Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




 




                                 TIẾP BIẾN VĂN HÓA ĐÔNG TÂY    






 

N guyễn Du ( 1765-1820) tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh năm 1765 tại kinh thành Thăng Long trong một gia đình danh  gia vọng tộc xứ Nghệ - Họ Nguyễn ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Cha là Tiến sĩ Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng; mẹ là Trần Thị Tần cũng sinh trưởng trong một gia đình truyền thống văn hóa ở Kinh Bắc. Truyền thống của dòng họ, quê hương, sự giao thoa của các vùng văn hóa, đặc biệt là nền văn hiến Thăng Long, văn hiến Kinh Bắc, phong ba bão táp của thời đại và cuộc đời “Mười năm gió bụi (lời Hoàng Khôi trong sách Nguyễn Du trên đường gió bụi cùng tư chất thông minh đã tạo nên một Thi hào Nguyễn Du.   Truyện Kiều của Nguyễn Du là  tập đại thành của nền văn học cổ điển Việt Nam.  Tại kỳ họp thứ 37 của Đại Hội đồng UNESCO ở Pari vào tháng 11 năm 2013 đã ra Nghị quyết 37C/15 phê chuẩn các Quyết định 191EX/32 và 192EX/32 nhất trí vinh danh Đại thi hào Nguyễn Du của Việt Nam  là một trong 108 Danh nhân văn hóa thế giới
   
Truyện  K iều  ( chữ Nôm), tên gốc là Đoạn trường tân thanh( chữ Hán), là truyện thơ chữ Nôm theo  thể lục bát của  Nguyễn Du, dựa theo tiểu thuyết "  Kim Vân Kiều truyện"  của  Thanh Tâm Tài Nhân – một tác phẩm thuộc loại bình dân ở  Trung Quốc. Như vậy chúng ta phải nói tới tiếp biến văn hóa (Akkulturation / Acculturation ) - một hiện tượng phổ biến trong giao lưu giữa các nền văn hóa trên thế giới, nhất là giữa các nước ở châu Âu. Ca vũ hài kịch Don Giovanni (Don Juan)  là một ví dụ. JW Powell  được coi là người đặt ra từ "tiếp biến văn hóa" vào năm 1880. Khái niệm về tiếp biến văn hóa được nghiên cứu khoa học từ năm 1918

    Trên bình diện địa chính trị thì châu Âu có nhiều nước với những thể chế khác nhau. Nhưng trên bình diện văn học nghệ thuật thì mỗi sự kiện nổi bật ở một nước có thể trở thành vết dầu loang lan sang các nước khác. Hiện tượng Don Juan (Đông Gioăng) của Tây Ban Nha, Faust của Đức là những ví dụ. Don Juan là nhân vật dân gian Tây Ban Nha, nhân vật này xuất hiện lần đầu trong kịch El burlado de Sevilla y convidado de piedra của Tirso de Molina (công diễn năm 1613, in thành sách năm 1630). Don Juan là người vô thần, dám phỉ báng Chúa, thích phiêu lưu trong chuyện tình ái, có tài quyến rũ, lừa đảo phụ nữ mọi đẳng cấp: nữ công tước, thiếu nữ quý tộc, cô gái đánh cá, cô gái nông thôn. Don Juan bị trời trừng phạt, đày xuống địa ngục.
    Nhân vật dân gian Don Juan của Tây Ban Nha “chu du” Italia, Đức, Anh và nhiều nước khác. Năm 1665, Molière viết hài kịch “Don Juan” từ chất liệu hề kịch “Don Juan” của văn học dân gian Tây Ban Nha. Hài kịch của Molière viết bằng văn xuôi, có 5 hồi, công diễn lần đầu ngày 5.11.1665. Đối với Don Juan: ”Hạnh phúc ở cuộc đời này là quyến rũ được tất cả đàn bà mà không yêu một ai cả!”. Vở kịch này là kịch hay nhất so với những vở kịch cùng tên. Trong các opera về Don Juan thì nổi tiếng nhất là ca vũ hài kịch Don Giovanni của Mozart. Đây là opera hai màn do Wolfgang Amadeus Mozart soạn nhạc và nhà văn Italia Lorenzo da Ponte viết lời Don Giovanni bằng tiếng Italia. Opera này được trình diễn lần đầu tiên ở Praha vào ngày 29 tháng 10 năm 1787.
    Vở kịch bắt đầu với màn Don Giovanni giết cha của một mệnh phụ mà anh ta đã quyến rũ. Hầu hết các tình tiết xoay tròn xung quanh ba người phụ nữ mà Don Giovanni quyến rũ
    Một trong những cảnh đáng ghi nhớ là bản song ca giữa Don Giovanni và Zerlina. Zerlina, người thiếu nữ bị lọt vào tầm mắt săn đuổi của Don Giovanni, cô đã hứa hôn với Masetto. Don Giovanni loại bỏ Masetto ra ngoài cuộc để anh ta có thể độc chiếm Zerlina, sau một hồi đối thoại, đã đồng ý bỏ trốn với Giovanni. Cảnh gồm có một đoạn hát kể nối tiếp bằng bản song ca nổi tiếng "La ci darem". Lời nhạc kịch mang đầy tính châm biếm. Ở đoạn kết Don Giovanni bị trừng phạt - bị ném xuống địa ngục. Có tiếng hát đồng ca:” Đấy là cái kết của kẻ làm điều ác…”
 
FAUST:TIẾP BIẾN VĂN HÓA TRONG MỘT NỀN VĂN HÓA
VÀ TRUYỆN KIỀU:TIẾP BIẾN GIỮA HAI NỀN VĂN HÓA

    Giao lưu  và tiếp biến văn hóa có vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển Văn hóa của một  dân tộc. Giao lưu văn hóa tạo ra hiện tượng tiếp biến (tiếp thụ và cải biến) văn hóa (acculturation).
    Con đường phát triển tài năng và tự hòan thiện mình của Goethe không phải là một con đường thẳng đi lên, mà nó có những khúc quanh để nhìn lại mình và để định hướng cho việc nâng tầm cao giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng của các tác phẩm. Có bốn mảng lớn trong sự nghiệp của Goethe là thơ, tiểu thuyết , kịch, lý luận văn học nghệ thuật. Goethe cho rằng, “tác phẩm cho ta một cuộc sống cao hơn”, điều đó có nghĩa là tác phẩm phản ánh cái đặc biệt, nhưng cũng chính là phản ánh cái phổ biến nhất, bao quát nhất. Qua đó ta thấy chân lý trong tác phẩm cao hơn chân lý của thực tiễn, nó là chân lý mà ta mong đợi,đòi hỏi ở những kiệt tác. Tiểu thuyết của Goethe đề cập thẳng vào vấn đề cuộc đời, số phận con người, đã phản ánh được tâm trạng con người của thời đại, đã dự cảm được cuộc đời. Ở thời kỳ Bão táp và Xung kích có khuynh hướng nhấn mạnh mặt tình cảm thì Goethe có Nỗi đau của chàng Werther. Đó là một tiểu thuyết bi kịch , tác giả chỉ cho thấy mâu thuẫn và khó khăn mà cá nhân Werther không sao khắc phục và vượt qua được .Khi con người cần nhận thức được ý nghĩa và khuynh hướng của việc mình làm để có thể hòa vào nhịp phát triển của xã hội thì Goethe có tác phẩm Những năm học nghề của Wilhelm Meister (1796). Goethe đã đi từ chủ nghĩa duy cảm đến chủ nghĩa hiện thực ở Đức thế kỷ XVIII. Thơ chiếm một vị trí đặc biệt trong cuộc đời sáng tác của Goethe, vì thơ ông giãi bầy tâm sự cùng những trải nghiệm trong tâm hồn nhà thơ, là “những mảng của một sự thú nhận lớn”. Thơ của Goethe phản ánh được tình cảm, tư tưởng tiến bộ của giai cấp tư sản, thơ ông kết hợp được nhuần nhuyễn yếu tố trữ tình với yếu tố trí tuệ sâu sắc. 
    Đặc điểm của trào lưu Bão táp và Xung kích là đi từ chỗ nhấn mạnh 
tình cảm con người đến đấu tranh đòi quyền tự do và quyền phát triển mọi mặt.
    Những vở kịch tiêu biểu của Goethe là Gõtz von Berlichingen (1773), Iphigenie auf Tauris (1787), Egmont(1788), Torquato Tasso (1790), Faut I và II (1808 và 1832)
    Chủ đề tự do được Goethe đề cập tới trong hai vở kịch Gõtz von Berlichingen (nhân vật nổi lọan) và Egmont (cá nhân anh hùng). Xung đột giữa tài năng và cuộc sống được Goethe đề cập tới trong tác phẩm Torquato Tasso. Những vấn đề Goethe nêu trong ba vở kịch trên đều là những vấn đề lớn của thời đại ông.Vấn đề muôn thưở của con người là phải họat động không mệt mỏi nhằm chinh phục và cải tạo thiên nhiên và để nó phục vụ đời sống con người được Goethe đề cập tới trong kiệt tác Faust. Ở Faust ta cũng thấy bóng dáng con người Goethe. Trong kịch của mình,Goethe đã đi từ tình cảm đến lý trí, từ cá nhân một người tới vấn đề lớn của nhân lọai.

* Faust
Từ truyện dân gian về Faustus đến Faust của Goethe

Faust – con người có thật

    Georg Faustus – một người theo sổ sách ghi chép tên là Helmstãdter,sinh năm 1480 ở Knittlingen vùng Wũrtemberg, vùng tây nam nước Đức. 
    Anh chàng kỳ lạ bán thuốc rong ở các chợ, bán thuốc bằng cách biểu diễn những trò qủy thuật, cứ như vậy anh lang thang khắp các vùng Heidelberg, Nũrnberg, Erfurt, Wittemberg. Anh chàng bán thuốc rong này biết khiến qủy thần và dùng thuật ấy để kiếm tiền và mang lại cho mình danh tiếng. Anh ta biết xem tướng và tự coi mình ngang với cha xứ vùng Bamberg- một vị cha mà hồi đó rất được kính nể. Anh ta bị coi như là kẻ thân của qủy thần, kẻ làm qủy thuật và bị đuổi khỏi Nũrnberg. 
    Georg Faustus mất năm 1536 ở Staufen vùng Breisgau. Người đương thời kể về Faustus vừa kinh hòang, vừa khâm phục.

Hình tượng Faust trong văn học và trong dân gian

    Vào năm 1550 lan truyền trong dân gian câu chuyện huyền thọai về một con người dám tự ý đi theo con đường nhận thức riêng của mình , bị nhà chúc trách từ chối, rơi vào tay qủy sứ và chết thảm hại dưới địa ngục. Người thợ in Spiess ở Frankfurt được tỉnh trưởng vùng Speyer là Andreas Frey kể cho nghe về con người đó. Joh. Spiess viết lại và cho in năm 1587. Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh năm 1588, dịch sang tiếng Pháp và tiếng Hà Lan năm 1592 và sang tiếng Tiệp năm 1611. 
   
Cuốn sách Câu chuyện về tiến sĩ Faustus của Spiess đã gây được rung cảm và tính phiêu lưu hiếu kỳ ở người đọc nên sách được tái bản nhiều lần. 
    Sách được một tác giả người thành phố cảng tự do Hamburg là Widman biên sọan thêm và cho xuất bản năm 1599. Bác sĩ Pfitzer người thành phố Nũrnberg cũng biên sọan một cuốn sách về Faust vào năm 1674. Năm 1712 một bản ngắn gọn hơn của con chiên ngoan đạo Meynenden tới tay bạn đọc với nhấn mạnh,rằng cuốn sách được biên sọan lại từ sự ngưỡng mộ đạo Thiên chúa, một sự cảnh cáo cái kiêu căng về hiểu biết và về sự tự nhận thức của Faust về cá nhân mình.
    Tại sao lại như vậy ?
    Nhà thờ thấy ngay hiểm họa ở nhân vật Faust này. Faust theo nghĩa đen của từ là nắm tay, qủa đấm, nhưng theo nghĩa bóng thì nó ám chỉ sự tự lập, tự quyền, quyết tâm tiến tới, trong ngôn ngữ giao tiếp thì nghĩa bóng là nói tọac ra. Nhà thờ cho sự khao khát hiểu biết và lòng say mê hành động là kết qủa của việc kết bạn với qủy dữ, chúng coi những môn khoa học tự nhiên cùng những kiến thức khoa học của Kopernikus, Gallilei, Darwin là những ý nghĩ bạo động thóan nghịch chống lại nhà thờ, những ý nghĩ đó là sản phẩm của qủy sứ.

Đề tài Faust và sự phát triển của nó tới thời Goethe

    Năm 1590 ,nhà văn người Anh Christopher Marlow đã sử dụng cốt truyện Faust cho bi kịch anh hùng của mình: Con người tư sản trỗi dậy mang tính nhân văn đã được đưa vào kịch. Nhà văn có thiện cảm mãnh liệt với con người ấy đã để Faust kết thân với qủy Mephisto là do thèm khát hiểu biết và muốn vươn tới sức mạnh trí tuệ, do muốn hành động. Wilhelm Mũller dịch kịch bản Faust của Christopher Marlow ra tiếng Đức, Archim Arnim viết lời giới thiệu. Goethe đã đọc kịch bản ấy và ca ngợi đó là một kịch bản tuyệt diệu, vĩ đại. Năm 1650 ,kịch bản Faust ấy được đưa lên sân khấu búp bê(Pupentheater) ở Đức. Về buổi xem Pupentheater ấy, Goethe viết trong tậpThi ca và sự thật như sau:
    Cốt truyện chẳng có gì quyến rũ lắm ấy cứ sống lại trong tâm hồn tôi với những nét đa dạng.”
    Faust theo suy nghĩ của người đương thời là một chàng trai tinh qúai, một người hiến thân cho qủy và chứa đựng trong người những cái ghê tởm,đầy mâu thuẫn. Ở con người ấy có cả cái gương mẫu lẫn điều kinh khủng , nơi diễn ra cuộc chiến đấu không thừa nhận tất cả những gì là lạc hậu. Trước Goethe , các nhà văn như Lessing, Grabbe, Lenau và cả nhà thơ Heine(Tanzpoem) đã viết kịch bản theo chất liệu Faust. Trong số đó đáng lưu ý là hai kịch bản của Lessing. Với ý nghĩ đề cao sự tìm tòi hiểu biết của con người, muốn tả người anh hùng tư sản, Lessing viết về Faust lần thứ nhất năm 1755. Faust ở đây ham nghiên cứu do động lực cá nhân và từ nghị lực của bản thân, không từ bỏ con đường khoa học, kết thân với qủy sứ để rồi nghiên cứu nó bằng khoa học. Năm 1767, Lessing viết kịch bản Faust lần thứ hai, Lessing muốn viết một vở kịch Faust không có chuyện ma qủy, một vở kịch mà Faust không bị qủy bắt mất hồn vì tội cả gan nghiên cứu khoa học, và chính vì Faust nghiên cứu khoa học nên chỉ bị đưa ra xử công bằng trước chúa.
    Tại sao Lessing lại có hai lý giải cho kịch về Faust ?
    Thời Lessing , công việc đi tìm sự thật là một động lực có tính thần thánh ở con người, dù anh ta có lẩm cẩm đi chăng nữa thì cái cố gắng muốn vươn lên vẫn là một đặc tính đã xác định ở con người. Trong thế kỷ XVIII ở Đức người ta rất ham say với công việc nghiên cứu và sáng tạo. Cũng trong thời gian này, còn nhiều vấn đề chưa được giải thích thỏa đáng , con người chỉ còn trông chờ vào sức mạnh siêu nhiên: thần thánh hay ma qủy.

Nhân vật Faust thỏa mãn được nhu cầu gì của xã hội đương thời ?

a/ Faust: kịch hay trường ca

    Faust là một kiệt tác của văn học thế giới và thường được đưa lên sân khấu kịch, nhưng bản thân tác phẩm gồm 12.111 câu nên vượt quá khuôn khổ của kịch, về mặt nào đó có thể xem Faust là trường ca. 
    Khi bàn về Faust, trong thơ Schiller viết gởi Goethe ngày 23.6.1796 có đọan: 
    “ Tính chất hai mặt của cá tính con người và sự cố gắng bất hạnh nó lại hợp nhất cái thần thánh và cái rất con người ở ngay trong cơ thể con người, điều đó người ta không thể bỏ qua được,vì rằng cốt truyện không và không phải đi theo một thể lọai văn học nào cả, nhưng nó lại đi và phải đi tới ánh sáng chói chang của chân lý, do đó người ta không nên dừng lại ở đề tài câu chuyện, mà nó cần đi xa hơn nữa, tới tư tưởng của tác phẩm. 
    Nói tóm lại, những yêu cầu về vở kịch Faust vừa có tính triết học , vừa có tính thi ca. 
    Để đạt được cả tính triết học lẫn tính thi ca nên Goethe đã xử dụng cả văn vần và văn xuôi trong kịch Faust (cảnh 23 , Faust I viết bằng văn xuôi), tác giả xử dụng cả qủy cùng những nhân vật trong thần thọai Hy Lạp , xử dụng cả đối thọai triết học lẫn khúc ca trữ tình. Tác phẩm Faust trở nên rất độc đáo vì phương tiện văn chương biến đổi linh họat, nội dung phong phú: đề cập tới tòan bộ lịch sử nhân lọai, vì tính triết lý trong việc diễn tả hai mặt trong cá ính con người.

b/ Hiện thực xã hội và hình ảnh nhân vật Faust

    Xã hội Đức đương thời chứa đựng đầy mâu thuẫn. Giai cấp tư sản Đức do không có một trung tâm kinh tế và chính trị cho tòan quốc nên đã phản bội phong trào nông dân và dân nghèo thành thị, chúng bắt tay cấu kết với bọn  phản động chúa đất để đàn áp phong trào. 
   Trên thế giới , việc phát hiện ra các vùng đất mới và những hiểu biết về các lĩnh vực khoa học mới đã đem lại tinh thần mới ; Trong khi đó, ở nước Đức hình ảnh sợ hãi trước sao định mệnh , qủy thuật và địa ngục hãy còn trong tâm trí mọi người. 
Hiện tượng Faust làm rộng vang ở mọi người cái vấn đề lâu nay đang còn tranh cãi: Những gì không đúng như thế lực Nhà thờ quan niệm thì đó là ma qủy ! 

   Ở thời kỳ Khai sáng của Đức có một nhu cầu bức thiết, phải kế thừa bằng được những truyền thống tiến bộ của dân tộc mình, cũng như truyền thống tiến bộ của dân tộc khác, đưa nó vào văn học để phục vụ hiện tại. Chính do vậy, nên cũng dễ hiểu , 
chất liệu như Faust được đề cập tới. Faust mang trong mình những nét giống nguyện vọng của giai cấp tư sản Đức đang đà phát triển, đang trong cuộc đấu tranh giành công nhận bình đẳng về giá trị con người,công nhận quyền bình đẳng về chính trị.

Faust – tâm trạng của đại văn hào Goethe – tâm trạng của thời đại

    Faust I xuất bản năm 1808. Goethe hòan thành Faust II ngày 22.7.1831. Goethe sáng tác Faust I khi đang ở tuổi thanh niên, ở tâm trạng chán ghét muốn nổi lọan chống lại “sự cùng khổ Đức”.Đó là tâm trạng của các nhà văn và thế hệ thanh niên phong trào Bão táp và Xung kích. 
    Faust I là kiểu nhân vật khổng lồ Promethus , có tâm trạng phản kháng, muốn thóat khỏi cuộc sống ngột ngạt đi tìm chân lý và lẽ sống. Bóng dáng xã hội hiện lên rõ nét với 
Motiv cô gái chửa hoang trong bi kịch tình yêu của Faust với Margrette (Gretchen): cả hai đứng trước những khó khăn do chính hòan cảnh cuộc sống tạo ra, do vị trí của từng người trong xã hội; Họ bị ràng buộc bởi Trật tự và Đạo lý phong kiến. 
    Margrette đành cam chịu:

Thôi rồi những ngày hớn hở 
Giờ đành cam phận đời ta !

    Faust II được bắt đầu khi Goethe đã năm mươi tuổi và hòan thành một năm trước khi Goethe ra đi vào cõi vĩnh hằng – vào năm ông 82 tuổi. Ở Faust II, Faust không còn là con người đi tìm những lạc thú trần gian, giờ Faust chỉ muốn hành động giúp ích cho đời. 
   Faust II phản ánh xu thế xã hội đương thời: sự suy vong của xã hội phong kiến và sự hưng thịnh của chủ nghĩa tư bản. Ý tưởng mà Goethe gởi gắm ở nhân vật Faust nó phù hợp với xu thế thời đại, phù hợp với mong đợi của người dân, biểu thị xu hướng đang lên của giai cấp tư sản – một lực lượng tượng trưng cho sự tiến bộ xã hội thời bấy giờ. 
    Faust làm cho người ta liên tưởng ngay đến hòan cảnh dân tộc Đức đương thời, nó cần một giải thóat khỏi cảnh cùng khổ của Đức. Tác phẩm Faust đã đề cập tới vấn đề lớn của nhân lọai: cải tạo và chinh phục thiên nhiên.

c/ Con người là như thế :ông thánh con-con qủy

    Con nguời là lọai “động vật cao cấp” và ở trong mỗi con người chúng ta đều có hai mặt của cá tính con người: “bản năng cao thượng” –ông thánh con và “bản năng thấp hèn”- con qủy. “ Bản năng thấp hèn” luôn là thách đố chính bản thân con người, nó tạo ra “cái cắc cớ” bắt con người phải suy nghĩ,đấu tranh nội tâm, nếu vượt được thì tự nâng được mình lên tầm cao mới, không thì cứ trượt dài dài trên con dốc mà không sao dừng lại được! 
    Ông thánh con ở đây chính là Faust –“bản năng cao thượng” và con qủy ở đây là những cám dỗ mời đón của qủy Mephisto-“ bản năng thấp hèn”. Faust tiêu biểu cho yếu tố tích cực ở con người, luôn tìm cách vươn lên, vượt những trở ngại đời thường để có một cuộc sống hữu ích. Mephisto tiêu biểu cho yếu tố tiêu cực ở con người, luôn trì trệ, bị chi phối bởi những phương tiện trong cuộc sống như ăn uống, sắc dục. 
    Trong Faust dân gian, Faust chết một cách bi thảm. Đó là lời răn đe cảnh tỉnh những ai không theo đúng những giáo lý của nhà thờ Thiên chúa giáo. Goethe đã đưa ra cách nhìn từ góc độ nghĩa vụ của người nghệ sĩ trong các mối tương quan giữa truyền thống và những đòi hỏi của thời đại nên Goethe đã để các thiên thần xuống đón linh hồn Faust lên Thiên đường. Qua đó Goethe khẳng định: Thiện sẽ thắng Ác, Hành động thắng sức ỳ trì trệ. Và đó chính là câu trả lời- hướng giải thóat khỏi cảnh cùng khổ của Đức. Cũng chính vì thế mà nhà thơ Heine gọi:

Faust là Kinh thánh cuộc đời của dân tộc Đức.”

    Nhà triết học Đức, Friedrich Wilhelm Joseph Schelling đánh giá Faust là “tinh túy trong sáng nhất, sâu sắc nhất của thời đại, được tạo ra từ những gì mà tòan bộ thời đại chứa đựng và cả những gì thời gian sẽ còn chứa đựng.”
    Theo Hữu Ngọc ”Không có nền văn hóa nào thuần túy. Tất cả đều có những vay mượn và cải biến nó để trở thành văn hóa bản địa. Ví dụ như Pháp có vở kịch “Le Cid” rất nổi tiếng (Pierre Corneille sáng tác năm 1636) cũng xuất phát từ một tác phẩm gốc của Tây Ban Nha. Nhưng, Corneille đã thổi tâm hồn người Pháp thế kỷ XVII vào đó và vở kịch được biết đến ở tầm cỡ thế giới với văn hóa đặc trưng Pháp chứ không còn là chất Tây Ban Nha nữa.”  Về Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hữu Ngọc nói: “Truyện Kiều” tổng hợp được hai yếu tố: văn hóa  Việt Nam và tiếp biến văn hóa Trung Quốc trở thành văn hóa Việt Nam. Điều quan trọng là người viết (Nguyễn Du) đã bắt được sự đồng cảm văn hóa và diễn tả lại nó trong khung cảnh thế thái nhân tình Việt nam:

Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

 theo cách thức được cộng đồng chấp nhận. “  Tính nhân loại trong Truyện Kiều được cảm nhận trên toàn cầu nên  Truyện Kiều đã được dịch ra tới 31 thứ tiếng trên thế giới (theo Lê Thành Khôi).  
  
    Trong văn học thế giới,  tác phẩm điển hình cho tinh thần dân tộc Italia  là  Thần khúc của Dante, Anh thì có Shakespeare  với bốn bi kịch (Hamlet : trả thù, Othello: lòng ghen tuông,  Macbeth: nỗi tham vọng, vua Lear : sự phản trắc , Tây Ban Nha có nhà văn  lang bạt kỳ hồ Cervantes với Don Quijote, Mỹ có Jack London (1876-1916)  với Tiếng gọi nơi hoang dã,  Răng nanh trắng, Đức có Goethe với Faust, Nga cò Leo Nikolajewitsch Tolstoi (1828-1910) với Chiến tranh và Hòa bình,  Pháp thì Molier là số một”, Nhật Bản có người lữ khách muôn đời Yasunari Kawabata  với Vũ nữ xứ Izu” ;  “Xứ tuyết,  Colombia có Gabriel  Garcia Marquez   với  Trăm năm cô đơn“  đại diện Ấn Độ là Rabindranath Tagore  (1861-1941) với kiệt tác Thơ dâng,  còn Việt Nam thì là Nguyễn Du với Truyện Kiều. Trong lịch sử văn chương thế giới,  hai yếu tố: văn hóa bác học và văn hóa dân gian luôn luôn đồng hành với nhau nên được người dân yêu mến.  Ta thấy điều đó trong Faust của Goethe, trong Kiều của Nguyễn Du.
Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 18.04.2014 .