Lý Thái Tổ với tình cảm trang trọng, linh thiêng, ngưỡng mộ, cẩn trọng, nghĩ suy từng chữ, để bản dịch của mình chuyển được cái hồn văn chương Vương Đạo, hào khí, đầy trí tuệ, đa tầng, đa giọng điệu, tràn tình cảm và tấm lòng chuộng hiền tài của Đức vua.
    Đọc bản dịch, ta như thấy Đất- Trời Thăng Long- Hà Nội linh thiêng hào hoa hôm nay bỗng vang ngân tiếng nói sang sảng, khoan thai, mở đường, chỉ lối ngàn năm, về cách ứng xử với hiền tài trong công cuộc mở nước và dựng nước của Đức vua Lý Công Uẩn.
    Bài văn bia của Đức vua không chỉ ngợi ca công tích vị quan Đặc tiến khai quốc Thiên sách thượng tướng, Minh Triết phu tử, Trinh quốc công Bùi Quang Dũng triều Đinh thủa trước, mà qua đây, Lý Công Uẩn chỉ ra một một tư tưởng, một con đường lâu bền cho các bậc đế vương.
    Mở đầu, Lý Công Uẩn viết: “Trẫm cho rằng công cuộc mở nền dựng nước dù là chủ trương của bậc nhân quân, song việc dẹp loạn binh nhung phần lớn trông cậy vào sự nỗ lực của các tướng soái tài ba. Từ xưa đến nay đều như thế. Đó là và cũng là thế vậy”.
    Đức vua định vị kẻ trung thần là ai?
    “Tuy nhiên ở vào thời thái bình thịnh trị, bổn phận làm bề tôi tốt thì dễ. Nhưng nếu ở vào cái thế cục bế tắc điên đảo, mà làm kẻ trung thần mới khó. Huống chi ở vào tình thế khó khăn mà tìm được trung thần lại càng khó. Tìm được bậc trung thần, mà người đó lại biết bảo toàn sinh mạng thì lại càng khó hơn nhiều”.
    Trong buổi đầu dựng nước khó khăn, bậc trung thần đáng kính, đáng nể phục, tôn thờ ấy đã xuất hiện, phò vua Đinh Bộ Lĩnh. Đó là Bùi Quang Dũng.

Công thần thời “bế tắc, điên đảo”

    Bằng giọng văn cô đọng, trân trọng, hào sảng ngợi ca, Lý Công Uẩn kể chuyện cuộc đời Bùi Quang Dũng, trong cái nền thời cuộc “bế tắc, điên đảo”. Người dùng chữ “Mỗ” một cách thân thiện, để chỉ Bùi Quang Dũng trong văn bia:
    “Mỗ vốn thuộc dòng giống Tiên Rồng đất Việt, là nòi hổ tướng trời Nam, là khí thiêng của đất trời hun đúc, bẩm thụ tính tinh anh của núi sông. Văn tài, võ lược siêu quần, uy nghi xuất chúng… Ban đầu hai sứ quân Ngô Kiều từng triệu mấy lần, Mỗ đều lấy cớ là con nhà nông, chỉ biết việc đồng áng mà không tường thế sự, kiên quyết không theo. Khắp châu quận, ai cũng nể phục tiết tháo áo.
    Sau về với Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp mười hai sứ quân… Oai hổ đánh đông dẹp bắc… Thiên hạ đều ngợi ca là bậc anh hùng hào kiệt… Đinh Tiên Hoàng thống nhất giang sơn một mối, bước lên chín bậc cửu trùng, lấy Mỗ từ chức Anh Dực tướng quân sung vào Điện tiền chỉ huy sứ. Thế rồi bọn giặc bể ở Kỳ Bố lại khởi loạn, Mỗ lại được xung chức Trấn Đông tiết độ sứ. Mỗi khi Mỗ tới thì giặc biển liền tan… Chiến công lẫm liệt, huân danh lẫy lừng của Mỗ hiện ra trước tai mắt mọi người, ai ai cũng thấy.
    Kịp khi Lê Đại Hành cướp ngôi (nguyên bản chữ Hán “thoán ngôi”). Đinh Điền, Nguyễn Bặc mật đưa thư tới báo, Mỗ biến sắc, tức tốc đề binh lên đường, tới nơi thì hai người đều đã tử tiết. Mỗ liệu sức mình đơn độc khó bề chống chọi, bèn lui vào động Trinh Thạch tự thủ, ôm nỗi niềm cô trung… Tinh thần trung dũng quả cảm ấy của Mỗ thực đã biểu lộ cái tầm nhìn xa rộng của Mỗ về thế gian này…”
    Giọng văn kể chuyện bỗng chuyển sang lời tự sự chân thành của Đức vua:
    “May thay, trẫm được trời rủ lòng thương mến, lấy khoan dung để thay bạo ngược, lặng lẽ thuận tình, hành sự chí công, vỗ về trăm họ. Chiếu thư mời gọi ba lần mà Mỗ vẫn chưa chịu về triều, trẫm rất lấy làm ái mộ đức tính kiên trung ấy lại càng đáng khen cho khí tiết thanh cao của con người ấy. Bấy giờ có giặc lại nổi loạn ở của biển Kỳ Bố rất ngông cuồng tàn bạo, trẫm đã ba phen khiển tướng chinh phạt mà chưa dẹp yên được… Sai tướng Nguyễn Uy đến, giặc chẳng để tâm… Giặc liền hát câu vè: “Uy đến chẳng đáng sợ/ Dũng đến tự nhiên kinh”… Trẫm bèn sai Nguyễn Uy thảo thư đưa vào động, nói rõ sự thực còn dặn thêm Uy: Hãy tìm lời dụ Mỗ. Mãi tới lúc ấy, Mỗ mới chịu nghe lời trẫm về triều. Trẫm vội lấy lễ khách bậc thầy để tiếp đãi với bái hiệu là Minh Triết phu tử. Nhân đó Mỗ liền tiến cử người con trai của mình là Bùi Quang Anh cho trẫm. Trẫm lấy nguyên chức ngày xưa mà phong tặng Anh Dực tướng quân, trấn Đông tiết độ xứ, phái đi trấn thủ miền đất Kỳ Bố… Mỗ cùng người con trai của mình là Bùi Quang Anh đồng hành. Vừa về đến nơi thì giặc đã tự tới đầu hàng. Thấy rõ uy đức của Mỗ đến như thế, trẫm càng tăng lòng hâm mộ”.

Đức vua anh minh trọng đãi hiền tài

    Lòng hâm mộ của Lý Công Uẩn với hiền tài còn hiện ra ở thái độ Đức vua chăm sóc tận tình Quốc công Bùi Quang Dũng lúc tuổi già, ốm đau, khi về chín suối. Đó là tình thương yêu con người với con người, và tấm lòng tri ân đãi ngộ hiền tài, khó tìm thấy ở những ông vua.
    Vua Lý Công Uẩn viết:
    “Tới nay Mỗ thọ 97 bị dốc bệnh từ tháng trước, trẫm lệnh đình thần chăm lo thuốc thang trị liệu, viết thư ân cần thăm hỏi, lại cũng không quên hỏi han về việc hậu sự. Mỗ có lời đáp rằng: “Trong câu sấm Thập Bát Tử (tức là chữ Lý) xã tắc truyền gia thì thần thích nhất chữ “Bát”, lại dặn thêm: “Ngày sau nếu triều đình hữu sự thì trẫm có thể sai khiến sử dụng đứa cháu của Mỗ”. Lời nói ấy cứ âm vang mãi bên tai trẫm; đinh ninh mãi trong tim trẫm. Trẫm nghĩ cử chỉ ấy của Mỗ chính là một tấm gương để các tôi thần của trẫm này soi chung vậy”.
    Khi nhận tờ cáo phó “Khai quốc Thiên sách thượng tướng Tinh an hầu Minh Triết phu tử Bùi tướng công triều Đinh ngày trước tạ thế” Vua Lý Công Uẩn bùi ngùi thương tiếc triều Lý mất đi một triết nhân. Vua lệnh triều đình giảm ăn uống, bớt vui chơi, lo tang lễ, ban thêm công trạng, phong mỹ tự cho Bùi Quang Dũng: “Cương nghị, bất khuất, chính trực, không a tòng.
    Và Đức vua Lý Công Uẩn đã khóc họ Bùi thống thiết, truyền nghìn năm một tấm lòng ông vua yêu mến hiền tài:

Ô hô! Mỗ hiếu trung vẹn cả hai đường
Tiết nghĩa song toàn hai chữ

    Đó quả là điều hiểm thấy, hiếm nghe bậc nhất từ cổ chí kim ở thế gian này. Trẫm mong cho tính danh của Mỗ sẽ bất tử; hơn nữa nó là tấm gương cho các thế hệ bề tôi của trẫm mãi về sau soi vào. Cầu mong trời đất hãy chứng giám cho đức tính trung liệt của Mỗ, giúp cho con cháu nhà họ Bùi này đời đời luôn có anh tài xuất hiện, để giúp đỡ vua nước Nam ta, bảo vệ giữ gìn nước Nam ta.
    Đó chính là điều trông đợi sâu xa của quả nhân vậy”.
    Đọc bản văn bia của Thái Tổ Lý Công Uẩn, nghe câu hát ngân nga: “Nghìn năm sau ta nhớ bóng quay về” chúng ta như thấy Đức vua Lý Công Uẩn đã quay về, tấm lòng chuộng hiền tài của Người hiển hiện từng câu, từng chữ, tỏa nhân cách của bậc minh quân sáng nghìn năm.
    Bởi chỉ có một Đức vua trọng hiền tài, yêu dân, yêu nước, đến mức hiếm thấy như Lý Công Uẩn, thì một hiền nhân “Cương nghị, bất khuất, chính trực, không a tòng” như Bùi tướng công mới được yêu mến, trọng dụng và hiến dâng. Cụm từ “Không a tòng” do tiến sĩ Mai Hồng chuyển nghĩa là cực kỳ hay và đắt giá.

Hồ Gươm Mùa Hoa Sen 2014.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 26.4.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn