Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







VÕ SĨ ÐẠO






Cuốn Sách về Kiếm Ðạo”

Trong những chiến binh Nhật Bản vào thế kỷ XVII, Miyamoto Shinmen Musashi, tác giả “Cuốn sách về Kiếm Ðạo” nổi tiếng trong ba thế kỷ nay, lại còn là một nhà văn, nhà nghiên cứu kiếm đạo.
Ông là một kiếm sĩ bậc thầy trong suốt cả thế kỷ XVII, điều nầy có nghĩa ông cũng là người lính, một chiến binh trong hàng ngũ Samurai, phục vụ dưới quyền của một Daimio, luôn luôn đối mặt với sự sống và sự chết. Lịch sử kể lại: Suốt 36 năm trên đường chinh chiến, ông ta chưa bao giờ thất bại. Những kinh nghiệm đó đã được trình bày trong “Cuốn sách về Kiếm đạo”, được truyền tụng cho đến ngày nay.
Cả đến khi giới Samurai đã bị giải thể (1867), sách nầy được hiểu sang ý nghĩa về kinh tế, thương mải, giao dịch hàng hoá, mua bán với nước ngoài.
Trong phần Nhập đề, ông viết:
Một Samurai có nhiều thủ pháp chiến đấu khác nhau để thủ thắng. Ðó cũng là một nghệ thuật, nghệ thuật tìm cái sống bên cái chết. Phương pháp Kiếm đạo của Nhật Bản giúp đạt được thành công trong những tình huống hiểm nghèo. Theo nghĩa đen là giữa cái sống và cái chết, bạn không thể để xẩy ra những lỗi lầm.
Ở tình huống căng thẳng mặt đối mặt với kẻ thù, tâm lý thường thấy là lo sợ, băn khoăn, hoang mang, bối rối khi phải làm điều gì đó, hay sử dụng đường kiếm như thế nào để thủ thắng. Biểu hiện tâm lý lo sợ là đổ mồ hôi, run sự, nhu nhược, chưa nói đến tình trạng tê lịêt.
Những phản ứng như vậy chỉ rượt cái chết. Bạn chắc chắn lả sẽ bị bổ ra làm đôi. Kiếm đạo sẽ giúp bạn chuẩn bị trước cho bất cứ một cuộc đấu nào đó trong đởi của bạn. Ðấu về thể xác cũng như đấu về tinh thần. Kiếm đạo sẽ cho bạn công cụ để giúp cho bạn có ưu thế và giành chiến thắng. Ðối với những người chấp nhận sống trong thế giới nơi sự chiến thắng và sự thất bại được xét đến đầu tiên; khi đó, Kiếm đạo sẽ chỉ cho con đường chiến thắng”

Thiền và luyện kiếm

Cũng như những sinh hoạt văn hoá khác của Thiền tông như Trà đạo, Hoa đạo, Thư pháp, Thi pháp... có thể thực hiện theo hai cách: “Tĩnh” và “động” để luyện Thiền. Cái “tĩnh” được mô tả là ngồi xuống, tập trung suy nghĩ và thư giãn. Còn về “động” là điều được bàn đến trong Kiếm đạo.
Ðây chính là cách rèn luyện bản thân mình. Nhiệm vụ của Thiền, theo Suzuki, một trong những người đề xướng Thiền trên đất Mỹ, đã viết như sau: “... ngạc nhiên, và để trả lời sự ngạc nhiên đó bằng những biểu hiện sâu thẳm nhất trong bản ngã của chính bạn...”
Các hình thức thể hiện nghệ thuật Thiền như Sumiye (tranh vẽ bằng cọ), Ikebana (nghệ thuật cắm hoa), Haiku (thơ ca) là những thể hiện cổ điển của Nhật Bản về Thiền. Nổi tiếng hơn và được biết đến bên ngoài đất Nhật là các nghệ thuật chiến đấu như Kendo, Iaido, Judo, Shorinji và Kempo đều dựa trên việc rèn luyện Thiền.
Thoạt mới nghe, có vẻ như võ thuật không thích hợp với những mô tả trước đây về sự thư giãn, yên tĩnh, toạ Thiền, suy tư hay triết lý nhân từ. Nhưng hãy thử suy nghĩ dưới góc độ khi mà một phản ứng thích hợp và nhanh chóng là rất cần thiết trong một cuộc đấu quan trọng.
Ở đây, muốn chiến thắng cũng vận dụng sự bình tĩnh, sáng suốt, bén nhạy, mà tất cả những đức tính nầy được huân tập từ trước do những buổi kiên trì trong Thiền định.
Thiền là luyện sao cho thân thể và tâm trí hợp nhất với nhau”... Bước đầu là những kỹ thuật được luyện tập nhiều lần, đến nỗi nó trở nên chủ quan hóa và bị “lãng quên”, sau đó thì tùy tiện sử dụng nó trong cách “vô chiêu thắng hữu chiêu”.
Chính việc hoàn thiện kỹ thuật đã làm cho tâm trí hoà quyện với thân thể.
Ðiều nầy đồng nghĩa với ý thức tự giác, kỷ luật, bền bỉ, kiên trì, khiêm tốn và ngoan cường.

Những đặc trưng của Samurai

Samurai là những hiệp sĩ Nhật Bản, thường được ví như những hiệp sĩ thời Trung Cổ tại châu Âu. Ngày nay, Nhật Bản là một đất nước giàu mạnh, công nghiệp hoá cao cho nên tinh thần Samurai cũng được thực hiện trên một nền tảng khác xưa nhiều.
Vào thời Samurai, đất nước nầy chỉ là một quần đảo ngoài khơi, người dân sống chủ yếu bằng nghề đánh cá và trồng trọt. Samurai xuất hiện từ thế kỷ XII (1192), hưng thịnh từ thế kỷ XII, dưới chế độ Mạc Phủ và tồn tại cho đến thế kỷ XIX (1867).
Cũng giống như các hiệp sĩ thời Trung Cổ châu Âu, những Samurai thường đặt danh dự của mình lên trên hết. Họ gọi danh dự nầy bằng danh từ "Bushido" có nghĩa là "Đường đi của chiến binh" (Võ sĩ đạo) .
Các Samurai tin rằng: Họ phải vâng lời vô điều kiện cấp chỉ huy của mình vốn là những nhân vật anh hùng như huyền thoại. Sự trung thành nầy còn vượt lên trên cả tình bằng hữu hay mối liên hệ gia đình.
Một Samurai phải luôn luôn ở trong tình trạng báo động và sẵn sàng chiến đấu vì chủ nhân của họ. Anh ta sẵn sàng chiến đấu để hy sinh cho chủ.
Một Samurai phải xông ra những trận chiến vô cùng ác liệt và sự rèn luyện hàng ngày về khả năng chiến đấu cũng như tinh thần dũng cảm kiên cường cũng để chiến thắng trong những trận chiến đó. Anh ta không được rút lui nếu chưa có lệnh và không bao giờ tự cho phép bản thân của mình bị bắt làm tù binh.
Muốn vậy, họ dùng cách tự sát mổ bụng để giải quyết sự thất trận. Một Samurai đòi hỏi phải có sự hoàn hảo về danh dự trên chiến trường cũng như trong cuộc sống hàng ngày.
Người Samurai cũng làm thơ, viết lách, dùng thư pháp và cả những điệu múa cổ truyền. Đôi khi Samurai phải tự biết kết thúc cuộc đời mình, nếu tự anh ta cảm thấy mình đã đánh mất danh dự. Anh ta có thể cắt dạ dày của chính mình theo một nghi lễ "Seppuku", nghi lễ nầy thường được gọi là "Hara-kiri" (Mổ bụng tự sát). Khi đã moi xong dạ dày, một người bạn sẽ nhanh chóng cắt đầu anh ta bằng một lưỡi gươm sắc đặc biệt. Một Samurai sẽ tự kết thúc đời mình, nếu anh ta biết rằng mình sắp bị bắt hay người chủ ra lệnh trái ngược với nhận thức của anh ta.
Những thanh gươm "Seppuku" được làm rất đẹp và những người làm ra chúng rất được coi trọng. Thanh gươm "Tachi" được trang trí bằng những đồ trang sức, đồ sơn mài, kim loại quý là một thí dụ khác về những kỳ xảo tuyệt vời của những người thợ.
Tất cả Samurai đều được huấn luyện về môn bắn cung và đấu kiếm. Họ là những kỵ sĩ thiện nghệ và họ cũng chăm sóc ngựa rất chu đáo. Samurai còn là những chuyên gia về môn "vỏ tay không" như loại võ Jujutsu.
Thanh gươm của Samurai là thanh gươm đẹp nhất so với các loại khác được làm ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Samurai thường có 2 thanh gươm: Thanh gươm ngắn được đeo ở thắt lưng gọi là gươm "Wakizachi". Còn thanh gươm "Katana" là thanh gươm dài hơn đeo xuyên qua thắt lưng. Ngoài 2 vật trên, Samurai còn đeo một thanh dài có lưỡi răng cưa ở đầu gọi là "Naginata".

Mổ bụng tự sát

Mổ bụng tự sát là một trong những hành động và ý lực của người dũng sĩ Samurai của Nhật Bản nhất là dưới thời đại Tướng Quân. Danh từ Seppuku (Thiết phúc = mổ bụng) là một nghi lễ quan trọng khi tự sát của dũng sĩ của Samurai hay theo mệnh lệnh "sắt" của cấp điều hành, hoặc do tinh thần tự nguyện sắt đá của chính mình.
Khi một võ sĩ có tội đáng chết, thay vì đưa ra pháp trường để chịu xử tội, anh ta sẽ được chủ tướng ban cho một đặc ân là mổ bụng tự sát. Điều nầy chẳng những ứng xử đúng quy cách pháp luật mà còn nêu lên niềm kiêu hãnh trong một kiểu chết của người Nhật. Trường hợp tự nguyện, "Seppuku" là để bày tỏ lòng trung thành của mình với chủ tướng đã mất hay là để can ngăn chủ tướng đang làm những điều tai hại.
Hoặc cũng để tránh khỏi rơi vào tay quân địch trong trường hợp thế cùng lực tận.
Mổ bụng vì bụng là để phơi bày tâm can của mình, chứng tỏ lòng trung thành của mình,nơi chứa đựng tâm hồn, là cả một tấm lòng. Hình thức tự sát nầy bắt đầu từ thời Hêin (thế kỷ VIII); hiện nay hiện tượng tự sát Seppuku hầu như biến mất hay trở thành một biểu tượng cam đãm, dũng lược của người Nhật trong ứng xử.
Trường hợp nhà văn nổi tiếng Mishima đã tự sát theo lối ấy vào năm 1970 là một ngoại lệ, làm cho mọi người sửng sốt.
Chính người Nhật cũng xem cái chết Seppuku của Mishima là trường hợp đáng tiếc. Tuy nhiên, bên trong dường như đã chứa đựng một sức mạnh nội tâm nào đó rất "Nhật".
Năm 1274, nước Nhật bị đe dọa bởi cuộc xâm lăng của đạo quân Mông Cổ đang ở Trung Quốc dưới triều Hoàng đế Kublai Khan. Ông ta đã chiến thắng hầu hết vùng Đông Âu và châu Á. Quân Mông Cổ đã chuẩn bị một hạm đội tàu rất lớn để đánh Nhật. Lúc đầu cứ tưởng là quân Mông Cổ đã thắng vì họ được tổ chức tốt.
Nhưng khi đêm xuống, một cơn bão lớn đã buộc đội quân nầy phải bỏ nước Nhật để trở lại biển. Cuối cùng với 11,000 quân chết đuối, quân Mông Cổ phải quay về Trung Quốc. 8 năm sau, quân Mông Cổ lại chuẩn bị xâm lược Nhật Bản, với số quân đông hơn trước.
Lúc nầy, các Samurai đã chuẩn bị kỹ lưỡng hơn và họ cũng có hạm đội riêng. Họ đã chiến đấu với quân Mông Cổ tại vịnh Hakata. Sau 2 tháng, lại 1 cơn bão khác đã giúp Nhật đánh bại Mông Cổ.
Người Nhật cho rằng hai lần thắng trận là nhờ sự giúp đỡ của các vị Thần. Họ gọi đó là "Kamikazé" (Những cơn gió thần). Tin Thần linh, những dũng sĩ Samurai theo Thần Đạo (Shinto).
Những tín đồ Shinto tin rằng: Tất cả các vật tự nhiên đều có một linh hồn của Thần. Những tín đồ Shinto xây rất nhiều đền đài vìhọ tin rằng tất cả người chết cần phải có nơi nương tựa. Samurai cũng tin vào một giáo phái Phật Giáo là Thiền Tông.
Ngay cả những phụ nữ Nhật Bản có chồng là người trong giới Samurai hay có liên hệ trong truyền thống đó, cũng đã phải học kiếm để giữ mình.
Trong trường hợp họ bị ức hiếp hay bị một sợ nhục mạ nào đó, đòi hỏi phải bảo toàn danh dự mình, thì thường họ không hề ngần ngại dùng cây kiến ngắn (loại Wakajashi) thường giắt trong mình ra để tự sát.
Ðó là chuyện của thời xa xưa, nhưng đến ngày nay phụ nữ Nhật thì vẫn theo truyền thống kiên cường như thế trong ứng xử sao cho thích đáng.

Câu chuyện tự sát tập thể 800 Samurai:

Vào năm 1333, thời đại đầu tiên của chính quyền Kamakura đã kết thúc một cách bi thảm. Khi những kẻ bạo loạn xông vào kinh thành, thì các nhà nổi lửa đùng đùng để nhăn chận kẻ thù lại.
Những người bảo vệ Kamakura rút lui về vùng nghĩa địa ở ngoại thành của ngôi đền Toshyo. Tại đó, để tránh nhục Shiogun, gia đình, họ hàng ông ta cùng 800 thuộc hạ trung thành của mình đã rút đoản kiếm lần luợt từng đợt rạch bụng để tự sát.
Hành động nầy trở thành dấu ấn quan trọng trong tâm tưởng người Samurai sau nầy.

Sử sách Nhật bản ghi lại rằng:
Cuộc tự sát tập thể nầy chứng minh về sự thay đổi sâu sắc diễn biến trong nhân sinh quan Samourai sau nửa thế kỷ thống trị của họ. Trong các phẩm giá truyền thống của Samourai như: lòng trung thành tuyệt đối, đức tính dũng cảm phi thường, đức khiêm tốn, lòng thẳng thắn... ta thấy còn có thêm cả một cái gì đó mới mẻ, ác liệt đó, chính là phủ nhận sự sống và hướng về cái chết, trong những hoàn cảnh mình bị hạ nhục, để chứng tỏ sự bất khuất. Sự lãnh đạm tuyệt đối và lòng tin chắc nịch về cái chết, nhẹ như lông hồng, chính là một biểu hiện cao đạo của Samurai.
Thái độ đối với sự sống và cái chết nầy, xét cho cùng, đã trở thành điều tất yếu được ghi trong kỷ cương của Võ sĩ đạo, mà một trong những nhà tư tưởng của Trường phái Samurai đã đưa lên thành “đạo đức mới”, với công thức được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần: “Võ sĩ đạo có nghĩa là con đường chết. Khi phải lựa chọn giữa 2 con đường, thì hãy chọn con đường nào dẫn đến cái chết”
Như thế, hành động tự sát để bảo toàn danh dự tối thượng của mình đã biến thành nghĩa vụ danh dự. Trong sự kiện vô cùng bi thảm tại Kamakura cho thấy: Sau khi thất bại mà bị bắt làm tù binh là một mối nhục nhã ghê gớm; do đó, người Samurai trong bất cứ cấp bậc nào cũng phải bảo vệ danh dự cao cả của mình.
Về những trường hợp nầy, vị kiếm sĩ thượng thặng Miyamoto Shinmen Musashi đã viết như sau:
Samurai tự sát không phải chỉ để rửa nhục cá nhân, mà lại còn có lý do khác: Họ coi trọng kỷ cương đạo lý của Võ sĩ đạo, coi lòng trung thành tuyệt đối của giới Samurai với Lãnh chúa của mình là phẩm giá cao nhất.”.
Nhiều Samourai, nhất là những ai trung thành với Daimio (Lãnh chúa từng vùng, từng tỉnh) của mình, vẫn cho rằng: Nghĩa vụ quan trọng nhất là chết vì vị chủ súy. Do đó, nhiều khi sau cái chết, của Samurai bề trên, thì những tôi trung cũng tình nguyện chết theo. Ðiều nầy, trong nhiều thời kỳ lịch sử, đã khiến cho nước Nhật luôn bị chìm trong làn sóng tự sát. Cuộc bại trận năm 1945, chấm dứt Ðệ nhị Thế chiến và thảm bại của Quân phiệt Nhật là điển hình cho hình ảnh đó.
Trong nhiều trường hợp trong lịch sử Nhật Bản, hiện tượng nầy cũng giống như “một thứ bệnh dịch lan tràn”. Thậm chí, nó đã khiến cho chính phủ Shogun, Bakufu phải ban lệnh cấm tự sát.
Một nguyên nhân khác về trường hợp tự sát gắn với nhận thức về “nghĩa vụ”. Có khi, Samurai rơi vào tình trạng tiến thối lưỡng nan về phương diện đạo lý hết sức phức tạp. Một mặt, kỷ cương của Võ sĩ đạo cấm Samourai chống đối công khai chủ súy của mình.
Mặt khác, nếu chủ súty lại thực hiện một điều gì đó không chính đáng, vì tư lợi, thiếu nghĩa hiệp, mà Samourai không thể nào bị mắt làm ngơ được. Ðể chống đối, họ chỉ còn biết cách tự sát công khai để phản đối.
Bởi lẽ, tự sát là một tín hiệu của phản kháng công khai lên án những hành vi thiếu cao thượng của chủ súy.
Những hành vi nầy khiến người ở cấp bậc điều hành phải xét lại tư cách và hành động của mình.
Tất nhiên, cái chết dưới lưỡi rìu của đao phủ là một sự nhục nhã vô cùng. Do đó, các chiến binh Samourai trước khi bị xử chém, có quyền được “tự sát trong danh dự” trong cuộc lễ hành hình.
Người ta cho rằng: cái chết như vậy - trước mắt những chứng nhân cao cấp – coi như chuộc lỗi lầm.

Sống toàn diện

Những tín đồ Thiền Tông Nhật tin rằng: Ngồi Thiền sẽ giúp họ tìm ra Sự Thật và làm chủ bản thân mình trong mọi ứng xử, kiềm chế bản thân mình.
Samurai không chỉ thuần túy là những chiến binh lão luyện, mà còn phải là người hiểu biết và đánh giá được các loại hình nghệ thuật. Samurai rất thích ngâm thơ và làm thơ. Giữa thế kỷ XVII, nhà thơ Matsno Basho (Ba Tiêu) đã phát triển thể thơ Haiku (Hài cú) có 17 âm tiết để ca ngơi thiên nhiên. Các Samurai đã chép lại và đọc cho nhau nghe.
Samurai cũng họ những điệu múa truyền thống dân tộc. Người ta thường kể rằng: Tướng Oda Nobunaga nổi tiếng tàn bạo nhưng múa rất đẹp với một chiếc quạt trước hàng quân trước khi xung trận. Samurai rất thích xem hát. Vào thế kỷ XII, họ đã xem những vở diễn phổ biến, gọi là "Habuki".
Đến cuối thời của Samurai, kịch hát "Noh" cổ điển của nhật được coi là hợp hơn cả. Trong cả hai loại kịch hát, các vai nữ đều do diễn viên nam đóng. Một câu nói phổ biến của Samurai là "Tay trái để luyện tập các môn nghệ thuật hoà bình; tay phải để luyện tập các võ thuật chiến tranh". Samurai đánh giáo cao môn nghệ thuật viết chữ bằng bút lôn và mực Tàu trên giấy (Môn thư pháp). Mỗi nét chữ phải đưa một cách uyển chuyển mềm mại và chính xác mà không ngập ngừng, đứt đoạn.
Như thế, cuộc sống của một Samurai phải được nhiếp tâm hài hoà với nhiều sắc thái khác nhau.

Tiên chuẩn đạo lý của Samurai

Tầng lớp Samurai bao gồm những người không phân biệt cấp bậc, tài sản và mức sống. Trong cương vị nầo, họ cũng phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn đạo lý chính yếu. Họ đoàn kết cùng như chiếu đấu, không phải vì những quyền lợi vật chất, mà chính là khái niệm về “một con người dũng cảm lý tưởng”.
Mỗi Samurai đều phấn đấu hướng tới mục đích cao cả nhất là trở thành “một con người quả cảm”. Con đường lâu dài và đầy gian khổ tiến tới đạt cho được tư tưởng cao cả của Samurai được mệnh danh là “Bushido” (Võ sĩ đạo). Võ sĩ đạo là luật tục đạo lý cơ bản của người chiến sĩ phải noi theo trong suốt cuộc đời của họ, dù trong hoàn cảnh nào. Trước hết, họ phải nắm cho được ba phẩm hạnh chủ yếu: trung thành, chịu trách nhiệm, can trường.
Họ quyết không bao giờ chịu từ bỏ những đức tính áy, kể cả những khi sa cơ thất thế.

Phẩm hạnh thứ nhất: Kỷ cương về lòng trong thành

Võ sĩ đạo được Samurai coi lòng trung thành là phẩm giá cao nhất phải tôn trọng triệt để, dù là phải hy sinh thân xác của mình đi chăng nữa.
Trong cuốn “Cẩm nang” của người Samurai, có nhan đề là “Hagakure ”, được phổ biến trong hàng ngũ Samourai và thế kỷ XVII, có đoạn viết như sau:
Cho dù ta ở đâu, trên đỉnh núi cao hay trong lòng đất sâu, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, nghĩa vụ của ta bắt buộc ta phải bảo vệ chủ soái. Ðó là nghĩa vụ của thuộc hạ. Ðó là cái cột sống của Ðạo ta, không hề đổi thay, phải là vĩnh cửu”.

Phẩm hạnh thứ hai: Ðây là kỷ cương về tinh thần trách nhiệm.

Nhận thức nầy bao gồm một số giới luận đạo đức cơ bản, mà trên hết, là nghĩa vụ tử giáo dục cho bản thân của mình. Những đòi hỏi cần thiết là: (a) Phải trung thực, không được dối trá, gièm pha, không có những hành vi bất lương. (b) Giản dị, coi thường những thứ xa hoa, tiền bạc và các tiện nghi sinh sống khác. (c) Lịch thiệp, phải tuân theo các quy chế về đạo đức, khiêm tốn và bình tĩnh, phải biết kiềm chế lấy mình.

Phẩm hạnh thứ ba: Ðức dũng cảm của Samourai.

Lòng quả cảm trong chiến đấu chưa đủ, mà còn phải dũng cảm trong sinh hoạt đời sống hàng ngày của mình nữa. Nguyên tắc nầy rất được coi trọng của người dân Nhật, kể cả trong thương trường như sinh hoạt kinh tế ngày nay.
Người chiến binh Samurai khi làm việc nghĩa thì phải hành động dứt khoát, không chút do dự, cho dù là phải hy sinh táng mạng của mình. Thành thử, kỷ cương của Võ sĩ đạo nhấn mạnh rằng: “Chính nghĩa là tất cả, cuộc sống không đáng kể”.

Giáo dục Samurai ngay từ thuở nhỏ

Từ thế kỷ XII, việc giáo dục đào tạo những Samourai của các Daimio được tổ chức ngay từ thuở nhỏ. Thay vì những chuyện cổ tích, thần thoại, cha mẹ thường kể cho các con mình nghe về cuộc chiến Gempei và những chuyện tang thương khác mà các chiến binh Samurai từ trải qua.
Trong hầu hết những câu chuyện nầy, vấn đề then chốt là đề cao tinh thần quả cảm, gương hy sinh, bao giờ cũng chiến thắng quân thù. Theo suy nghĩ của phụ huynh, thì khi nghe những chuyện nầy, chúng sẽ kích thích trẻ em sớm hơn, để sau nầy chúng sẽ trở thành những con người, mà chúng hằng bái phục, từng coi là những người anh hùng dân tộc.
Nhưng để trở thành Samurai đích thực mà chỉ muốn thôi còn chưa đủ. Ðào tạo chiến binh đó là côntg việc lâu dài và gian khổ, đòi hỏi phải chuyên cần tập luyện.

Trước hết, phải dạy cho trẻ em biết chủ động điều khiển cơ thể và tình cảm của mình trước mọi khó khăn. Cha mẹ không muốn con cái mình kêu ca khi bị đau đớn, thậm chí bị đói rét, khi sống trong những điều kiện khốn khổ.
Ý chí sắt đá, khả năng phục tùng kỷ luật hà khắc được đem dạy, không chỉ bằng những lời giáo huấn, răn đe, mà còn bằng mọi điều kiện sống của một Samurai trong tương lai. Chẳng hạn: những đứa con trai bị đánh thức dậy khi tờ mờ sáng, để cho chơi trong gian phòng không có sưởi và bỏ đói khá lâu. Những thử thách khốc liệt khác còn chờ đợi chúng lớn lên và đủ tuổi để gửi đi học chữ nghĩa.
Bọn trẻ buộc phải đi và về một đoạn đường rất xa trong bất cứ thời tiết nào. Mưa không cần mang áo choàng. Mùa đông phải đi chân đất. Sau đó, chúng phải học cách thắng sợ hãi: bị bỏ một mình giữa nghĩa địa suốt cả đêm, có khi phải ngồi gác những cái xác bị chặt đầu.
Cùng lúc rèn luyện ý chí theo cách đó, trẻ con được dạy cách sử dụng vũ khí. Việc nầy bắt đầu bằng một nghi thức long trọng: mới 5 tuổi, chúng đã được trao cho một thanh kiếm vừa tầm mình. Ngoài học luyện kiếm, còn phải được dạy bơi lội, phi ngựa, võ tự vệ (Jiu – Jitsu). Sau những tháng học sơ đẳng, chuyển sang học bắn cung, đánh côn và đánh kiếm.
Khi đến tuổi thiếu niên, lại học những thói quen khác như: bơi trong khi bị trói chân, trói tay hay mang binh giáp nặng nề; biết vượt qua sông bằng dây thay vì bằng cầu và không hề lùi bước trước bất cứ trở ngại.
Khi lên 25 tuổi, hết chương trình học, phải tỏ ra là một Samurai thực thụ: biết thản nhiên như cây rừng, đứng vững như bàn thạch, lạnh như băng tuyết, nhanh như gió, quyết tâm tấn công như ngọn lửa. Khi đáp ứng đủ những điều kiện trên, sẽ được gia nhập quân ngũ chính thức.

Khai sinh của đế chế Nhật

Theo giáo lý của Thần Ðạo Nhật Bản thì dân tộc Nhật Bản là con cháu của Nữ thần Mặt Trời Amaterasu, đứng đầu là vị Hoàng đế văn võ song toàn, đấng minh quân Jimmu Tenno. Ông lên ngôi vào năm 660 trước Công nguyên, trong địa phận của Vương quốc Yamato.
Vị Thiên hoàng nầy đã đặt nền tảng chính cho các triều đại Nhật hoàng liên tục kế tiếp nhau sau nầy cho đến khi bị các Tướng Quân nắm quyền dước chế độ Mạc Phủ. Chế độ phong kiến Nhật được khai sinh trong thời kỳ nầy. Theo sử Nhật thì thời điểm phong kiến sơ kỳ được tính vào năm 645 trước Công nguyên.
Trong thời nầy, tại cung điện của Hoàng đế Koguaku đời thứ 35 đã nổi lên những cuộc chiến tranh liên tục. Những người chủ xướng quyết đưa Nhật Bản ra khỏi sự chuyên chế của giới quý tộc đang tranh nhau vơ vét tài sản đất nước, đồng thời xây dựng một quốc gia hùng mạnh hơn.
Trong việc giao lưu với nước ngoài, Nhật Bản vẫn hướng về lối trị nước của Trung Hoa, nơi quyền hành thời đó thuộc về Hoàng đế; tuy nhiên, việc giữ gìn trật tự và an nguy đất nước thì do hệ thống quan lại trông coi.
Chủ trương lật đổ nầy đã mang đến thắng lợi. Lịch sử gọpi là “kỷ nguyên Taika” có nghĩa là cải cách vĩ đại. Sự điều hành đất nước trong chưong trình nầy được khởi đầu dưới sự chỉ đạo của vua Kotoku thứ 36.
Theo tín ngưỡng Thần Ðạo của người Nhật, những vị Hoàng đế không chỉ đơn thuần là đấng trị vì toàn dân, mà lại còn được xem là vị Chúa Tể do Trời sắp đặt.
Nhà vua tự xưng là “Tenno”, có nghĩa là con trời, có nhiều quyền lực, vừa thiêng liêng, vừa thực tiễn trong việc trị nước, mà khôn ai cưỡng lại được.
Vào năm sau, khi cải cách thắng lợi vẽ vang được thực hiện, nhà vua đã ban bố một đạo sắc lệnh, gọi là “Taika” (Chiếu chỉ Thiên Hoàng).
Nội dung bao gồm:

Ðiều thứ nhất:

Phải hủy bỏ quyền sở hữu cá nhân về đất đai như đã phân định trước kia, quy định theo đường lối mới.

Ðiều hai:

Ðất nước được phân chia thành tỉnh, huyện, hạt, xã theo ranh giới mới.

Ðiều ba:

Kinh đô được xây dựng lại, theo những yêu cầu về tổ chức, bao gồm cả tổ chức vương quyền và giáo quyền.

Ðiều tư:

Giới quý tộc hình thành trước đây vẫn được phép tham gia những chức vụ quy định, với mục đích phục vụ quốc gia trong tình hình mới, tuy nhiên, cơ bản là phải dốc lòng trung thành, phục vụ Hoàng Ðế vô điều kiện.

Ðiều năm:

Dân chúng trong nước phải thi hành “chế độ quân dịch mới”: chế độ nầy quy định: cứ 3 người (nam giới) thì lấy một người bảo vệ đất nước và biên cương trong 3 năm; sau đó luân phiên với những người kế tiếp.

Những quy định tổng quát nầy được thực hiện tùy theo nhu cầu trong từng giai đoạn. Mỗi địa phương tùy theo tình hình để ứng xử.

Tính chất đế chế

Như vậy, do cuộc chinh biến năm 645 đã tạo điều kiện thích ứng để có thể thúc đẩy nhanh chóng việc thành lập đế chế và đưa ra một kỷ cương để bảo vể đế chế nầy. Quan trọng nhất là: Giới quý tộc nắm nhiều quyền hành cát cứ trước kia thì nay phải chịu sự thống trị của Thiên Hoàng (Tenno).
Những đặc quyền, đặc lợi đều hủy bỏ.
Tuy nhiên, để tránh những cuộc bạo loạn, triều đình trung ương đã tiến hành từng bước, mà điều đầu tiên là nắm trọng quyền quân sự và hành chánh.
Cũng không tránh được những phản ứng của vài địa phương, nhưng ngay sau đó đã được giẹp tắt từ trong trứng nước.

Thành thử, tránh được những phản ứng mạnh mẽ, trong khi củng cố quyền lực của chính quyền Tenno.
Về phương diện cải cách, Vương triều khởi đầu từ việc quản lý điền địa, được xem là mạch sống của giới quý tộc trước đây. Ðất đai thuộc quyền sử hữu chủ của quốc gia, đứng đầu là Hoàng Ðế. Các thế tộc phải thi hành triệt để.
Các nông dân tự do được nhận lãnh những phần đất có diện tích bằng nhau, nhưng phải nộp thuế hàng năm đúng tiêu chuẩn và đúng hạn kỳ.
Những người được nhận lãnh những chức vụ quan trọng hay có công lao thì được hưởng một số quyền lợi nhiều hơn Họ không phải nộp thuế và quyền lợi nầy được truyền lại cho con cháu, trong trường hợp tuyệt đối trung thành với Vương triều. Nhưng rồi về sau, số đất đai nầy đã biến thành các “thái ấp” (Shioen) phong kiến, mà sẽ có những phản ứng về sau trong khoảng thời gian sau.
Ðiều quan trọng nhất chi phối ảnh hưởng nầy là việc quản lý: Trong thời nầy, triều đình chỉ có thể kiểm soát chặt chẽ những thôn ấp gần kinh đô hay đường giao thông được dễ dàng; tuy nhiên, những vùng ở xa, vùng biên giới, mà vấn đề giao dịch khó khăn, thì chính quyền trung ương gặp nhiều trở ngại trong việc điều hành.
Do điều kiện nầy, chính quyền trung ương đã khai phát ồ ạt lãnh thổ quốc gia, để có thể nắm trọn quyền, tránh nạn địa phương cát cứ. Trong khắp nước Nhật thời đó, hệ thống đường xá, cầu cống được xây dựng. Kinh thành mới được kiến thiết lớn lao hơn; chùa chiền được lập nên khắp các địa phương. Nền văn hoá, nghệ thuật cũng nở rộ.
Những tài năng trong nước đua nhau đến kinh thành để được nhận những chức vụ do một ban Quản Lý điều động.
Kinh đô nước Nhật trong khoảng thời gian 710-784 đóng tại Heijo (Nara). Cho tới năm 794 thì lại được dời về Heian (Kyoto). Triều đại Heian đánh dấu một giai đoạn hoà bình và cường thịnh.
Tuy nhiên, lãnh vực cai quản của triều đình chi nằm vùng trung ương của đảo Honshu. Còn 3 vùng khác là Kyushu, Shikoku và Hakaido thì không thể chuyển vận đến một cách mau chóng. Chính điều nầy là một trong những trở ngại của triểu đình do sự tự quản của địa phương


. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 26.4.2014.